MỞ ĐẦU
Ngày nay hoạt động ngân hàng đang không ngừng phát triển. Sự phát
triển đó co thể nhận thấy trên tất cả các phương diện, từ sự ra đời của các sản
phẩm dịch vụ mới cho tới sự xuất hiện của các tập đoàn ngân hàng có quy mô
toàn cầu được tạo ra từ làn song sáp nhập, hợp nhất. Tất cả nhưng diễn biến
đó xảy ra nhanh hơn nhưng gì mà chúng ta biết. Mà nguồn lực tài chính từ các
ngân hàng là một trong những yếu tố quan trọng nhất đảm bảo sự tồn tại và
phát triển của doanh nghiệp đặc biệt đối với các doanh nghiệp vừa và nhỏ
(DNVVN). Nguồn tài chính giúp các DNVVN nắm bắt được các cơ hội đầu
tư mở rộng sản xuất kinh doanh, đổi mới công nghệ và nâng cao năng lực
cạnh tranh. Nhưng việc tiếp cận các nguồn tài chính là một trở ngại lớn cho
các DNVVN hiện nay bởi các DNVVN có quy mô nhỏ, vốn chủ sở hữu thấp,
năng lực tài chính chưa cao, thiếu tài sản thế chấp, khả năng xây dựng các dự
án có tính khả thi còn yếu, số liệu thông tin kế toán chưa đáng tin cậy…nên
dưới con mắt của các nhà Ngân hàng, các DNVVN là những khách hàng có
độ rủi ro cao. Tuy nhiên, các DNVVN lại được đánh giá là đối tượng khách
hàng có tiềm năng lớn, trong những năm gần đây nhiều Ngân hàng thương
mại (NHTM) đã không ngừng hoàn thiện và cung ứng nhiều sản phẩm dịch
vụ dành riêng cho đối tượng khách hàng này. Việc hướng các sản phẩm dịch
vụ vào DNVVN đặc biệt là các sản phẩm cho vay Doanh nghiệp đã đem lại
cho các NHTM doanh số hoạt động không nhỏ, góp phần nâng cao vị thế
cạnh tranh của hệ thống NHTM trên thị trường tài chính. . Do vậy: “Nâng cao
hoạt đông cho vay đối với DNVVN tại Ngân hàng TMCP Sài gòn chi nhánh
Hà nội ”đã được em chọn làm đề tài nghiên cứu .Với kiến thức và nghiên cứu có
hạn nên không thể tránh khỏi thiếu sót, em mong muốn nhận được những ý kiến
1
phê bình, đóng góp quý báu của các thầy cô nhằm giúp em nâng cao trình độ
hiểu biết về lý luận cũng như thực tiễn tốt hơn.
Kết cấu của đề tài :
Chương I: Phương pháp đánh giá hiệu quả cho vay đối với doanh
nghiệp vừa và nhỏ
dụng, dịch vụ thanh toán và thực hiện nhiều chức năng tài chính nhất so với
bất kỳ tổ chức kinh doanh nào trong nền kinh tế.
3
1.1.2 Các hoạt động cơ bản của NHTM
1.1.2.1 Hoạt động huy động vốn
Ngân hàng kinh doanh tiền tệ dưới hình thức huy động, cho vay, đầu tư
và cung cấp các dịch vụ khác. Huy động vốn- hoạt động tạo nguồn vốn cho
ngân hàng thương mại- đóng vai trò quan trọng, ảnh hưởng tới chất lượng
hoạt động của ngân hàng. Nguồn vốn của ngân hàng bao gồm vốn chủ sở hữu
và vốn nợ:
a) Vốn chủ sở hữu
Để bắt đầu hoạt động ngân hàng chủ ngân hàng phải có một khối lượng
vốn nhất định. Đây là loại vốn ngân hàng có thể sử dụng lâu dài, hình thành
nên trang thiết bị, nhà cửa cho ngân hàng. Nguồn hình thành và nghiệp vụ
hình thành loại vốn này rất đa dạng tuỳ theo tính chất sở hữu, năng lực tài
chính của chủ ngân hàng, yêu cầu và sự phát triển của thị trường.
