Tăng cường hoạt động cho vay đối với doanh nghiệp vừa và nhỏ tại Ngân hàng công thương Bãi Cháy - Pdf 10

Chuyên đề thực tập GVHD: PGS.TS Phạm Quang Trung
LỜI MỞ ĐẦU
Doanh nghiệp vừa và nhỏ đóng vai trò quan trọng trong nền kinh tế,
không chỉ nhiều hơn về số lượng mà còn cho thấy tính hiệu quả, linh hoạt
trong hoạt động sản xuất kinh doanh. Hiện nay với gần 200.000 DNV&N,
chiếm gần 90% số doanh nghiệp cả nước đã đóng góp khoảng 27% GDP,
31% sản lượng công nghiệp, tới 67% vào nguồn thu ngân sách từ thuế và tạo
việc làm cho hơn 26% tổng số lao động của cả nước, DNV&N đã càng chứng
tỏ lợi thế của mình trong nền kinh tế năng động này. DNV&N tạo ra khối
lượng lớn hàng hóa và dịch vụ, tạo sự cạnh tranh lành mạnh, góp phần tập
trung vốn, giảm tỷ lệ thất nghiệp trong xã hội, góp phần chuyển dịch cơ cấu
kinh tế, đặc biệt là khu vực nông nghiệp nông thôn…., giải quyết nhu cầu vốn
chủ yếu dựa vào thị trường tài chính phi chính thức. Chính các lợi thế đó, tín
dụng là một trong những kênh quan trọng, là van điều phối vốn chủ yếu cho
các doanh nghiệp. Theo định hướng của Chính phủ, cả nước sẽ có khoảng
500.000 DNV&N và ước tính 80% lượng vốn cung ứng cho DNV&N từ kênh
ngân hàng.
Xuất phát từ nhận thức trên, nhận thấy được tầm quan trọng của vấn đề
cùng với việc nghiên cứu tình hình hoạt động cho vay đối với DNV&N tại
Ngân hàng Công thương Bãi Cháy, em xin chọn đề tài “Tăng cường hoạt
động cho vay đối với doanh nghiệp vừa và nhỏ tại Ngân hàng công thương
Bãi Cháy” cho chuyên đề thực tập tốt nghiệp của mình với mong muốn áp
dụng những kiến thức đã học nhằm đưa ra một số giải pháp tăng cường hoạt
động cho vay đối với DNV&N tại ngân hàng. Chuyên đề thực tập tốt nghiệp
của em gồm ba chương:
Chương 1: Hoạt động cho vay đối với doanh nghiệp vừa và nhỏ của
Ngân hàng thương mại
Nguyễn Thị Nga Lớp: Ngân hàng 47A
1
Chuyên đề thực tập GVHD: PGS.TS Phạm Quang Trung
Chương 2: Thực trạng hoạt động cho vay đối với doanh nghiệp vừa và

HOẠT ĐỘNG CHO VAY ĐỐI VỚI DOANH NGHIỆP VỪA
VÀ NHỎ CỦA NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI
1.1. HOẠT ĐỘNG CHO VAY CỦA NGÂN HÀNG
1.1.1. Khái quát về tín dụng ngân hàng
Danh từ tín dụng được xuất phát từ gốc Latinh Credium có nghĩa là sự
tin tưởng, tín nhiệm lẫn nhau. Theo Mac, “tín dụng là sự vận động của tư bản
cho vay” sự chuyển nhượng tạm thời một lượng giá trị dư thừa tạm thời từ
người sở hữu sang người sử dụng sau một thời gian nhất định thu về một
lượng giá trị lớn hơn giá trị ban đầu. Điều đó có nghĩa là bản chất tín dụng là
sự bóc lột của tư bản cho vay. Theo luật của các tổ chức tín dụng Việt nam
“Tín dụng là một giao dịch đảm bảo về tài sản (tiền hoặc hàng hóa) giữa bên
cho vay (ngân hàng và các định chế tài chính khác) và bên đi vay (cá nhân,
doanh nghiệp và các chủ thể khác). Trong đó, bên cho vay chuyển giao tài sản
cho bên đi vay sử dụng trong một thời gian nhất định theo thỏa thuận, bên đi
vay có trách nhiệm hoàn trả vô điều kiện cả gốc lẫn lãi đến khi kỳ hạn thanh
toán.
Tín dụng là hoạt động quan trọng nhất của ngân hàng nói riêng và của
các trung gian tài chính nói chung, chiếm tỷ trọng cao nhất trong tổng tài sản,
tạo thu nhập từ lãi lớn nhất và cũng là hoạt động rủi ro cao nhất. Tín dụng là
quan hệ vay mượn, gồm cả cho vay và đi vay. Tuy nhiên khi gắn với chủ thể
nhất định như ngân hàng, hoặc các trung gian tài chính khác, ví dụ như tín
dụng ngân hàng thì chỉ bao hàm nghĩa là ngân hàng cho vay.
Tóm lại, tín dụng ngân hàng có thể hiểu cơ bản là việc ngân hàng tin
tưởng nhường quyền sử dụng vốn trong khoảng thời gian đã thỏa thuận và kết
Nguyễn Thị Nga Lớp: Ngân hàng 47A
4
Chuyên đề thực tập GVHD: PGS.TS Phạm Quang Trung
thúc thời gian đó người sử dụng vốn phải chấp nhận hoàn trả vô điều kiện cả
gốc lẫn lãi.
Hoạt động tín dụng là hoạt động sinh lời lớn nhất song rủi ro cao nhất

