Giải pháp làm tăng lợi nhuận từ hoạt động tín dụng tại Chi nhánh Ngân hàng Đầu tư và Phát triển Hà Thành - Pdf 25

Website: Email : Tel : 0918.775.368
LỜI MỞ ĐẦU

Khi tiến hành các hoạt động sản xuất kinh doanh bao giờ người ta cũng quan
tâm đến hiệu quả của hoạt động đó, hiệu quả chính là mục tiêu cũng là động lực
phát triển của bất cứ một nền kinh tế xã hội nào, đặc biệt là trong điều kiện hạch
toán kinh doanh theo cơ chế thị trường, khi mà các doanh nghiệp phải tự hạch toán,
lấy thu bù chi đảm bảo có lãi thì vấn đề hiệu quả luôn được các doanh nghiệp đặt
lên hàng đầu. Hiệu quả hoạt động của doanh nghiệp thể hiện thông qua chỉ tiêu
kinh tế cụ thể là lợi nhuận. Lợi nhuận là chỉ tiêu phản ánh toàn bộ kết quả hoạt
động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp, nếu doanh nghiệp hoạt động có hiệu
quả thì mức lợi nhuận đạt được là rất lớn, từ đó doanh nghiệp có điều kiện mở rộng
sản xuất và ngược lại khi hoạt động không có hiệu quả thì doanh nghiệp không có
lợi nhuận thậm chí còn bị thua lỗ có thể dẫn tới phá sản. Điều này không chỉ gây
hậu quả xấu đối với doanh nghiệp mà đối với cả nền kinh tế. Chính vì vậy, vấn đề
lợi nhuận và phấn đấu tăng lợi nhuận luôn là mục tiêu hàng đầu của các doanh
nghiệp, cũng như của các nhà quản lý kinh tế. Trong thời gian qua các ngân hàng ở
nước ta đã cố gắng và không ngừng cải thiện chất lượng phục vụ cũng như đa dạng
hoá các sản phẩm dịch vụ nhằm đạt mục tiêu tối đa hoá lợi nhuận. Tuy nhiên bên
cạnh những thành tựu đạt được các ngân hàng vẫn gặp phải những khó khăn cần
tháo gỡ đặc biệt là trong công tác tín dụng. Có thể nói đây là hoạt động chủ yếu
mang lại lợi nhuận cho ngân hàng, nếu thiếu nó các ngân hàng không thể tồn tại và
phát triển cho đến ngày hôm nay.
Các ngân hàng hoạt động chủ yếu dựa vào việc đi vay và cho vay, để việc
cho vay đạt hiệu quả buộc các ngân hàng phải rất chú trọng đến công tác tín dụng
nhằm đảm bảo cho ngân hàng vừa kinh doanh có lãi mà vẫn duy trì sức cạnh tranh
trên thị trường, chính vì vậy việc mở rộng hoạt động tín dụng và nâng cao tính hiệu
quả của nó là một vấn đề hết sức cấp thiết cần được nghiên cứu xem xét. Do có ý
Website: Email : Tel : 0918.775.368
nghĩa quan trọng như vậy nên hoạt động tín dụng đã dành được nhiều sự quan tâm
đặc biệt của các nhà kinh tế, các nhà quản lý ngân hàng, các nhà đầu tư...Nó cũng

