LỜI MỞ ĐẦU
Những năm trở lại đây, đất nước ta đã chứng kiến sự trở mình mạnh mẽ
của nhóm các doanh nghiệp vừa và nhỏ, sự gia tăng không ngừng cả số lượng
và chất lượng đã khẳng định những đóng góp quan trọng của những doanh
nghiệp này vào sự phát triển của đất nước.
Trong quá trình tồn tại và phát triển của mình, các doanh nghiệp vừa và
nhỏ có nhu cầu rất lớn về vốn để mở rộng và nâng cao hiệu quả hoạt động sản
xuất kinh doanh hay đơn giản là để trả lương hay xoay vòng vốn trả tiền
hàng.Chính vì vậy, các doanh nghiệp vừa và nhỏ luôn được coi là đối tượng
khách hàng tiềm năng của các ngân hàng, đặc biệt là các ngân hàng thương
mại. Tuy nhiên, thực tế cho thấy quá trình tiếp cận nguồn vốn vay từ ngân
hàng của các doanh nghiệp vừa và nhỏ, cũng như hiệu quả sử dụng vốn còn
nhiều khó khăn. Và từ chính các ngân hàng thương mại, họ cũng gặp phải
những hạn chế trong quá trình tìm khách hàng và nâng cao hiệu quả tín dụng
đối với nhóm khách hàng là các doanh nghiệp vừa và nhỏ.
Nhận thấy tầm quan trọng và tiềm năng lớn từ đối tượng khách hàng là
các doanh nghiệp vừa và nhỏ, ngân hàng Thương mại Cổ phần Sài Gòn – Hà
Nội luôn chú trọng việc mở rộng và nâng cao chất lượng tín dụng đến nhóm
khách hàng này. Song bên cạnh những thành tựu đáng ghi nhận thì chất lượng
tín dụng của Ngân hàng Thương mại Cổ phần Sài Gòn – Hà Nội vẫn còn
những mặt hạn chế, cần có những giải pháp hữu hiệu để hoàn thiện.
Sau quá trình hơn 2 tháng thực tập tại Ngân hàng Thương mại Cổ phần
Sài Gòn – Hà Nội, qua việc tìm hiểu và nghiên cứu thực tế công việc tại Ngân
hàng, tôi đã quyết định lựa chọn đề tài “Giải pháp nâng cao chất lượng tín
dụng đối với doanh nghiệp vừa và nhỏ tại Ngân hàng Thương mại Cổ
phần Sài Gòn – Hà Nội” làm đề tài cho chuyên đề tốt nghiệp của mình.
SV: Nguyễn Thị Thanh Tâm
1
Nội dung chuyên đề bao gồm:
Chương I : Những vấn đề lý luận về tín dụng và chất lượng tín dụng
Chương II : Thực trạng chất lượng tín dụng đối với doanh nghiệp vừa
định. Giá trị này có thể dưới hình thái tiền tệ hoặc dưới hình thái hiện vật như:
hàng hóa, máy móc, thiết bị, bất động sản.
- Người đi vay chỉ được sử dụng tạm thời trong một thời gian nhất định,
sau khi hết thời hạn sử dụng theo thỏa thuận, người đi vay phải hoàn trả cho
người vay.
SV: Nguyễn Thị Thanh Tâm
3
- Giá trị hoàn trả thông thường lớn hơn giá trị lúc vay ban đầu hay nói
cách khác người đi vay phải trả thêm phần lãi vay.
Tóm lại, tín dụng là phạm trù kinh tế phản ánh mối quan hệ sử dụng vốn
lẫn nhau giữa các chủ thể trong nền kinh tế trên nguyên tắc hoàn trả cả vốn
lẫn lãi.
1.1.1.2 Đặc trưng và bản chất của tín dụng
Có thể nhận thấy về thực chất, tín dụng là mối quan hệ kinh tế giữa
người cho vay và người đi vay, giữa họ có mối quan hệ với nhau thông qua sự
vận động của giá trị vốn tín dụng được biểu hiện dưới hình thức tiền tệ và
hàng hóa từ người cho vay chuyển sang người đi vay và sau một thời gian
nhất định quay về với người cho vay với lượng giá trị lớn hơn ban đầu. Tín
dụng được cấu thành nên từ sự kết hợp của ba yếu tố chính là: lòng tin, thời
hạn của quan hệ tín dụng và sự hứa hẹn hoàn trả. Và do đó, phạm trù tín dụng
có những đặc trưng cơ bản sau đây:
• Tín dụng là có lòng tin: Bản thân từ tín dụng xuất phát từ tiếng La-tin
“Creditum” có nghĩa là “Sự giáo phó” hay “Sự tín nhiệm”. Nghiên cứu khái
niệm tín dụng cũng cho ta thấy tín dụng là sự cho vay có hứa hẹn sẽ hoàn trả.