động có hiệu quả thì luôn sử dụng công cụ đòn bẩy tài chính một cách có hiệu
quả, sử dụng vốn tín dụng một cách hợp lý với ưu điểm là chi phí vốn khá rẻ
so với các nguồn khác.
Tín dụng ngân hàng đóng vai trò quan trọng trong việc lưu thông và ổn
định tiền tệ. Với tư cách điều hòa lượng cung cầu về vốn cho nền kinh tế, là
kênh dẫn vốn từ nơi thừa vốn sang nơi thiếu vốn, thông qua ngân hàng, người
thừa vốn có được một phần thu nhập từ lãi do việc chuyển nhượng quyền sử
dụng vốn trong một thời gian nhất định, người thiếu vốn có được một khoản
vốn thông qua việc cấp tín dụng và phải trả phí để có thể sử dụng nguồn vốn
đó. Ngoài ra, ngân hàng thương cũng là kênh tạo tiền quan trọng trong nền
kinh tế.
Tín dụng ngân hàng là công cụ hỗ trợ đắc lực cho nền kinh tế kém phát
triển và thúc đẩy các ngành kinh tế mũi nhọn phát triển. Thông qua tín dụng
ngân hàng, ngân hàng nhà nước có thể thực hiện các chính sách tiền tệ, chính
sách tài khóa, chính sách lãi suất hoặc các ưu đãi hỗ trợ khác cho các ngành
kinh tế này.
Tín dụng ngân hàng còn có chức năng kiểm soát nền kinh tế. Xuất phát
từ chức năng phân phối tiền tệ, tín dụng ngân hàng có thể kiểm soát được hoạt
động của nền kinh tế thông qua quá trình sử dụng các nguồn huy động để cấp
tín dụng. Thông qua nghiệp vụ huy động vốn, ngân hàng có thể đánh giá tình
hình tiêu thụ sản phẩm, tình hình sản xuất kinh doanh cũng như khả năng chi
trả của khách hàng thông qua biến động số dư tiền gửi của khách hàng. Ngoài
ra, ngân hàng thường xuyên phân tích khả năng tài chính của khách hàng, có
biện pháp và kế hoạch giám sát hoạt động sản xuất kinh doanh của khách
Nguyễn Thị Nga Lớp: Ngân hàng 47A
6
Chuyên đề thực tập GVHD: PGS.TS Phạm Quang Trung
hàng và theo dõi tình hình sử dụng vốn vay, đóng góp ý kiến để có sự điều
chỉnh kịp thời khi cần thiết.
Với xu thế toàn cầu hóa và quốc tế hóa, tín dụng ngân hàng còn tham gia