Nguồn vốn hình thành ban đầu
Tuỳ theo tính chất của mỗi ngân hàng mà nguồn gốc hình thành vốn ban
đầu khác nhau. Nếu là ngân hàng thuộc sở hữu nhà nước, ngân sách nhà nước
cấp vốn( vốn của nhà nước). Nếu là ngân hàng cổ phần, việc phát hành cổ
phiếu cũng là một hoạt động huy động vốn, các cổ đông đóng góp thông qua
mua cổ phần hoặc cổ phiếu. Ngân hàng liên doanh do các bên liên doanh góp;
ngân hàng tư nhân là vốn thuộc sở hữu tư nhân.
Nguồn vốn bổ sung trong quá trình hoạt động
Trong quá trình hoạt động, ngân hàng gia tăng vốn của chủ theo nhiều
phương thức khác nhau tuỳ thuộc vào điều kiện cụ thể.
4
Nguồn từ lợi nhuận: Trong điều kiện thu nhập ròng lớn hơn không, chủ
ngân hàng có xu hướng gia tăng vốn của chủ bằng cách chuyển một phần thu
nhập ròng thành vốn đầu tư.
khi cần, ngân hàng thường vay mượn thêm.
Vay ngân hàng nhà nước
Đây là khoản vay nhằm giải quyết nhu cầu cấp bách trong chi trả của
ngân hàng thương mại. Trong trường hợp thiếu hụt dự trữ( Thiếu dự trữ bắt
buộc, dự trữ thanh toán), ngân hàng thương mại thường vay ngân hàng nhà
nước. Hình thức cho vay của NHNN là tái chiết khấu( hoặc tái cấp vốn).
Vay các tổ chức tín dụng khác
Đây là nguồn các ngân hàng vay mượn lẫn nhau và vay của các tổ chức
tín dụng khác trên thị trường liên ngân hàng. Các ngân hàng đang có dự trữ
vượt yêu cầu do có kết dư gia tăng bất ngờ về các khoản tiền huy động hoặc
giảm cho vay sẽ có thể sẵn lòng cho các ngân hàng khác vay để tím kiếm lãi
suất cao hơn. Ngược lại, các ngân hàng đang thiếu hụt dự trữ có nhu cầu vay
mượn tức thời để đảm bảo thanh khoản. Như vậy nguồn vay mượn từ các
ngân hàng khác là để đáp ứng nhu cầu dự trữ và chi trả cấp bách và trong
nhiều trường hợp nó bổ sung và thay thế cho nguồn vay từ NHNN.
Vay trên thị trường vốn
Giống như các doanh nghiệp khác, các doanh nghiệp cũng vay mượn
bằng các phát hành các giấy nợ( kỳ phiếu, tín phiếu, trái phiếu) trên thị trường
vốn. Rất nhiều ngân hàng thương mại thiếu nguồn tiền gửi trung và dài hạn
dẫn đến không đáp ứng được nhu cầu cho vay trung và dài hạn. Do vậy, các
khoản vay trung và dài hạn nhằm bổ sung cho các nguồn tiền gửi, đáp ứng
nhu cầu cho vay và đầu tư trung dài hạn.
vốn nợ khác
6
loại này bao gồm nguồn vốn uỷ thác, nguồn trong thanh toán, các nguồn
khác.
1.1.2.2 Hoạt động sử dụng vốn
Là tổ chức kinh doanh tiền tệ nên NHTM không chỉ huy động vốn mà
còn phải sử dụng nguồn vốn đó sao cho có mức sinh lời lớn nhất. Sử dụng
vốn như thế nào không chỉ có ý nghĩa với ngân hàng mà còn đối với toàn bộ
hàng hạn mức tín dụng. Hạn mức tín dụng có thể tính cho cả kì hoặc cuối kì.
Hạn mức tín dụng được cấp trên cơ sở kế hoạch sản xuất kinh doanh, nhu cầu
vốn và nhu cầu vay vốn của khách hàng.
Cho vay luân chuyển
Cho vay luân chuyển là nghiệp vụ cho vay dựa trên luân chuyển của
hàng hoá. Doanh nghiệp khi mua hàng có thể thiếu vốn. Ngân hàng có thể cho
vay để mua hàng và sẽ thu nợ khi doanh nghiệp bán hàng. Cho vay luân
chuyển thường áp dụng đối với các doanh nghiệp thương nghiệp hoặc doanh
nghiệp sản xuất có chu kỳ tiêu thụ ngắn ngày, có quan hệ vay trả thường
xuyên với ngân hàng.