Sự hứa hẹn biểu hiện “lòng tin” của người cho vay vào người đi vay. Yếu tố
lòng tin tuy vô hình nhưng không thể thiếu trong quan hệ tín dụng, đây là yếu
tố bao trùm trong hoạt động tín dụng, là điều kiện cần cho quan hệ tín dụng
phát sinh.
Trong quan hệ tín dụng “lòng tin” được biểu hiện từ hai phía. Người cho
vay phải tin tưởng vào khả năng hoàn trả của người đi vay và người vay cũng
đầy đủ các đặc trưng trên, nghĩa là người đi vay hoàn trả được đầy đủ gốc và
lãi đúng thời hạn.
SV: Nguyễn Thị Thanh Tâm
5
1.1.1.3 Các loại hình tín dụng trong lịch sử
Cùng với sự phát triển của nền sản xuất hàng hóa, tín dụng ngày càng
phát triển cả về nội dung lẫn hình thức. Các quan hệ tín dụng ngày càng được
mở rộng hơn, ban đầu là quan hệ giữa các cá nhân với nhau, sau đó là giữa cá
nhân với tổ chức, tổ chức với tổ chức, quan hệ với nhà nước và cao nhất là tín
dụng quốc tế. Trong quá trình phát triển lâu dài đó quan hệ tín dụng đã hình
thành và phát triển qua các hình thức sau:
• Tín dụng nặng lãi: Loại hình này khi xuất hiện khi có sự phân chia
giai cấp dẫn đến kẻ giàu, người nghèo. Đặc điểm nổi bật của tín dụng này là
lãi suất cho vay rất cao. Chính vì vậy, tiền vay chỉ được sử dụng vào mục đích
tiêu dùng cấp bách, hoàn toàn không mang mục đích sản xuất nên đã làm
giảm sức sản xuất xã hội. Một cách công bằng mà nói, tín dụng nặng lãi đã
góp phần quan trọng trong việc làm tan rã kinh tế tự nhiên, mở rộng quan hệ
hàng hóa tiền tệ, tạo tiền đề cho chủ nghĩa tư bản ra đời.
• Tín dụng thương mại: Đây là hình thức giữa các nhà sản xuất kinh
doanh với nhau. Công cụ của hình thức tín dụng này là các thương phiếu
thương mại (bao gồm kỳ phiếu và hối phiếu thương mại). Tín dụng thương
mại có đặc điểm là đối tượng cho vay là hàng hóa vì hình thức tín dụng được
dựa trên cơ sở mua bán chịu hàng hóa giữa các nhà sản xuất với nhau. Qui mô
tín dụng do đó bị hạn chế bởi nguồn vốn cho vay là của từng chủ thể sản xuất
kinh doanh.
• Tín dụng ngân hàng: Tín dụng ngân hàng (TDNH) là hính thức phản
ánh quan hệ vay và trả nợ giữa một bên là các ngân hàng, các tổ chức tín dụng
và một bên là các cá nhân hay tổ chức có nhu cầu về vốn. Hình thức TDNH
thể hiện rõ ưu thế của mình so với hai hình thức tín dụng kể trên ở chỗ đây là
hình thức tín dụng rất linh hoạt vì đối tượng cho vay mượn chủ yếu là tiền tệ
SV: Nguyễn Thị Thanh Tâm
7
Với tư cách là người đi vay: NHTM huy động mọi nguồn vốn tạm thời
nhàn rỗi trong xã hội bằng hình thức nhận tiền gửi của các doanh nghiệp, các
tổ chức cá nhân hoặc phát hành chứng chỉ tiền gửi, trái phiếu để huy động vốn
trong xã hội.
Với tư cách là người cho vay: NHTM đáp ứng nhu cầu cho các doanh
nghiệp, tổ chức, cá nhân khi có nhu cầu về vốn cần được bổ sung trong hoạt
động sản xuất kinh doanh và tiêu dùng. Với vai trò này, NHTM đã thực hiện
chức năng phân phối lại vốn, tiền tệ để đáp ứng nhu cầu tái sản xuất xã hội.