khách hàng sử dụng uy tín của mình để thu lợi.
Cho thuê là việc ngân hàng bỏ tiền mua tài sản để cho khách hàng thuê
theo những thỏa thuận nhất định. Sau một thời gian nhất định, khách hàng
phải trả cả gốc lẫn lãi cho ngân hàng.
1.1.3.2. Phân loại theo thời gian cho vay
Phân loại tín dụng theo thời gian có ý nghĩa quan trọng dối với ngân
hàng vì thời gian liên quan mật thiết đến tính an toàn và khả năng sinh lợi của
tín dụng cũng như khả năng trả nợ của khách hàng.
- Cho vay ngắn hạn: Là loại cho vay có thời hạn dưới 12 tháng.
- Cho vay trung hạn: Là loại cho vay có thời hạn từ 12 tháng đến 5 năm.
- Cho vay dài hạn: Là loại cho vay có thời hạn trên 5 năm.
1.1.3.3. Phân loại theo tài sản bảo đảm
Tài sản đảm bảo các khoản tín dụng cho phép ngân hàng có được nguồn
nợ thứ hai bằng cách bán các tài sản đó khi nguồn thu nợ thứ nhất không có
hoặc không đủ.
- Cho vay có bảo đảm bằng uy tín của khách hàng, có bảo đảm bằng thế
chấp, cầm cố tài sản. Cam kết bảo đảm là cam kết của người nhận tín dụng về
việc dùng tài sản của mình đang sở hữu hoặc sử dụng, hoặc khả năng trả nợ
của người thứ ba để trả nợ cho ngân hàng.
- Cho vay không cần tài sản đảm bảo có thể cấp cho các khách hàng có
uy tín, thường là khách hàng làm ăn thường xuyên có lãi, có tình hình tài
chính vững mạnh, ít xáy ra tình trạng nợ nần, hoặc món vay tương đối nhỏ so
với vốn của người vay.
Nguyễn Thị Nga Lớp: Ngân hàng 47A
8
Chuyên đề thực tập GVHD: PGS.TS Phạm Quang Trung
1.1.3.4. Phân loại theo rủi ro
Phân loại tín dụng theo rủi ro giúp ngân hàng thường xuyên đánh giá lại
tính an toàn của các khoản tín dụng, trích lập dự phòng rủi ro, tổn thất kịp
thời.

nợ. Nghiệp vụ cho vay từng lần tương đối đơn giản. Mỗi món vay sẽ được
tách biệt nhau thành từng các hồ sơ khác nhau.
1.2.1.3. Cho vay theo hạn mức
Cho vay theo hạn mức là nghiệp vụ tín dụng mà ngân hàng thỏa thuận
cấp cho khách hàng hạn mức tín dụng. Hạn mức tín dụng có thể cấp cho cả kì
hoặc cuối kì, và được cấp trên cơ sở kế hoạch sản xuất kinh doanh, nhu cầu
vốn và nhu cầu vay vốn của khách hàng. Trong kì khách hàng có thể thực
hiện vay trả nhiều lần,song số dư không được vượt quá hạn mức tín dụng.
Đây là hình thức cho vay thuận tiện cho những khách hàng vay mượn thường
xuyên vào quá trình sản xuất kinh doanh. Ngân hàng không xác định trước kì
hạn nợ và thời hạn tín dụng. Khi khách hàng có thu nhập thì ngân hàng sẽ thu
nợ, tạo chủ động quản lý ngân quỹ cho khách hàng. Tuy nhiên, các lần vay
của khách hàng thường không tách biệt thành các kì hạn nợ cụ thể nên ngân
hàng khó kiểm soát hiệu quả sử dụng từng lần vay. Ngân hàng chỉ phát hiện
vấn đề khi khách hàng nộp báo cáo tài chính và dư nợ lâu không giảm sút.
1.2.1.4. Cho vay luân chuyển
Cho vay luân chuyển là nghiệp vụ cho vay dựa trên luân chuyển của
hàng hóa. Khi doanh nghiệp thiếu vốn, ngân hàng sẽ cho vay để mua hàng và
sẽ thu nợ khi doanh nghiệp bán hàng. Phương thức vay, hạn mức tín dụng,
các nguồn cung cấp hàng hóa và khả năng tiêu thụ là do sự thỏa thuận giữa
ngân hàng và khách hàng. Khi vay, khách hàng chỉ cần gửi các hóa đơn
chứng từ nhập hàng và số tiền cần vay. Ngân hàng cho vay và trả tiền cho
Nguyễn Thị Nga Lớp: Ngân hàng 47A
10
Chuyên đề thực tập GVHD: PGS.TS Phạm Quang Trung
người bán. Ngân hàng sẽ cho vay theo tỷ lệ nhất định tùy theo khối lượng và
chất lượng quan hệ nợ nần của người vay.
Cho vay luân chuyển thường áp dụng đối với các doanh nghiệp có chu kì
tiêu thụ ngắn ngày, có quan hệ vay – trả thường xuyên với ngân hàng. Đây là
hình thức cho vay thuận tiện cho các khách hàng. Thủ tục vay cũng đơn giản,