Cho vay trả góp
Cho vay trả góp là hình thức tín dụng, theo đó ngân hàng cho phép khách
hàng trả gốc làm nhiều lần trong thời hạn tín dụng đã thoả thuận. Cho vay trả
góp thường được áp dụng đối với các khoản vay trung và dài hạn.
Cho vay gián tiếp
Ngân hàng cho vay thông qua các tổ chức trung gian, như qua các nhóm
sản xuất, hội nông dân, hội cựu chiến binh, hội phụ nữ…
Đầu tư
Là một đơn vị kinh doanh tiền tệ cho nên NHTM là người nắm vững
8
những thông tin cũng như tình hình kinh tế rõ nhất nên có thể nói các NHTM
là người đầu tư có hiệu quả nhất. Các NHTM thường dùng vốn sở hữu của
ngân hàng và các vốn dài hạn để đầu tư vào các công ty liên doanh, các dự
án…; trở thành cổ đông của công ty cổ phần. Ở Việt Nam thì các NHTM chỉ
được nắm giữ dưới 10% cổ phiếu của công ty.
1.1.2.3 Hoạt động trung gian
Ngoài hoạt động cho vay các NHTM còn thực hiện một số nghiệp vụ
trung gian nhằm tối đa hóa lợi nhuận cho ngân hàng. Các nghiệp vụ trung
gian như chuyển tiền, tư vấn đầu tư, môi giới đầu tư, uỷ thác, giải ngân…
1.2.3 Vai trò của NHTM
các hoạt động của nền kinh tế. Từ đó làm cho quá trình sản xuất và lưu thông
hàng hoá đươc nâng cao.
1.2 Khái niệm, đặc điểm, vai trò DNVVN trong nền kinh tế quốc dân
1.2.1 Khái niệm DNVVN
- Khái niệm doanh nghiệp:
Doanh nghiệp là tổ chức kinh tế có tên riêng, có tài sản, có trụ sở giao
dịch ổn định, được đăng ký kinh doanh theo quy định của pháp luật nhằm
mục đích thực hiện các hoạt động kinh doanh (Theo Luật Doanh Nghiệp
2005)
- Khái niệm DNVVN:
Có thể nói, DNVVN là bộ phận doanh nghiệp rất quan trọng trong nền
kinh tế Việt nam, đóng góp một phần đáng kể vào Ngân sách Nhà nước, giải
10
quyết công ăn việc làm cho hàng triệu lao động, tạo tốc độ tăng trưởng kinh
tế…Các DNVVN là một bộ phận doanh nghiệp phong phú với đủ mọi loại
hình doanh nghiệp từ Hộ kinh doanh cá thể, tổ hợp tác xã đến các Doanh
nghiệp tư nhân, Công ty trách nhiệm hữu hạn, công ty cổ phần…kinh doanh
trên nhiều lĩnh vực, ngành nghề khác nhau. Ở nước ta DNVVN chiếm tỷ
trọng tương đối cao, chiếm hơn 90% tổng số Doanh nghiệp của cả nước. Mặc
dù chiếm tỷ trọng ưu thế nhưng hầu hết các DNVVN đều có quy mô nhỏ cả
về vốn và lao động. Việc xác định quy mô DNVVN chỉ mang tính chất tương
đối vì nó chịu tác động của các yếu tố như trình độ phát triển của một nước,
tính chất ngành nghề và điều kiện phát triển của một vùng lãnh thổ nhất định
hay mục đích phân loại doanh nghiệp trong từng thời kì nhát định. Tuy nhiên,
DNVVN được định nghĩa một cách chung nhất là: DNVVN là những cơ sở
sản xuất kinh doanh có tư cách pháp nhân, kinh doanh vì mục tiêu lợi
nhuận, có quy mô doanh nghiệp trong những giới hạn nhất định tính theo
các tiêu thức vốn, lao động, doanh thu, giá trị gia tăng thu được trong từng
thời kỳ quy định của từng quốc gia.
Ví dụ như Đài Loan, các doanh nghiệp trong lĩnh vực sản xuất, chế tạo
đáp ưng cho nhu cầu vốn của mình.