Đây là hình thức tín dụng chủ yếu trong nền kinh tế thị trường, nó luôn
đáp ứng nhu cầu về vốn cho nền kinh tế một cách linh hoạt, đầy đủ và kịp
thời.
Trong khuôn khổ của chuyên đề, chúng ta sẽ quan tâm tới phạm trù tín
dụng NHTM dưới góc độ NHTM là người cho vay, tức là “Tín dụng NHTM
là hoạt động theo đó NHTM giao cho khách hàng một khoản tiền để sử dụng
vào mục đích và thời gian nhất định theo thỏa thuận với nguyên tắc hoàn trả
gốc và lãi”. Nói cách khác chúng ta đi nghiên cứu hoạt động cho vay của
NHTM – Đây là hoạt động quan trọng và có quy mô lớn nhất trong toàn bộ
hoạt động của NHTM. Phần lớn vốn huy động được ngân hàng dùng để cho
vay và thu nhập từ hoạt động cho vay đóng góp lớn và lợi nhuận của NHTM.
1.1.2.2 Các hình thức tín dụng NHTM
Ở Việt Nam hiện nay, căn cứ theo quyết định số 324/1998/QĐ-NHNN1
của Thống đốc ngân hàng Nhà nước Việt Nam (NHNN) ngày 30/09/1998 về
việc ban hành quy chế cho vay của tổ chức tín dụng đối với khách hàng,
NHTM có thể có các hình thức tín dụng sau:
•
Cho vay từng lần: Là hình thức cho vay khá phổ biến của NHTM đối
với khách hàng không có nhu cầu vốn thường xuyên hoặc ngân hàng muốn
kiểm tra, giám sát việc sử dụng vốn vay chặt chẽ hơn. Đối với hình thức này
SV: Nguyễn Thị Thanh Tâm
9
một giới hạn nhất định và trong khoảng thời gian xác định. Giới hạn này được
gọi là hạn mức thấu chi.
Thấu chi là hình thức tín dụng ngắn hạn, linh hoạt, thủ tục đơn giản,
phần lớn là không có tài sản đảm bảo. Hình thức này có thể cấp cho cả khách
hàng cá nhân và khách hàng doanh nghiệp vài ngày trong tháng, vài tháng
trong năm dùng để chi trả lương, trả các khoản phải nộp, mua hàng … Đối
tượng áp dụng hình thức cho vay này thường là những khách hàng có độ tin
cậy cao, thu nhập đều đặn và kì thu nhập ngắn.
•
Cho vay theo dự án: Khách hàng xin vay vốn để thực hiện dự án đầu
tư phát triển sản xuất kinh doanh, dịch vụ và các dự án đầu tư phục vụ đời
sống. Ngân hàng cho vay theo hình thức này trong trường hợp vay vốn trung
và dài hạn.
•
Cho vay hỗn hợp: Là phương án cho vay khi mà lượng vốn vay của
khách hàng là quá lớn, khi đó một tổ chức tín dụng đứng ra làm đầu mối dàn
xếp phối hợp các tổ chức tín dụng khác cùng cho khách hàng này vay vốn.
Hình thức này giúp cho ngân hàng giảm thiểu được rủi ro, đồng thời bổ sung
kinh nghiệm, kiến thức cho nhau.
•
Cho vay theo hạn mức tín dụng dự phòng: Ngân hàng đảm bảo sẵn
sàng cho khách hàng vay vốn trong phạm vi tín dụng nhất định để đầu tư cho
dự án. Theo hình thức này, căn cứ vào nhu cầu của khách hàng, ngân hàng và
khách hàng thỏa thuận trong hợp đồng tín dụng – Hợp đồng tín dụng dự
phòng về số vốn mà ngân hàng cam kết cho vay. Trong thời gian hiệu lực của
hợp đồng, nếu khách hàng không sử dụng hoặc không sử dụng hết hạn mức,
khách hàng phải trả phí cam kết đã thỏa thuận. Khi khách hàng vay chính
thức, phần vốn vay được tính theo lãi suất tiền vay hiện hàng.
tín của doanh nghiệp trên thị trường và trong mối quan hệ quá khứ với ngân
hàng.