chức trung gian cũng lợi dụng vị thế của mình và nếu ngân hàng không kiểm
soát tốt sẽ tăng lãi suất cho vay lại, hoặc giữ lấy số tiền của các thành viên
khác cho riêng mình. Các nhà bán lẻ có thể lợi dụng để bán hàng kém chất
lượng hoặc với giá đắt cho người vay vốn.
1.3. ĐẶC ĐIỂM CỦA DOANH NGHIỆP VỪA VÀ NHỎ
1.3.1. Khái niệm
Khái niệm DNV&N hiện nay ở các nước trên thế giới chỉ mang tính chất
tương đối, nó thay đổi theo từng giai đoạn phát triển kinh tế xã hội từng nước.
Ở Việt Nam, để hỗ trợ cho các DNV&N, một số cơ quan nhà nước, một số tổ
chức đã đưa ra nhiều tiêu thức phân loại DNV&N.
Ngày 20/6/1998 tại công văn số 681/CP-KTN của Chính phủ đã tạm thời
quy định thống nhất tiêu chí xác định DNV&N là doanh nghiệp có vốn điều lệ
dưới 5 tỷ đồng và có số lao động bình quân hàng năm dưới 200 người. Công
văn nêu rõ các bộ, ngành, địa phương có thể căn cứ vào tình hình cụ thể mà
có thể áp dụng cả hai hoặc một trong hai tiêu thức.
Theo Nghị định 90/2001-NĐCP của Chính phủ: DNV&N là cở sở sản
xuất kinh doanh độc lập, đã đăng ký kinh doanh theo pháp luật hiện hành, có
vốn đăng ký không quá 10 tỷ đồng hoặc số lao động trung bình hàng năm
không quá 300 người.
Theo NHCT Việt Nam thì DNV&N là doanh nghiệp có dưới 500 lao
động, có vốn cố định nhỏ hơn 10 tỷ đồng, có vốn lưu động nhỏ hơn 8 tỷ đồng
Nguyễn Thị Nga Lớp: Ngân hàng 47A
12
Chuyên đề thực tập GVHD: PGS.TS Phạm Quang Trung
và doanh thu hàng tháng nhỏ hơn 20 tỷ đồng, sự xác định nhằm phân loại đối
tượng vay vốn và số vốn cho vay đối với các doanh nghiệp.
Với những mục đích khác nhau và vào những thời điểm khác nhau nên
việc đưa ra những tiêu thức để phân loại, xác định DNV&N của các tổ chức,
cơ quan nhà nước và các cá nhân cũng khác nhau, mang tính ước lệ. Bản thân
các tiêu chí đó chưa đủ để xác định thế nào là doanh nghiệp vừa và nhỏ ở Việt

của mình, các DNV&N cũng sẽ tạo sức ép cạnh tranh thậm chí với cả các
công ty lớn, các tập đoàn xuyên quốc gia. Đồng thời nhiều DNV&N đóng vai
trò là vệ tinh cho các doanh nghiệp lớn, thúc đẩy quá trình chuyên môn hóa
và phân công lao động trong sản xuất làm tăng hiệu quả của chính các
DNV&N cũng như các công ty hợp tác.
1.3.2.3. Tạo ra nhiều việc làm mới, giảm bớt áp lực về việc làm và thất nghiệp.
Hiện nay, do tỷ lệ dân số cao trong những năm trước đây, hàng năm Việt
Nam có khoảng 1,4 triệu người gia nhập vào lực lượng lao động. Vấn đề giải
quyết việc làm cho những người này là rất cấp thiết. Bên cạnh đó, khu vực
doanh nghiệp nhà nước hiện đang thực hiện sắp xếp lại nên không những
không thu hút thêm lao động mà còn tăng thêm số lao động dôi dư. Khu vực
đầu tư nước ngoài mỗi năm cũng chỉ tạo ra khoảng 30.000 chổ làm mới, một
tỷ lệ không đáng kể. Như vậy, phần lớn số người tham gia lực lượng lao động
này trông chờ vào khu vực nông thôn và khu vực DNV&N.
Các DNV&N đã tạo nhiều việc làm mới với tốc độ tăng trưởng cao.
Nếu không kể hộ kinh doanh cá thể thì khu vực DNV&N chiếm 7% lực lượng
lao động trong các ngành kinh tế, hay 20% lực lượng lao động phi nông
nghiệp, hoặc 85,2% số lao động trong khu vực doanh nghiệp. Nếu kể cả hộ
kinh doanh cá thể thì khu vực DNV&N chiếm khoảng 19% lực lượng lao
động làm việc trong tất cả các ngành kinh tế (nguồn: xây dựng chiến lược hỗ
Nguyễn Thị Nga Lớp: Ngân hàng 47A
14
Chuyên đề thực tập GVHD: PGS.TS Phạm Quang Trung
trợ phát triển DNV&N ở Việt Nam đến năm 2010, Bộ kế Hoạch Đầu Tư, năm
2006). Các doanh nghiệp thuộc khu vực kinh tế tư nhân, chủ yếu là các
DNV&N có mức tăng trưởng cao về lao động trong những năm qua. Số lao
động tại khu vực này đã tăng 2,36 lần trong năm 2004 so với thời điểm năm
1997, so với 1,06 và 1,35 lần của các khu vực doanh nghiệp nhà nước và hộ
kinh doanh cá thể.
1.3.2.4. DNV&N có vai trò quan trọng trong việc phát huy tiềm năng huy