- Tính linh hoạt cao. Do hoạt động với quy mô nhỏ cho nên hầu hết các
DNNVV đều rất năng động và dễ thích ứng với sự thay đổi nhanh chóng của
môi trường. Trong một số trường hợp các DNNVV còn năng động trong
việc đón đầu những biến động đột ngột của thể chế, chính sách quản lý kinh
tế xã hội cũng như các biến động trên thị trường. Nhờ tính năng động này mà
các DNNVV dễ dàng tìm kiếm và gia nhập thị trừơng khi nhận thấy việc kinh
12
doanh có thể thu nhiều lợi nhuận hoặc rút khỏi các thị trường khi công việc
kinh doanh trở nên khó khăn và kém hiệu quả. Điều này đặc biệt quan trong
đối với các nền kinh tế đang chuyển đổi hoặc các nền kinh tế đang phát triển
như nước ta.
- Có lợi thế trong việc duy trì và phát triển các ngành nghề truyền thống.
So sánh hai loại hình doanh nghiệp lớn và DNVVN thì DNNVV có lợi
thế hơn trong việc khai thác, duy trì và phát triển các ngành nghề truyền
thống. khả năng khai thác và sử dụng có hiệu quả những nguồn lực đầu vào
như lao động, tài nguyên hay vốn tại chỗ của từng địa phương. Từ đó
DNVVN từng bước trưởng thành và lớn mạnh. Mặt khác các DNVVN còn
có nhiều lợi thế hơn các DN lớn trong việc nắm bắt kịp thời nhu cầu và thị
hiếu thường xuyên thay đổi của người tiêu dùng, kết hợp với phương châm đa
dạng hóa sản phẩm đã tạo ra nhiều loại hàng hóa và dịch vụ mới đáp ứng
ngày càng tốt hơn nhu cầu của người tiêu dùng.
- DNVVN có lợi thế về sử dụng lao động. Quan hệ lao động trong các
DNVVN thường có tính chất thân thiện, gần gũi hơn so với các doanh nghiệp
lớn. Do đó người lao động thường dễ dàng được quan tâm, động viên, khuyến
khích hơn trong công việc. Đặc biệt là mối quan hệ gần gũi, thân thiện đó rất
phù hợp với văn hóa của người Việt Nam.
Với lợi thế trong việc khai thác các nguồn lực sẵn có của địa phương,
DNVVN có những tác động tích cực trong việc tạo ra việc làm cũng như nâng
cao đời sống vật chất và tình thần cho dân cư tại địa phương hoặc duy trì và
năng thu hút được những người lao động có trình độ cao trong sản xuất kinh
doanh và quản lý điều hành doanh nghiệp.
_ Các DNVVN có năng lực tài chính thấp
14
Vốn luôn là khó khăn lớn nhất đối với sự tăng trưởng của DNVVN. Khi
mới thành lập, phần lớn các DNVVN thường gặp phải vấn đề về vốn. Các nhà
đầu tư, các tổ chức tài chính thường e ngại khi tài trợ cho các doanh nghiệp
này bởi các DNVVN chưa có uy tín trên thị trường cạnh tranh, chưa tạo lập
được khả năng trả nợ. Vốn chủ sở hữu thấp, năng lực tài chính chưa cao, nếu
chưa tạo dựng được uy tín bằng năng lực kinh doanh và hiệu quả sử dụng vốn
thì doanh nghiệp rất khó tìm được người bảo lãnh cho mình trong quan hệ tín
dụng. Vì thế DNVVN khó tiếp cận được vốn tín dụng của các Ngân hàng
thương mại. Muốn vay vốn được từ nguồn tín dụng của các ngân hàng thương
mại thì các DNVVN phải tạo lập được dự án đầu tư có tính khả thi nhưng do
trình độ, khả năng quản lý kinh doanh của chủ doanh nghiệp thấp, khả năng
dự báo trước những biến động của ngành, của nền kinh tế kém nên việc xây
dựng các kế hoạch tài chính, phương án sản xuất kinh doanh khả thi của
không ít DNVVN còn yếu trong khi dịch vụ tư vấn hỗ trợ doanh nghiệp lại
chưa phát triển. Mặt khác không ít các DNVVN lập báo cáo tài chính chưa rõ
ràng, không minh bạch do yếu kém về quản trị doanh nghiệp nên các báo cáo
tài chính không đáp ứng được yêu cầu. Bên cạnh đó vẫn còn những doanh
nghiệp lập báo cáo chỉ để đối phó với cơ quan Thuế nên đã cố tình làm giảm
khấu hao tài sản, tăng nợ…Một số doanh nghiệp còn làm trái chức năng, trái
pháp luật, sử dụng giấy tờ giả để lừa cơ quan quản lý Nhà nước trong việc xin
hoàn thuế hoặc góp vốn liên doanh, liên kết…Do nguồn tài chính hạn hẹp,
quá trình tích tụ và tập trung vốn thấp, khả năng xây dựng các dự án khả thi
yếu, nhiều doanh nghiệp còn hoạt động kinh doanh theo thương vụ, không có
chiến lược phát triển cụ thể nên mức độ rủi ro cao, trong khi các báo cáo tài
chính không đủ sức thuyết phục do chưa chấp hành tốt công tác kế toán thống
kê, một số doanh nghiệp chưa nhận thức đúng, đầy đủ nghĩa vụ và trách
DNVVN có vai trò quan trọng trong việc khai thác nguồn tài chính của
dân cư trong vùng và sử dụng tối ưu nguồn lực tại chỗ của các địa phương.