SV: Nguyễn Thị Thanh Tâm
11
• Cho vay theo kế hoạch thỏa thuận trước: Tín dụng đúng mục đích
không những là nguyên tắc mà còn là phương châm hoạt động của tín dụng.
Quan hệ tín dụng phản ánh nhu cầu về vốn và lợi nhuận của doanh nghiệp.
Việc thực hiện đúng cam kết trong hợp đồng tín dụng là cơ sở để doanh
nghiệp tính toán các yếu tố hiệu quả của quá trình sản xuất kinh doanh, đồng
thời nó cũng là một trong những yếu tố đảm bảo khả năng thu nợ của ngân
hàng. Nếu ngân hàng phát hiện khách hàng vi phạm nguyên tắc này, ngân
hàng được quyền thu hồi nợ trước hạn, trường hợp khách hàng không có tiền
thì chuyển nợ quá hạn.
1.1.2.4 Lãi suất tín dụng NHTM
Trong quan hệ tín dụng, lãi suất là biểu hiện giá cả khoản tiền mà người
cho vay đòi hỏi khi tạm thời trao quyền sử dụng một khoản vốn của mình cho
người khác trong một thời gian nhất định. Người đi vay coi lãi suất như một
khoản chi phí phải trả cho nhu càu sử dụng tạm thời vốn của người khác. Nói
một cách khác, lãi suất tín dụng là giá cả của quyền sử dụng vốn vay. Đối với
hoạt động ngân hàng, lãi suất là một trong những biến số được theo dõi chặt
chẽ nhất, nó không chỉ là công cụ điều tiết vĩ mô mà còn là phương tiện giúp
các ngân hàng cạnh tranh trong cơ chế thị trường. Thông thường lãi suất của
ngân hàng được hình thành trên cơ sở lãi suất thị trường nên luôn biến động.
Trong hoạt động tín dụng, lãi suất tín dụng thường có các giới hạn sau:
Tỷ lệ lạm phát < Lãi suất huy động < Lãi suất cho vay < Trần lãi suất
cho vay < Tỷ suất lợi nhuận bình quân.
Đối với mọi thành viên trong hệ thống Ngân hàng Công thương (NHCT)
Việt Nam hướng dẫn thực hiện quy chế cho vay của tổ chức tín dụng được
quy định như sau:
- Mức lãi suất cho vay do ngân hàng cho vay và khách hàng thỏa thuận
13
1.2 Tín dụng NHTM đối với doanh nghiệp vừa và nhỏ
1.2.1 Doanh nghiệp vừa và nhỏ (DNVVN)
1.2.1.1 Khái niệm DNVVN
Doanh nghiệp theo Luật Doanh nghiệp Việt Nam 2005 là tổ chức kinh tế
có tên riêng, có tài sản, có trụ sở giao dịch ổn định, được đăng ký kinh doanh
theo quy định của pháp luật nhằm mục đích thực hiện các hoạt động kinh
doanh.
DNVVN là một trong các loại hình doanh nghiệp tồn tại trong nền kinh
tế, việc phân loại DNVVN không được thống nhất giữa các quốc gia mà tùy
vào đặc thù điều kiện kinh tế - xã hội của từng quốc gia mà có những quy
định riêng về DNVVN. Việc xác định quy mô DNVVN chỉ mang tính chất
tương đối vì nó chịu tác động của các yếu tố như trình độ phát triển của đất
nước, tính chất ngành nghề, điều kiện của mỗi vùng lãnh thổ nhất định và cả
mục đích phân loại doanh nghiệp trong từng thời kỳ.
Tại Việt Nam, theo Nghị định số 90/2001/NĐ-CP của Chính phủ ngày
23/11/2001 về trợ giúp phát triển doanh nghiệp vừa và nhỏ đã định nghĩa:
“Doanh nghiệp vừa và nhỏ là cơ sở sản xuất, kinh doanh độc lập, đã đăng ký
kinh doanh theo luật doanh nghiệp hiện hành, có vốn đăng ký không quá 10 tỷ
đồng hoặc số lao động trung bình hàng năm không quá 300 người.”
