Chuyên đề thực tập tốt nghiệp
====================================================
===============================
LỜI MỞ ĐẦU
Những thành tựu to lớn đạt được sau hơn 20 năm đổi mới, với những
bước tiến nhanh và dài để hội nhập với nền kinh tế Thế giới cho thấy sự chủ
động chuyển mình và chủ động hội nhập của kinh tế Việt Nam. Nhưng để có
thể tiến xa hơn nữa cần đòi hỏi sự nỗ lực của tất cả các thành phần kinh tế,
trong đó đặc biệt phải kể đến các Doanh nghiệp vừa và nhỏ.
Đó cũng là đường lối, chiến lược của Đảng và Nhà nước, nhưng không
thể phủ nhận rằng chúng ta vẫn đang rất lúng túng trong việc triển khai nó
bởi còn tồn tại rất nhiều khó khăn.Trong đó, khó khăn về vốn, về đổi mới
công nghệ và tiếp cận các dịch vụ tài chính là đáng kể nhất.
Hoạt động cho vay đối với các Doanh nghiệp vừa và nhỏ là một trong
những hoạt động cho vay chủ yếu của các Ngân hàng thương mại Việt Nam
hiện nay. Đây là một đề tài cũ mà mới. Nó cũ về lý thuyết, nhưng mới về
mặt giải pháp cụ thể trong từng điều kiện kinh tế- chính trị- xã hội của Đất
nước.
Xuất phát từ quan điểm trên và từ thực trạng của các Doanh nghiệp vừa
và nhỏ hiện nay, qua thời gian thực tập tại Ngân hàng TMCP Hàng Hải Việt
Nam – Chi nhánh MSB Cầu Giấy, em đã chọn đề tài :
“ Phát triển hoạt động cho vay đối với Doanh nghiệp vừa và nhỏ tại
Ngân hàng TMCP Hàng Hải Việt Nam” làm chuyên đề tốt nghiệp.
Kết cấu chuyên đề gồm có 3 chương:
Chương 1: Những vấn đề cơ bản về hoạt động cho vay đối với các Doanh
nghiệp vừa và nhỏ của NHTM
Chương 2 : Thực trạng hoạt động cho vay các Doanh nghiệp vừa và nhỏ
tại Ngân hàng TMCP Hàng Hải Việt Nam- Chi nhánh MSB Cầu Giấy
Chương 3: Giải pháp phát triển hoạt động cho vay các Doanh nghiệp vừa
và nhỏ tại Ngân hàng TMCP Hàng Hải Việt Nam- Chi nhánh MSB Cầu Giấy
Do hạn chế về trình độ chuyên môn, cũng như kinh nghiệm thực tiễn nên
của các DN VVN. Cùng với nó, chủ trương đẩy nhanh hội nhập quốc tế, việc
gia nhập vào Tổ chức thương mại Thế giới WTO, kết quả thu hút vốn đầu tư
nước ngoài ngày một nhiều hơn (năm 2006 đạt mức kỷ lục trên 10,2 tỷ USD
vốn FDI) và những cải cách hành chính, chống tham nhũng đã thực sự tạo đà
cho sự phát triển của các doanh nghiệp này, từng vước khẳng định vai trò và
vị trí của mình trong nền kinh tế đất nước.
1.1.2. Đặc điểm của Doanh nghiệp vừa và nhỏ Việt Nam
Trong số các DN VVN đang hoạt động hiện nay, ta dễ dàng nhận thấy
một số đặc điểm sau:
a) Vốn nhỏ
Đặc điểm nổi bật nhất của các DN VVN hiện nay là có vốn nhỏ. Qua điều
tra cho thấy, ở nước ta hiện nay bình quân một Doanh nghiệp có vốn đạt 7 tỷ
Sinh viên: Nguyễn Phúc Ngọc – NH47B
Chuyên đề thực tập tốt nghiệp
====================================================
===============================
đồng, trong đó số Doanh nghiệp có vốn dưới 1 tỷ đồng chiếm 41,8%, Doanh
nghiệp có 1 - 5 tỷ đồng tiền vốn chiếm 37,03%. Đây là nguyên nhân rất đến
các đặc điểm khác của DN VVN đồng thời cũng nguyên nhân chính dẫn đến
khó khăn lớn nhất của các DN VVN là tình trạng thiếu vốn để sản xuất. Hiện
nay trên 70% các DN VVN gặp khó khăn về tài chính.
b) Quy mô nhỏ
Dù giới hạn của DN VVN là có bình quân lao động trong năm là 300
người nhưng con số này của các DN VVN hiện nay chỉ có khoảng 32 người.
Vì vậy có thể nói các DN VVN hiện nay có quy mô rất nhỏ, dẫn theo đó là
cơ cấu tổ chức cũng rất đơn giản. Các nhân viên có thể phải đảm nhiệm
nhiều công việc cùng một lúc. Một thực tế khác nữa là trình độ cán bộ quản
lý và lao động của các doanh nghiệp này còn rất hạn chế, khả năng quản trị
điều hành thấp, số lượng chủ doanh nghiệp có trình độ cao đẳng, đại học còn
thấp. Hoạt động kinh doanh chủ yếu theo thương vụ, chạy theo phong trào
đây mới chính là thế mạnh, là lợi thế so sánh của các Doanh nghiệp này.