1.3.2.6. DNV&N là tiền đề tạo môi trường văn hóa kinh doanh mang
tính kinh tế thị trường, tạo ra những nhà kinh doanh giỏi.
Chúng ta đã ở trong giai đoạn kinh tế kế hoạch hóa tập trung khá lâu.
Môi trường văn hóa kinh doanh mang tính thị trường gần như không tồn tại
hoặc không có cơ hội phát triển, đội ngũ doanh nhân giỏi, có khả năng điều
hành các doanh nghiệp trong điều kiện quốc tế hóa và hội nhập kinh tế quốc
tế rất hạn chế. Vì vậy, trong môi trường kinh tế năng động, việc tạo ra môi
trường văn hoá kinh doanh mang tính thị trường cũng như một đội ngũ kinh
doanh giỏi là điều kiện cực kỳ quan trọng để Việt Nam có thể hội nhập thành
công. Đó cũng là yêu cầu cần thiết của xã hội trong điều kiện kinh tế ngày nay.
Nguyễn Thị Nga Lớp: Ngân hàng 47A
16
Chuyên đề thực tập GVHD: PGS.TS Phạm Quang Trung
Chương 2
THỰC TRẠNG HOẠT ĐỘNG CHO VAY ĐỐI VỚI DOANH
NGHIỆP VỪA VÀ NHỎ TẠI NHCT BÃI CHÁY
2.1. KHÁI QUÁT VỀ NHCT BÃI CHÁY
2.1.1. Lịch sử hình thành
Chi nhánh Ngân hàng công thương Bãi Cháy được thành lập năm 1990
trên cơ sở nâng cấp phòng Giao dịch Bãi Cháy – Ngân hàng công thương
Quảng Ninh. Khi mới thành lập là chi nhánh cấp hai hạch tóan trực thuộc
Ngân hàng công thương Việt Nam. Qua 15 năm xây dựng và trưởng thành,
xét về quy mô cũng như năng lực phát triển, nhằm tạo tiền đề cho sự phát
triển tại một khu vực kinh tế năng động, từ ngày 01/01/2006, chi nhánh Ngân
hàng Công thương Bãi Cháy được nâng cấp thành chi nhánh cấp một hạch
toán phụ thuộc Ngân hàng công thương Việt Nam.
Là Ngân hàng đặt trụ sở đầu tiên trên địa bàn tỉnh Quảng Ninh, đến ngày
31/12/2008, Ngân hàng công thương Bãi Cháy đã hoạt động và phát triển
cùng với đội ngũ cán bộ công nhân viên chức là 52 người. Với vị trí thuận lợi
nằm ở vị trí trung tâm Bãi Cháy – khu kinh tế năng động của vùng với các