1.2.1.2 Đặc điểm DNVVN
Trong quá trình phát triển của mình, DNVVN đã bộc lộ những ưu điểm
nhưng cũng có không ít những nhược điểm. Việc nhận rõ được những điểm
mạnh cũng như điểm yếu sẽ giúp các doanh nghiệp vừa và nhỏ có biện pháp
khắc phục khó khăn để nâng cao chất lượng hoạt động và khả năng cạnh
tranh, đồng thời cũng là một trong những tiêu chí để các ngân hàng đánh giá
SV: Nguyễn Thị Thanh Tâm
14
một cách tương đối chính xác về khách hàng của mình từ đó nâng cao được
chất lượng các khoản cho vay.
hợp, giúp người lao động phát huy được hết khả năng của mình.
• Cạnh tranh giữa các DNVVN là cạnh tranh hoàn hảo: Thị trường rộng
lớn, không đòi hỏi sự bảo hộ của Chính phủ và không có sự độc quyền. Các
DNVVN hoạt động với số lượng đông đảo dễ dàng và sẵn sàng chấp nhận tự
do cạnh tranh.
Hạn chế
• Quy mô nhỏ vừa là một thuận lợi nhưng vừa là một khó khăn chủ yếu
của DNVVN: Các DNVVN thường gặp nhiều trở ngại trong việc vay vốn do
năng lực vốn nội tại của các doanh nghiệp này còn hạn chế. Ở nước ta, có
khoảng 42% doanh nghiệp có vốn điều lệ dưới 1 tỷ đồng; từ 1 đến 5 tỷ chiếm
47%; từ 5 đến 10 tỷ chiếm 8%; còn lại là các doanh nghiệp có vốn điều lệ trên
10 tỷ đồng. Với số vốn tự có nhỏ bé như vậy nên 90% số doanh nghiệp phải
tự huy động, vay vốn các nguồn để sản xuất kinh doanh.
Việc thiếu vốn sẽ làm cho doanh nghiệp bỏ lỡ cơ hội kinh doanh, gặp
khó khăn trong việc mua sắm các trang thiết bị máy móc, mở rộng sản xuất.
• Máy móc ít, công nghệ lạc hậu, khả năng và điều kiện áp dụng tiến bộ
khoa học rất hạn chế chủ yếu là lao động thủ công: Hạn chế này cũng bắt
nguồn từ việc thiếu vốn của DNVVN. Tỷ lệ đổi mới trang thiết bị trung bình
hàng năm của Việt Nam chỉ ở mức 5-7%, trong khi tỷ lệ này của thế giới là
20%. Đây chính là nguyên nhân của tình trạng lãng phí trong sử dụng năng
lượng, nguyên vật liệu và ô nhiễm môi trường. Công nghệ lạc hậu làm tăng
chi phí lên 1,5 lần đồng thời dẫn đến chất lượng sản phẩm giảm, giá thành cao
và năng suất thấp.
SV: Nguyễn Thị Thanh Tâm
16
• Năng lực quản lý điều hành của người lãnh đạo ảnh hưởng chủ yếu
đến doanh nghiệp, phong cách làm việc của người lao động không chuyên
nghiệp: Do trong các DNVVN người sở hữu vốn đồng thời là người quản lý,
điều hành doanh nghiệp nên hiểu biết về quản trị doanh nghiệp còn nhiều hạn
chế. Số lượng công nhân và người đứng đầu công ty được đào tạo chỉ chiếm
Các DNVVN ở Việt Nam cung cấp ra thị trường nhiều loại hàng hóa
khác nhau, đáp ứng nhu cầu sản xuất và tiêu dùng trong nước. DNVVN hoạt
động đa dạng ở mọi ngành nghề, trong mọi thành phần kinh tế, sức lan tỏa
của các doanh nghiệp này vào các lĩnh vực của đời sống xã hội là rất lớn.
• Tăng thu nhập và việc làm cho người lao động: DNVVN đã giải quyết
việc làm cho trên 12 triệu lao động và là một động lực quan trọng cho phát
triển kinh tế, xóa đói giảm nghèo. Do sự phân bố rộng khắp và khá đa dạng
trong ngành nghề kinh doanh, hơn nữa lại không đòi hỏi lao động trình độ
cao, DNVVN đã và đang thu hút rất nhiều lao động ở thành thị và nông thôn,
từ đó góp phần nâng cao thu nhập cho người lao động, cải thiện đời sống cho
người lao động và hạn chế các tệ nạn xã hội. Các DNVVN đã cung cấp
khoảng 50% khối lượng việc làm cho nền kinh tế.