doanh của ngân hàng mang lại. Trong cơ chế thị trường, hoạt động của các ngân
hàng là rất đa dạng và phong phú để đáp ứng với nhu cầu phát triển chung của xã
hội. Vì vậy doanh thu của doanh nghiệp bao gồm nhiều loại khác nhau như: lãi cho
vay, chênh lệch mua bán ngoại tệ, phí bảo lãnh, bảo hiểm, môi giới đầu tư chứng
khoán v.v…
Chi phí là những khoản chi mà ngân hàng bỏ ra để có được các khoản thu đó.
Chi phí của ngân hàng cũng bao gồm nhiều loại như: chi phí trả lãi cho các khoản
tiền gửi, tiền vay, những khoản chi để trả cho người lao động (lương, phụ cấp và
các khoản trích theo lương như BHXH, BHYT, KPCĐ…) và các khoản chi mà
ngân hàng thực hiện các nghĩa vụ với nhà nước theo luật định thông qua nộp thuế
v.v…
Website: Email : Tel : 0918.775.368
Doanh thu mà ngân hàng thu được trước hết được bù đắp cho phần chi phí mà
ngân hàng bỏ ra, phần còn lại chính là lợi nhuận của ngân hàng.
1.1.2. Ý nghĩa của lợi nhuận:
Lợi nhuận là kết quả cuối cùng của mọi hoạt động kinh doanh. Không chỉ
trong lĩnh vực ngân hàng mà với bất cứ doanh nghiệp sản xuất nào cũng vậy lợi
nhuận luôn đóng vai trò vô cùng quan trọng, nó là mục tiêu mang tính chất sống
còn đối với các doanh nghiệp nếu không đạt được mức lợi nhuận tối thiểu các ngân
hàng thương mại nói riêng và các doanh nghiệp nói chung không thể tồn tại và phát
triển.
- Đối với ngân hàng ngoài ý nghĩa chính lợi nhuận còn cho thấy một số ý nghĩa
khác cũng không kém phần quan trọng:
Thứ nhất: Lợi nhuận là chỉ tiêu chất lượng tổng hợp phản ánh kết quả hoạt động
kinh doanh của toàn hệ thống ngân hàng. Thông qua việc phân tích tình hình thực
hiện chỉ tiêu lợi nhuận của ngân hàng, người quản lý có thể xem xét đánh giá các
mặt hoạt động kinh doanh của ngân hàng từ đó có thể đưa ra các kế hoạch, các
quyết định quản lý trong thời gian tới.
Thứ hai: Lợi nhuận là nguồn tài chính quan trọng để ngân hàng thực hiện việc
mở rộng quy mô, nâng cao chất lượng dịch vụ đa dạng hoá sản phẩm đáp ứng yêu

trả đúng thời hạn cả vốn lẫn lãi.
Mặc dù có nhiều khái niệm về tín dụng theo cách diễn đạt khác nhau nhưng có
thể nêu một cách tổng quát như sau: Tín dụng bao gồm các hoạt động chiết khấu,
cho vay, bảo lãnh, cho thuê. Nó được hiểu là quan hệ vay mượn lẫn nhau trên
nguyên tắc có hoàn trả cả vốn và lãi sau một thời gian nhất định.
Website: Email : Tel : 0918.775.368
Ngân hàng với tư cách là doanh nghiệp kinh doanh tiền tệ, ra đời do sự phát
triển của nền sản xuất xã hội cùng với nhu cầu vốn lớn cho mọi lĩnh vực, đồng thời
lượng tiền nhàn rỗi trong xã hội cũng phát triển. Với sự phát triển của ngân hàng và
nhu cầu cần thiết của nền kinh tế cho nên tín dụng Ngân hàng ra đời nhằm cải thiện
các vấn đề về khối lượng cho vay, thời hạn cho vay và phạm vi cho vay. Vì vậy, tín
dụng Ngân hàng trở nên thường xuyên và phổ biến.
Như đã nói ở trên: “Tín dụng ngân hàng là quan hệ tín dụng bằng tiền tệ giữa
một bên là ngân hàng- một tổ chức chuyên kinh doanh trong lĩnh vực tiền tệ- với
một bên là các tổ chức, cá nhân trong xã hội, trong đó ngân hàng vừa là người đi
vay, vừa là người cho vay”.
Nói đến tín dụng ngân hàng là đề cập đến cả “đi vay” lẫn “cho vay”. Tuy
nhiên, trên thực tế, do tính chất phức tạp của hoạt động ngân hàng mà hoạt động
nhận tiền gửi không được gọi là hoạt động tín dụng mà là hoạt động “huy động
vốn”, do bộ phận Nguồn vốn thực hiện. Bộ phận tín dụng chuyên làm nhiệm vụ
cho vay, như vậy tín dụng ngân hàng ở đây mang nghĩa hẹp hơn, chỉ giới hạn bên
cho vay là ngân hàng.
Vậy ta có thể có khái niệm chung nhất về tín dụng ngân hàng: “Tín dụng
ngân hàng là quan hệ vay mượn bằng tiền tệ, trong đó ngân hàng là người cho vay,
còn người đi vay là các tổ chức, cá nhân trong xã hội, trên nguyên tắc người đi vay
sẽ hoàn trả cả vốn lẫn lãi vào một thời điểm xác định trong tương lai như hai bên đã
thoả thuận”.
1.2.2. Bản chất của tín dụng ngân hàng
Bản chất của tín dụng ngân hàng là sự vận động của vốn tiền tệ thông qua
các ngân hàng. Ngân hàng với các hình thức huy động vốn khác nhau sẽ huy động