Bên cạnh đó, DN VVN còn có thể linh hoạt trong việc đổi mới công nghệ
và thiết bị vì yêu cầu bỏ vốn không nhiều và giảm được sự thiệt hại khi có sự
cạnh tranh phải chuyển sang kinh doanh ngành khác. Đó cũng chính là lý do
mà các DN VVN thường ưa mạo hiểm, dám chấp nhận rủi ro để mạnh dạn
đầu tư vào những ngành mới.
e) Sự ra đời của các hiệp hội
Do có vốn nhỏ, quy mô nhỏ nên tiếng nói của các DN VVN hiện nay
cũng hết sức yếu ớt và rời rạc. Vì vậy, các hiệp hội đã ra đời giúp các doanh
nghiệp vừa hợp sức lại vừa tăng tính độc lập. Vai trò hết sức quan trọng của
hiệp hội là có nhiều hoạt động hỗ trợ cho các doanh nghiệp như giúp đỡ về
đào tạo nghề; quảng bá giới thiệu doanh nghiệp, cung cấp thông tin thị
trường... trên các phương tiện thông tin đại chúng; huy động các nguồn tài
trợ quốc tế; và hỗ trợ giúp đỡ lẫn nhau trong nội bộ cộng đồng doanh
nghiệp; kiến nghị các cơ quan chức năng điều chỉnh chính sách, pháp luật
… tạo điều kiện cho DN NVV phát triển.
1.1.3. Vai trò của Doanh nghiệp vừa và nhỏ trong nền kinh tế thị
trường
Chiếm số đông trong cộng đồng doanh nghiệp Việt Nam, DN VVN đang
vươn lên trong mọi lĩnh vực và ngày càng khẳng định được vị trí, vai trò của
mình trong nền kinh tế:
a) DN VVN có vai trò to lớn trong việc thu hút nguồn vốn trong
dân cư.
Với tính chất nhỏ bé, dễ đi sâu vào các cộng đồng dân cư và số lượng vốn
cần ban đầu không nhiều, các DN VVN có vai trò rất lớn trong việc thu hút
được nguồn vốn trong dân cư vốn đang nằm phân tán và rải rác, hạn chế số
tiền nhàn rỗi, không sinh lời trong nền kinh tế, và đây thực sự là một nguồn
tài chính dồi dào và tiềm năng.
b) DN VVN đáp ứng tích cực nhu cầu tiêu dùng xã hội
Sinh viên: Nguyễn Phúc Ngọc – NH47B
sách, vào sản lượng và tạo công ăn việc làm ở địa phương.
e) DN VVN chiếm tỷ lệ cao về số lượng và khả năng thu hút lao
động và đóng góp vào thu nhập quốc dân và nguồn thu vào ngân sách.
Có đặc điểm là năng động, linh hoạt, đáp ứng được các nhu cầu đa dạng
của người tiêu dùng lại có số lượng ngày càng tăng nhanh nên khả năng
đóng góp vào thu nhập quốc dân và nguồn thu ngân sách của các DDN VVN
ngày càng tăng, nhất là khi gia nhập vào WTO thì nguồn thu từ Doanh
nghiệp Nhà nước, từ thuế xuất nhập khẩu sẽ khó được đảm bảo.
Sinh viên: Nguyễn Phúc Ngọc – NH47B
Chuyên đề thực tập tốt nghiệp
====================================================
===============================
Trong khi đó, các DN VVN có kỹ thuật sản xuất chủ yếu là nửa cơ giới
và lao động chân tay chiếm tỷ lệ khá cao. Phần lớn các Doanh nghiệp này
hoạt động trong lĩnh vực thương mại, dịch vụ, sản xuất hàng tiêu dùng, xây
dựng giao thông vận tải, chế biến nông lâm hải sản, … nên nó có khả năng
thu hút nhiều lao động, tạo nhiều công ăn việc làm cho xã hội và tăng thu
nhập, đảm bảo đời sống cho người lao động.
f) DN VVN bước đầu tham gia vào quá trình hình thành mối liên
kết giữa DN VVN và các Doanh nghiệp lớn.
Có thể nói đây là quan hệ hai chiều, ràng buộc và hỗ trợ nhau: các doanh
nghiệp lớn đảm bảo vững chắc cho các DN VVN về thị trường, tài chính,
công nghệ, tiêu chuẩn kỹ thuật và kinh nghiệm quản lý. Ngược lại, DN VVN
đảm bảo cho các doanh nghiệp lớn trong việc cung ứng nguyên vật liệu, hợp
đồng phụ và thành lập mạng lưới vệ tinh phân phối sản phẩm.