• Tham gia tích cực vào hoạt động xuất khẩu: Trong những năm qua
thực hiện chính sách của Đảng và Nhà nước ta về mở rộng và khuyến khích
thương mại quốc tế, tạo điều kiện cho mọi thành phần kinh doanh xuất nhập
khẩu, DNVVN nhất là doanh nghiệp kinh doanh các mặt hàng thủ công mỹ
nghệ, chế biến nông sản, thủy sản đã chủ động tìm kiếm và khai thác thị
SV: Nguyễn Thị Thanh Tâm
18
trường quốc tế, qua đó tích cực tăng kim ngạch xuất khẩu, thu ngoại tệ cho
đất nước. Với những ưu thế về ngành nghề, tính nhạy cảm của thị trường cao,
các DNVVN có nhiều thuận lợi trong việc sản xuất và cung ứng các sản phẩm
đáp ứng nhu cầu trong nước và đẩy mạnh xuất khẩu. Số lượng DNVVN tham
gia kinh doanh xuất nhập khẩu chiếm khoảng hơn 80% số doanh nghiệp này
của cả nước.
• Tạo sự năng động và góp phần làm chuyển dịch cơ cấu kinh tế: Với ưu
thế về tính linh hoạt và lượng vốn yêu cầu tương đối nhỏ DNVVN có khả
năng chuyển đổi mặt hàng, chuyển đổi hướng sản xuất, đổi mới công nghệ
cho phù hợp với môi trường kinh doanh. Các DNVVN cũng linh hoạt trong
việc chuyển hướng kinh doanh từ các ngành nghề kém hiệu quả sang các
tại và đứng vững thì đòi hỏi các doanh nghiệp phải chiến thắng trong canh
tranh. Đặc biệt là các DNVVN, do một số hạn chế nhất định, việc chiếm lĩnh
ưu thế trong cạnh tranh trước các doanh nghiệp lớn trong nước và nước ngoài
là một vấn đề khó khăn. Xu hướng hiện nay của các doanh nghiệp này là tăng
cường liên doanh, liên kết, tập trung vốn đầu tư và mở rộng sản xuất, trang bị
kỹ thuật hiện đại để tăng cường liên doanh, liên kết, tập trung vốn đầu tư và
mở rộng sản xuất, trang bị kỹ thuật hiện đại để tăng sức cạnh tranh. Tuy nhiên
để có một lượng vốn đủ lớn đầu tư cho sự phát triển trong khi vốn tự có lại
hạn hẹp, khả năng tích lũy thấp thì phải mất nhiều năm mới thực hiện được.
Và khi đó cơ hội đầu tư không còn nữa, như vậy để có thể đáp ứng kịp thời
các DNVVN chỉ có thể tìm đến các tổ chức tín dụng mà cụ thể là các NHTM
SV: Nguyễn Thị Thanh Tâm
20
để giúp doanh nghiệp mình thực hiện được mục đích của mình là mở rộng
phát triển sản xuất kinh doanh.
1.2.2.3 TDNH tác động tích cực đến nhịp độ phát triển và thúc đẩy cạnh
tranh lành mạnh
Ngân hàng trước khi đồng ý cho một doanh nghiệp vay vốn của mình, họ
sẽ thẩm định và đánh giá rất kỹ lưỡng và ngân hàng chỉ đồng ý cho những
doanh nghiệp minh bạch về thông tin, khả quan về dự án và có uy tin tốt vay
vốn. Do đó, các DNVVN phải làm sao cho ngân hàng tin tưởng mình, nghiễm
nhiên việc này cũng thúc đẩy các DNVVN ngày càng chuyên nghiệp hơn
trong hoạt động sản xuất kinh doanh của mình, nâng cao vị thế của mình trên
thị trường.
1.3 Các chỉ tiêu đánh giá chất lượng tín dụng
1.3.1 Khái niệm chất lượng tín dụng
Tín dụng khách hàng doanh nghiệp là loại cho vay chiếm tỷ trọng lớn
nhất trong hoạt động tín dụng của các NHTM. Đây cũng là hoạt động đem lại
lợi nhuận lớn nhất nhưng cũng là hoạt động phức tạp và chứa đựng nhiều rủi
ro nhất. Chính vì vậy, chất lượng tín dụng luôn luôn được các ngân hàng quan
khách hàng, ảnh hưởng đến tình hình huy động vốn của ngân hàng, đồng thời
cũng ảnh hưởng lớn đến thu nhập của ngân hàng. Ngược lại, ngân hàng có
chất lượng tín dụng tốt sẽ thể hiện được tình hình tài chính lành mạnh, thu
nhập ổn định bền vững, nâng cao uy tín và tính cạnh tranh của mình và bảo vệ
được quyền lợi của khách hàng. Như vậy, chất lượng tín dụng là một vấn đề
rất quan trọng đối với mỗi một NHTM và các ngân hàng phải có những sự
quan tâm đúng mức đề chất lượng tín dụng ngày càng được tốt hơn.