khách hàng tham gia và tạo sự uy tín đối với khách hàng, đặc biệt là tổ chức
dân cư. Khách hàng chủ yếu của Ngân hàng chủ yếu là công ty vừa và nhỏ,
doanh nghiệp tư nhân, xí nghiệp thương mại dịch vụ, số lượng lên tới hai
mươi ba doanh nghiệp.
2.1.2.1. Đặc điểm khách hàng
Chi nhánh NHCT Bãi Cháy đã kinh doanh hoạt động với hai mươi mốt
doanh nghiệp trên địa bàn và kết hợp cho vay Việt Đức - chương trình tín
dụng hợp tác của Đức - với một số doanh nghiệp vừa và nhỏ. Hầu hết các
doanh nghiệp đều kinh doanh có lãi, thành lập được từ năm năm trở lên và
Nguyễn Thị Nga Lớp: Ngân hàng 47A
18
Chuyên đề thực tập GVHD: PGS.TS Phạm Quang Trung
hoạt động ở hầu hết các ngành nghề khác nhau như vận tải, nhà hàng, cảng
biển, du lịch, khai thác than, đóng tàu, gốm, san lấp mặt bằng… Về quan hệ
tiền vay, các doanh nghiệp đều có quan hệ tín dụng lành mạnh, không có nợ
xấu, nợ quá hạn hay lãi treo, luôn thanh toán đúng hạn, không có hiện tượng
chây ì. Về quan hệ tiền gửi, nhiều doanh nghiệp đã mở tài khoản VND và
USD tại NHCT Bãi Cháy với số tiền lớn.
2.1.2.2. Đặc điểm thị trường hoạt động
Thành phố Hạ Long có 20 đơn vị hành chính, gồm 18 phường và 2 xã,
với dân số hơn 370.000 người. Thành phố chia làm hai khu vực rõ rệt là khu
vực phía Đông và khu vực phía Tây, cách nhau bởi eo biển Cửa Lục rộng 420
mét, nối hai bờ là cầu Bãi Cháy.
Phía Đông thành phố là trung tâm chính trị và công nghiệp than của
Tỉnh. Ở đây có trụ sở các tổ chức chính trị, các cơ quan công quyền như Tỉnh
uỷ, Thành uỷ, Hội đồng nhân dân và Uỷ ban nhân dân các cấp, các sở, ban,
ngành chức năng, Mặt trận Tổ quốc và các đoàn thể quần chúng. Cũng ở đây,
có các mỏ than lớn của tỉnh như Hà Tu, Hà Lầm, Tân Lập, Núi Béo, mỗi năm
sản xuất khoảng sáu triệu tấn than.
Phía Tây thành phố là trung tâm du lịch dịch vụ, đồng thời cũng là khu

2 NH Đầu tư và phát triển Bãi Cháy
169.70 9.37 409.60 25.35
3 NH Nông nghiệp Bãi Cháy
124.20 6.86 194.70 12.05
4 NH Ngoại thương Bãi Cháy
371.40 20.51 366.70 22.69
5 NH đồng bằng sông Cửu Long
36.90 2.04 5.70 0.35
6 NHCP hàng hải Bãi Cháy
482.30 26.63 185.60 11.49
7 NH Chính sách xã hội Bãi Cháy
1.40 0.08 48.30 2.99
8 NHCP Quốc tế
43.00 2.37 6.10 0.38
9 NHCP sài Gòn Công thương
11.90 0.66 - 0.00
Cộng
1,810.8 100 1,615.9 100
(Nguồn: Số liệu tổng hợp từ NHNN đến 31/12/2008)
Dự kiến trong thời gian tới sẽ có thêm nhiều ngân hàng mở chi nhánh
(Phòng giao dịch ) trên địa bàn. Trước tình hình hoạt động cạnh tranh giữa
các chi nhánh, ngân hàng đã vận dụng linh hoạt các chính sách tín dụng, gặp
gỡ và trao đổi thường xuyên với các khách hàng, từ đó khơi tăng nguồn vốn
tín dụng đáng kể. Trong công tác tín dụng, chi nhánh thường xuyên phân tích
đánh giá thực trạng khách hàng để cấp tín dụng, kiên quyết không hạn thấp
điều kiện tín dụng.
2.1.3. Mô hình tổ chức
Tổng số cán bộ công nhân viên của chi nhánh đến 31/12/2008 là 52
người với tuổi đời bình quân từ 40 tuổi, trong đó có 30 nữ chiếm tỷ lệ 58%,
Nguyễn Thị Nga Lớp: Ngân hàng 47A