Website: Email : Tel : 0918.775.368
Các tài sản cố định như phương tiện vận tải, một số cây trồng vật nuôi, trang
thiết bị chóng hao mòn có yêu cầu được tài trợ từ trên 1 năm tới 5 năm.
Công trình xây dựng như nhà, sân bay, cầu đường, máy móc thiết bị có giá
trị lớn, thường có thời gian sử dụng lâu có yêu cầu tài trợ trên 5 năm, có thể lên tới
10 hoặc 30 năm.
Thời hạn tín dụng thường được xác định cụ thể (ngày, tháng, năm) và ghi
trong hợp đồng tín dụng, là thời hạn mà trong đó ngân hàng cam kết cấp cho khách
hàng một khoản tín dụng. Thời hạn tín dụng có thể được tính từ lúc đồng vốn đầu
tiên của ngân hàng được phát ra đến lúc đồng vốn và lãi cuối cùng phải thu về.
Thời hạn tín dụng có thể là thời gian mà khi kết thúc, ngân hàng sẽ xem xét lại
quan hệ tín dụng với khách hàng.
Có khoản cho vay không xác định trước thời hạn như cho vay luân chuyển.
Khách hàng thoả thuận với ngân hàng về việc ngân hàng được quyền trích tiền trên
tài khoản tiền gửi thanh toán để thu nợ khi tài khoản có tiền. Việc xác định trước
thời hạn thu nợ trong trường hợp này có thể gây khó khăn cho khách hàng trong
việc tiêu thụ sản phẩm.
Thời gian chiết khấu thương phiếu là thời hạn còn lại của thương phiếu. Thời
hạn bảo lãnh là thời gian có hiệu lực của bảo lãnh, được thoả thuận ghi trong hợp
đồng bảo lãnh. Nếu là cho thuê, thời gian được tính từ lúc ngân hàng giao tài sản
cho khách hàng đến lúc khách hàng hoàn đủ tiền thuê.
1.2.3.2. Phân loại theo hình thức: Gồm chiết khấu, cho vay, bảo lãnh và cho
thuê.
- Chiết khấu thương phiếu là việc ngân hàng ứng trước tiền cho khách hàng
tương ứng với giá trị của thương phiếu trừ đi phần thu nhập của ngân hàng để sở
hữu một thương phiếu chưa đến hạn ( hoặc một giấy nợ). Về mặt pháp lý thì ngân
hàng không phải cho vay đối với chủ thương phiếu. Đây chỉ là hình thức trao đổi
trái quyền. Tuy nhiên đối với ngân hàng, việc bỏ tiền ra hiện tại để thu về một
Website: Email : Tel : 0918.775.368
khoản lớn hơn trong tương lai với lãi suất xác định trước được coi là hoạt động tín