SV: Nguyễn Thị Thanh Tâm
22
1.3.2 Các chỉ tiêu đánh giá chất lượng tín dụng
1.3.2.1 Các chỉ tiêu về sử dụng vốn
•
Dư nợ cho vay đối với DNVVN trong tổng dư nợ: Chỉ tiêu này phản
ánh quy mô hoạt động tín dụng đối với DNVVN của NHTM, ngân hàng có
dự nợ cho vay càng lớn cho thấy mối quan hệ giữa ngân hàng và khách hàng
là tốt và ngân hàng có uy tín với khách hàng, đặc biệt là khách hàng DNVVN.
Lợi nhuận của ngân hàng được tạo ra chủ yếu từ hoạt động tín dụng, do đó chỉ
tiêu này cho thấy ngân hàng có khả năng tạo ra lợi nhuận càng cao. Tuy
nhiên, chỉ tiêu này chưa thể phản ánh được chất lượng tín dụng đối với
DNVVN, cho vay với khối lượng lớn mà rủi ro cao thì chất lượng không thể
đảm bảo được
•
Tỷ lệ cho vay trên tổng vốn dư nợ: Chỉ tiêu này cho biết khả năng
ngân hàng tận dụng nguồn vốn hoạt động trong hoạt động tín dụng
•
Cơ cấu cho vay theo mức lãi suất cho vay bình quân: Chỉ tiêu này
cho thấy được mức lãi suất cho vay bình quân của ngân hàng. Nói chung, lãi
suất cho vay bính quân phải lớn hơn lãi suất huy động bình quân thì ngân
hàng mới hoạt động có lãi.
•
hay có khả năng mất vốn. Ngân hàng càng có nhiều khoản nợ quá hạn thì chất
lượng cho vay càng thấp và rủi ro càng cao. Tuy vậy, nợ quá hạn là một vấn
đề khó tránh khỏi trong hoạt động tín dụng ngân hàng. Do đó, điều quan trọng
là ngân hàng cần duy trì tỷ lệ nợ quá hạn ở mức thấp nhất là có thể chấp nhận
được.
• Cơ cấu nợ quá hạn “theo tuổi”: Phân nhóm nợ quá hạn theo thời
gian quá hạn và theo khách hàng, ước tính tỷ lệ nợ quá hạn chuyển sang nợ
khó đòi. Chi tiết nợ quá hạn theo tuổi như sau:
+ Tên khách hàng
+ Tổng dư nợ
+ Quá hạn dưới 3 tháng
+ Quá hạn dưới 3 - 6 tháng
+ Quá hạn từ 6 tháng đến 1 năm
+ Quá hạn trên 1 năm
• Tỷ lệ nợ quá hạn trong kỳ: Cùng với tỷ lệ nợ quá hạn, tỷ lệ thu hổi nợ
quá hạn cho ta biết mức độ quản lý nội bộ đối với nợ quá hạn. Nếu tỷ lệ thu
hồi nợ quá hạn nhỏ thì thực tế Ngân hàng có thể đang đứng trước một rủi ro
mất đi một lượng vốn vay lớn. Tỷ lệ này có thể xác định bằng công thức:
SV: Nguyễn Thị Thanh Tâm
24
Tỷ lệ nợ quá hạn
=
Doanh số thu nợ quá hạn trong kì
Dư nợ quá hạn đầu kì + Dư nợ quá hạn trong kỳ
Một tỷ lệ nợ quá hạn được coi là chấp nhận được là dưới 3%.
• Chỉ tiêu dư nợ tín dụng có tài sản đảm bảo(TSĐB):
Tỷ lệ dư nợ tín dụng của
DNVVN có TSĐB
=
Dư nợ tín dụng của DNVVN có TSĐB
SV: Nguyễn Thị Thanh Tâm
25