Với việc thành lập một doanh nghiệp loại này chỉ cần một số vốn nhỏ do đó
đã tạo điều kiện cho dân cư tham gia đầu tư góp vốn vào DNVVN. Như vậy
thông qua các DNVVN, những nguồn vốn nhỏ, tạm thời nhàn rỗi đã có khả
năng được sinh lời. Hơn nữa việc tiếp cận nguồn vốn tín dụng ngân hàng của
các DNVVN rất hạn chế, nguồn vốn hoạt động chủ yếu được huy động từ
những người thân quen vì thế DNVVN được tiếp xúc trực tiếp với người cho
vay, người cho vay có khi là chủ sở hữu doanh nghiệp, trực tiếp điều hành
hoạt động của doanh nghiệp nên việc sử dụng vốn sẽ hiệu quả hơn. Bên cạnh
đó các DNVVN có thể tận dụng được nguồn lao động và nguyên vật liệu với
giá rẻ do đó làm giảm chi phí sản xuất, hạ giá thành sản phẩm, tạo lợi thế
cạnh tranh cho các doanh nghiệp trong việc tiêu thụ sản phẩm. Như vậy sự
phát triển của các DNVVN đã tận dụng được tối đa các nguồn lực của xã hội,
tạo công ăn việc làm cho nhiều lao động có trình độ, tay nghề thấp góp phần
làm ổn định và phát triển xã hội.
Về tiềm lực vốn: vốn đầu tư là một yếu tố cơ bản của quá trình sản xuất.
Vốn là yếu tố cơ bản để khai thác và phối hợp các yếu tố sản xuất khác như
lao động, đất đai, công nghệ và quản lý để tạo ra lợi nhuận cho các chủ doanh
nghiệp. Vốn có vai trò to lớn trong việc đầu tư trang thiết bị, cải tiến công
nghệ, đào tạo nghề, nâng cao trình độ tay nghề cho công nhân cũng như trình
độ quản lý của chủ doanh nghiệp. Tuy nhiên một nghịch lý hiện nay là trong
khi có nhiều doanh nghiệp đang thiếu vốn trầm trọng thì nguồn vốn nhàn rỗi
trong dân cư còn nhiều nhưng không huy động được. Khi chính sách tài
chính tín dụng của Chính phủ và các Ngân hàng chưa thực sự gây được niềm
tin đối với những người có vốn nhàn rỗi trong các tầng lớp dân cư thì nhờ sự
đa dạng hoá trong các loại hình hoạt động sản xuất kinh doanh, khởi sự bằng
17
nguồn vốn hạn hẹp DNVVN thu hút được đông đảo người dân tham gia. Do
đó, nguồn vốn nhàn rỗi trong dân cư được đưa vào đầu tư sản xuất kinh
Về khoa học kỹ thuật: với quy mô hoạt động nhỏ, DNVVN thường lựa
chọn kỹ thuật phù hợp với trình độ lao động và khả năng về vốn. Họ kết hợp
kỹ thuật thủ công với kỹ thuật mà người lao động có thể nhanh chóng tiếp thu
và làm chủ trong sản xuất.
o Đóng góp quan trọng vào tổng sản phẩm quốc nội (GDP) & thúc đẩy
tăng trưởng kinh tế:
Sự phát triển nhanh các DNVVN về cả số lượng và chất lượng đã đóng
góp đáng kể vào tăng trưởng kinh tế và sự gia tăng thu nhập cho các nước.