DN VVN hiện nay còn tồn tại nhiều hạn chế, tuy nhiên vai trò của chúng
đối với sự phát triển của nền kinh tế là không thể phủ nhận. Cùng với các
doanh nghiệp lớn, các DN VVN cùng góp phần tạo ra sự cân đối cho nền
kinh tế. Một nền kinh tế nếu chỉ toàn các DN VVN thì sẽ không thể tích tụ
và tập trung vốn để phát triển cơ sở hạ tầng, đổi mới công nghệ. Trong khi
các tổ chức tín dụng giao cho khách hàng sử dụng một khoản tiền để sử dụng
vào mục đích và thời gian nhất định theo thỏa thuận với nguyên tắc có hoàn
trả cả gốc và lãi ( Mục 2 – Điều 3 – 1627/2001/QĐ-NHNN)
Cho vay DN VVN của NH TM là các NH TM giao cho các doanh
nghiệp vừa và nhỏ sử dụng một khoản tiền để sử dụng vào mục đích và thời
gian nhất định theo thỏa thuận với nguyên tắc có hoàn trả cả gốc và lãi.
Về tính chất nghiệp vụ, cho vay DN VVN cũng giống như các hoạt động
truyền thống khác, phải thực hiện đầy đủ và chặt chẽ qui trình cho vay cũng
như đảm bảo các nguyên tắc và dựa trên chính sách cho vay của NHTM.
Tuy nhiên đối tượng vay vốn ở đây là các DN VVN, có những đặc điểm
khác với các đối tượng vay vốn khác, đó là tuy có tư cách pháp nhân, nhưng
vốn tự có lại ít, không đủ tài sản thế chấp nên khó vay được vốn, không đủ
vốn để mở rộng sản xuất kinh doanh, không có nhiều lợi nhuận và tài sản vì
thế cũng chẳng có nhiều tài sản thế chấp. Điều này đã tạo nên một cái vòng
luẩn quẩn trong việc vay vốn Ngân hàng cho các Doanh nghiệp này, trong
khi đó tình hình tài chính không minh bạch và hạn chế về việc nắm bắt thông
tin cũng như tiếp xúc với các dịch vụ của Ngân hàng, đã tạo cho các Doanh
nghiệp rất nhiều khó khăn trong việc tiếp cận vốn của các NH TM.
Mặc dù vậy, do có một vai trò rất lớn và ngày càng được khẳng định
trong nền kinh tế, trong khi số lượng lớn, ngành nghề đa dạng, nhu cầu về
vốn lại rất tiềm năng, nên các DN VVN là nhóm khách hàng cần được sự
quan tâm, chú trọng của các NH TM.
1.2.2 Phân loại
Để đáp ứng nhu cầu khách hàng một cách tốt nhất, Ngân hàng đưa ra rất
nhiều sản phẩm cho vay khác nhau tương ứng với sự đa dạng trong mục đích
Sinh viên: Nguyễn Phúc Ngọc – NH47B
Chuyên đề thực tập tốt nghiệp
====================================================
===============================
vay vốn, sử dụng vốn và hoàn trả vốn của khách hàng, giúp họ có thể dễ
các khoản vay trung dài hạn. Còn đối với cá nhân và các hộ gia đình, các
khoản vay tiêu dùng đa phần là các khoản vay trung dài hạn. Phân chia các
khoản vay theo thời hạn giúp Ngân hàng có thể chủ động trong việc huy
Sinh viên: Nguyễn Phúc Ngọc – NH47B
Chuyên đề thực tập tốt nghiệp
====================================================
===============================
động, giải ngân, và thu hồi vốn và lãi vay, đảm bảo được tính thanh khoản
trong khi vẫn có thể đem lại khả năng sinh lời cao nhất.
Sinh viên: Nguyễn Phúc Ngọc – NH47B
Chuyên đề thực tập tốt nghiệp
====================================================
===============================
d) Phương thức vay:
Do mục đích vay vốn và thời hạn vay vốn của các đối tượng vay rất đa
dạng, do vậy Ngân hàng cần phải đưa ra các sản phẩm cho vay có quá trình
giải ngân, thu hồi lãi và gốc hết sức linh hoạt, tạo điều kiện cho khách hàng
sử dụng đồng vốn một cách an toàn nhất và hiệu quả nhất. Người tiêu dùng
thường sử dụng hình thức thấu chi thông qua thẻ tín dụng hoặc cho vay trả
góp để mua các tài sản có giá trị lớn như mua bất động sản và ô tô. Các
doanh nghiệp tùy vào mục đích vay vốn áp dụng các phương thức khác
nhau: Nếu doanh nghiệp không có nhu cầu vay thường xuyên thì có thế vay
trực tiếp từng lần, mỗi lần vay phải làm đơn và trình ngân hàng phương án
sử dụng vốn vay. Nếu doanh nghiệp là khách hàng vay mượn thường xuyên,
vốn vay tham gia thường xuyên vào quá trình sản xuất kinh doanh lại thường
áp dụng phương thức cho vay theo hạn mức. Trong kì khách hàng có thể vay
trả nhiều lần song dư nợ không được vượt quá hạn mức tín dụng.
e. Tài sản đảm bảo:
Trong nhiều trường hợp, ngân hàng luôn yêu cầu khách hàng phải có tài
sản đảm bảo khi xin vay. Lý do là khách hàng luôn phải đối đầu với rủi ro