kiệm
Giếng
Đáy
Phòng Kế
toán
Phòng
khách
hàng DN
Phòng
khách
hàng cá
nhân
Phòng tổ
chức
hành
chính
Phòng
tiền tệ
ngân quỹ
2 phó Giám đốc
Giám đốc
Chuyên đề thực tập GVHD: PGS.TS Phạm Quang Trung
2.2. ĐÁNH GIÁ TÌNH HÌNH HOẠT ĐỘNG CỦA NHCT BÃI CHÁY
Trong ba năm vừa qua, Ngân hàng công thương Bãi Cháy đã hoạt động
đạt được những kết quả đáng chú ý. Năm 2008, Ngân hàng công thương Việt
Nam tiến hành cổ phần hóa trong bối cảnh thị trường chứng khoán có những
biến động khó lường, của lãi suất ngân hàng, tỷ giá ngoại tệ, giá vàng, vật tư,
nhiên liệu,… và chính quyền địa phương đã có bước chấn chỉnh hoạt động
kinh doanh và khai thác than đã ảnh hưởng nhất định tới kinh tế xã hội và
hoạt động của ngân hàng trên địa bàn.

CỦA NHCT BÃI CHÁY TỪ NĂM 2006- 2008
Đơn vị: Triệu đồng
Chỉ tiêu Năm 2006 Năm 2007 Năm 2008
Tiền gửi TCKT 30.160 49.843 124.629
Tiền gửi dân cư 273.869 344.406 390.781
Tổng 304.029 394.249 515.410
(Nguồn: Ngân hàng Công thương Bãi Cháy)
0
100
200
300
400
500
600
Năm 2006 Năm 2007 Năm 2008
Tiền gửi TCKT
Tiền gửi dân cư
Tổng

Biểu 2.1: Tình hình huy động vốn của NHCT Bãi Cháy
Nguyễn Thị Nga Lớp: Ngân hàng 47A
23
Chuyên đề thực tập GVHD: PGS.TS Phạm Quang Trung
Mặc dù năm 2008, sự cạnh tranh trên lĩnh vực nguồn vốn hết sức gay
gắt, các TCTD luôn “xé rào” để hình thành mặt bằng lãi suất huy động mới;
đồng thời sử dụng nhiều hình thức tiếp thị đa dạng, phong phú, đưa ra các sản
phẩm dịch vụ tiền gửi đa dạng linh hoạt như kỳ hạn qua đêm, tuần, tháng...
Trước tình hình đó, Ban Giám đốc đã đưa ra các biện pháp phản ứng nhanh
nhạy, kịp thời bảo đảm tính cạnh tranh. Kết quả là nguồn vốn của chi nhánh
không những không bị sụt giảm mà còn có sự tăng trưởng đáng kể. Tổng

động huy động vốn của ngân hàng. Lãi suất huy động vốn bình quân của chi
nhánh năm 2007 là 6%/tháng, năm 2006 là 0,59%/tháng.
Để đạt được kết quả trên đây, trong bối cảnh có nhiều biến động và cạnh
tranh gay gắt, Ban Giám đốc đã chỉ đạo thành lập tổ theo dõi biến động lãi
suất huy động để đưa ra mức lãi suất huy động hợp lý nhằm tránh tình trạng
khách hàng rút tiền đi gửi tổ chức tín dụng khác đồng thời tích cực khai thác
tiếp thị khách hàng mới. Trong năm qua, việc thực hiện khai thác nguồn vốn
của các phòng chức năng là rất có hiệu quả., đặc biệt là huy động được số
lượng lớn nguồn USD do khách hàng ứng trước của công ty đóng tàu Hạ
Long giúp chi nhánh giảm đáng kể chi phí nhận vốn ngoại tệ từ Trụ sở chính.
2.2.2. Về hoạt động cho vay và đầu tư
Đến 31/12/2008, tổng dư nợ cho vay nền kinh tế đạt 399.222 triệu đồng,
tăng 164.924 triệu đồng ( tốc độ tăng 70,2%) so với 31/12/2007, đạt 104% kế
hoạch NHCT Việt Nam giao (kế hoạch trung ương giao 384 tỷ đồng). Dư nợ
cho vay bình quân năm 2008 đạt 335.964 triệu đồng tăng 25,55% so với bình
quân năm 2007. Dư nợ cho vay bình quân năm 2007 đạt 261.352 triệu đồng,
tăng 19,87% so với bình quân năm 2006.
- Theo thời hạn cho vay:
Nguyễn Thị Nga Lớp: Ngân hàng 47A
25

Trích đoạn Điều kiện vay vốn có bảo đảm tiền vay bằng tài sản cầm cố Điều kiện vay vốn không có bảo đảm bằng tài sản Quy trình tín dụng Giới thiệu chung Quy định chung
Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status