Cũng như DNVVN ở tất cả các nước, DNVVN ở Việt Nam cung cấp ra
thị trường nhiềt loại hàng hóa khác nhau đáp ứng nhu cầu sản xuất và tiêu
dùng trong nước như trang thiết bị và linh kiện cần thiết cho các ngành sản
xuất hàng tiêu dùng và các ngành thủ công nghiệp cũng như các hàng hóa tiêu
dùng khác. Theo số liệu thống kê trong những năm vừa qua DNVVN đã đóng
góp 25-28% GDP của cả nước, vốn kinh doanh của khu vực DNVVN chiếm
2% so với vốn kinh doanh của tất cả các doanh nghiệp. Ngoài ra, DNVVN
Việt Nam còn cung cấp hầu hết sản phẩm trong nhiều ngành công nghiệp
truyền thống thu hút nhiều lao động như giầy dép, chiếu cói… việc mở rộng
và phát triển các DNVVN sẽ góp phần không nhỏ trong việc làm tăng GDP,
đóng góp đáng kể vào nguồn thu ngân sách Nhà nước.
Phát triển DNVVN làm số lượng các doanh nghiệp tăng lên rất lớn, tăng
tính cạnh tranh giảm bớt mức độ rủi ro. Các DNVVN cung cấp nguyên liệu,
sản xuất và tiêu thụ hàng hoá thâm nhập vào ngõ ngách thị trường những nơi
doanh nghiệp lớn không làm được.
19
Các DNVVN tham gia tích cực vào hoạt động xuất khẩu, số lượng
DNVVN tham gia kinh doanh xuất nhập khẩu chiếm 80,6%, nhập khẩu chiếm
84,2% tổng số doanh nghiệp tham gia kinh doanh xuất nhập khẩu trên cả
nước. DNVVN thường không có tình trạng cạnh tranh độc quyền, họ dễ dàng
và sẵn sàng chấp nhận tự do cạnh tranh. tự do cạnh tranh là con đường tốt
nhất để phát huy mọi tiềm lực. sự phát triển của DNVVN trong giai đoạn đầu
việc phát triển các DNVVN sẽ dẫn đến sự chuyển dịch cơ cấu kinh tế
theo tất cả các khía cạnh vùng kinh tế, ngành kinh tế và thành phần kinh tế.
trước tiên, đó là sự thay đổi cơ cấu kinh tế vùng nhờ sự phát triển của các khu
vực nông thôn qua phát triển các ngành công nghiệp, tiểu thủ công nghiệp và
dịch vụ ở nông thôn, xóa dần tình trạng thuần nông và độc canh. Các doanh
nghiệp được phân bổ đều hơn về lãnh thổ ở cả vùng nông thôn, đô thị, miền
núi, đồng bằng. Ngoài ra, sự phát triển manh các DNVVN còn có tác dụng
làm cho cơ cấu thành phần kinh tế thay đổi nhờ sự tăng mạnh của các cơ sở
kinh tế ngoài quốc doanh và việc sắp xếp lại các doanh nghiệp Nhà nước. sự
phát triển các DNVVN cũng kéo theo sự thay đổi của cơ cấu ngành kinh tế
thông qua sự đa dạng hóa các ngành nghề và lấy hiệu quả kinh tế làm thước
đo. việc phát triển các DNVVN còn có tác dụng duy trì và thúc đẩy sự phát
triển của các ngành nghề truyền thống và sản xuất ra các sản phẩm mang bản
sắc văn hoá dân tộc, khai thác thế mạnh của đất nước.
xuất phát từ một nước kinh tế nông nghiệp, Việt Nam có nhiều làng nghề
thủ công truyền thống nổi tiếng. Các ngành nghề này ngày càng thu hút được
sự đầu tư phát triển của các DNVVN, góp phần làm chuyển dịch cơ cấu kinh
tế nông nghiệp, nông thôn, thực hiện các chương trình xoá đói giảm nghèo,
tạo sự phát triển đồng đều, bền vững giữa các vùng. Hình thành nên các vùng
21
sản xuất lớn, nhiều làng nghề xuất hiện góp phần gia tăng sản phẩm hàng hoá
tinh chế, tăng sức cạnh tranh của hàng hoá trên thị trường, thúc đẩy các ngành
nghề phát triển các DNVVN hình thành và phát triển trong những ngành nghề
khác nhau luôn có mối quan hệ mật thiết với nhau và có mối liên kết với các
doanh nghiệp lớn. nhiều doanh nghiệp nhỏ khi mới ra đời chỉ nhằm mục đích
làm vệ tinh cung cấp các sản phẩm cho các doanh nghiệp lớn. mối quan hệ
giữa các DNVVN và các doanh nghiệp lớn cũng chính là nguyên nhân thành
công của nền kinh tế Nhật Bản trong nhiều thập kỷ qua. Do đó, khi các
DNVVN Việt Nam phát triển sẽ góp phần tăng cường các mối quan hệ liên
kết hỗ trợ lẫn nhau giữa các DNVVN và các DNVVN với các doanh nghiệp
đối với các khách hàng không có nhu cầu vay vốn thường xuyên. Các
DNVVN thường có nhu cầu thời vụ hay mở rộng sản xuất kinh doanh đặc biệt
mới vay ngân hàng, tức là vốn vay ngân hàng chỉ tham gia vào một số giai
đoạn nhất định của chu kỳ sản xuất kinh doanh. Mỗi lần vay khách hàng phải
làm đơn và trình ngân hàng phương án sử dụng vốn vay, mỗi món vay được
tách biệt ra thành các hồ sơ khác nhau.
Cho vay theo hạn mức tín dụng: áp dụng đối với những khách hàng có
nhu cầu vay vốn thường xuyên, sản xuất kinh doanh ổn định, có uy tín trong
quan hệ tín dụng với ngân hàng. Tổ chức tín dụng và khách hàng xác định và
thỏa thuận một hạn mức tín dụng duy trì trong thời gian nhất định hoặc chu
kỳ sản xuất kinh doanh.
Cho vay theo dự án đầu tư: Tổ chức tín dụng cho khách hàng vay vốn để
thực hiện các dự án đầu tư phát triển sản xuất, kinh doanh, dịch vụ và các dự
23
án phục vụ đời sống.
Cho vay trả góp: khi vay vốn, khách hàng và tổ chức tín dụng cố định và
thỏa thuận số lãi phải trả cộng thêm phần gốc vay rồi chia ra để trả nợ thành
nhiều kỳ hạn theo thời hạn cho vay. Tài sản hình thành từ vốn vay chỉ thuộc
quyền sở hữu của người vay khi mà người vay trả hết phần gốc và lãi.
Cho vay theo hạn mức tín dụng dự phòng: căn cứ vào nhu cầu vay vốn
của khách hàng, tổ chức tín dụng cam kết đảm bảo sẵn sàng cho khách hàng
vay vốn trong phạm vi hạn mức tín dụng nhất định. Trong thời gian hiệu lực
của hợp đồng, nếu khách hàng không hoặc không sử dụng hết hạn mức tín
dụng dự phòng, khách hàng vẫn phải trả phí cam kết.
Cho vay thông qua nghiệp vụ phát hành và sử dụng thẻ tín dụng: tổ chức
tín dụng chấp thuận cho khách hàng được sử dụng số vốn vay trong hạn mức
tín dụng để thanh toán tiền mua hàng hóa dịch vụ và rút tiền mặt tại máy rút
tiền tự động hoặc điểm ứng tiền mặt là đại lý của tổ chức tín dụng.
Cho vay theo hạn mức thấu chi: là hình thức cho vay mà tổ chức tín dụng
thỏa thuận bằng văn bản chấp thuận cho khách hàng chi vượt số tiền có trên
thông qua hoạt động trên thị trường chứng khoán. Mặc dù, thị trường chứng
khoán đang ngày càng chuyển biến tích cực nhưng đối với các DNVVN để có
thể vay vốn tại đó thì gặp nhiều khó khăn vì để vay vốn tại đó cần có rất nhiều
điều kiện như chế độ tài chính minh bạch, làm ăn có lãi trong 2 năm liên
tục… đây là điều mà rất ít DNVVN Việt Nam đáp ứng được.
25