chính của người thứ ba..), có khả năng giám sát việc sử dụng hoặc khả năng bảo
quản tài sản đảm bảo.
1.2.3.4. Phân loại tín dụng theo rủi ro
Để phân loại theo tiêu thức này, ngân hàng cần nghiên cứu các mức độ, các
căn cứ để chia lại rủi ro. Một số ngân hàng lớn chia tới 10 thang bậc rủi ro theo các
dấu hiệu rủi ro từ thấp đến cao cho các khoản mục tài sản, bao gồm cả nội và ngoại
bảng, cho vay, bảo lãnh, chứng khoán. Cách phân loại này giúp cho ngân hàng
thường xuyên đánh giá lại tính an toàn của các khoản tín dụng, trích lập dự phòng
tổn thất kịp thời.
- Tín dụng lành mạnh: Các khoản tín dụng có khả năng thu hồi cao.
- Tín dụng có vấn đề: Các khoản tín dụng có dấu hiệu không lành mạnh như
khách hàng chậm tiêu thụ, tiến độ thực hiện kế hoạch bị chậm, khách hàng gặp
thiên tai, khách hàng trì hoãn nộp báo cáo tài chính…
- Nợ quá hạn có khả năng thu hồi: các khoản nợ đã quá hạn có thời hạn ngắn
và khách hàng có kế hoạch khắc phục tốt, tài sản đảm bảo có giá trị lớn…
- Nợ quá hạn khó đòi: nợ quá lâu, khả năng trả nợ rất kém, tàI sản thế chấp
nhỏ hoặc bị giảm giá, khách hàng chây ì…
1.2.3.5. Phân loại khác
Theo ngành kinh tế (công, nông nghiệp…)
Theo đối tượng tín dụng (tài sản lưu động, tài sản cố định).
Theo mục đích (sản xuất, tiêu dùng…).
Cách phân loại này cho thấy tính đa dạng hoặc chuyên hoá trong cho vay của
ngân hàng. Với xu hướng đa dạng, các ngân hàng sẽ mở rộng phạm vi tài trợ song
vẫn có thể duy trì những lĩnh vực mà ngân hàng có lợi thế.
Website: Email : Tel : 0918.775.368
1.2.4. Sự cần thiết phải mở rộng và nâng cao hiệu quả của hoạt động tín dụng
1.2.4.1. Tín dụng đối với nền kinh tế
Tín dụng ngân hàng có vai trò đặc biệt quan trọng đối với sự phát triển của
nền kinh tế, nó chính là yếu tố thúc đẩy nền kinh tế xã hội phát triển. Cụ thể:
* Tín dụng ngân hàng là công cụ để quản lý tập trung nguồn vốn tạm thời

doanh phảI có hiệu quả hơn, tránh tình trạng ỷ lại vào nguồn ngân sách cấp phát
không phảI hoàn trả của nhà nước.
* Tín dụng ngân hàng là đòn bẩy quan trọng thúc đẩy quá trình mở rộng mối
quan hệ giao lưu kinh tế quốc tế.
Cùng với sự phát triển của nền kinh tế thì một yếu tố không thể thiếu giúp
cho nó đó là mối quan hệ giao lưu với kinh tế quốc tế. Trong mối quan hệ đó sự
hợp tác bình đẳng hai bên cùng có lợi đã là một nhân tố hết sức quan trọng tạo sự
phát triển đối với kinh tế mỗi nước. Tín dụng ngân hàng phát triển song song cùng
với sự phát triển của nền kinh tế đã trở thành đòn bẩy hết sức quan trọng thúc đẩy
quá trình mở rộng mối quan hệ giao lưu kinh tế quốc tế. Đặc biệt đối với những
nước đang phát triển như nước ta hiện nay thì tín dụng ngân hàng sẽ đóng vai trò
mở rộng xuất nhập khẩu hàng hoá với các nước trên thế giới, đồng thời cũng có thể
nhờ nguồn tín dụng bển ngoài để đầu tư phát triển các thành phần kinh tế trong
nước.
1.2.4.2. Tín dụng đối với ngân hàng
Tín dụng là hoạt động quan trọng nhất của ngân hàng nói riêng và của các
trung gian tài chính nói chung, chiếm tỷ trọng cao nhất trong tổng tài sản, tạo thu
nhập từ lãi lớn nhất và cũng là hoạt động mang lại rủi ro cao nhất. Nói một cách
khác hiệu quả kinh doanh của ngân hàng chính là hiệu quả của hoạt động tín dụng,
Website: Email : Tel : 0918.775.368
tín dụng phát triển đồng nghĩa với việc ngân hàng phát triển, thu được nhiều lợi
nhuận và ngược lại.
Chức năng đầu tiên của các ngân hàng là mở rộng tín dụng đối với khách
hàng đáng tin cậy. Ngay từ khi mới bắt đầu hoạt động những người tổ chức các
ngân hàng thương mại đã luôn tìm kiếm các cơ hội để thực hiện việc cho vay, coi
đó là chức năng quan trọng nhất của mình. Mở rộng hoạt động tín dụng tại ngân
hàng là điều kiện để ngân hàng:
* Tăng thu nhập cho mình.
Ngân hàng là một tổ chức kinh doanh trên lĩnh vực tiền tệ nên một trong
những mục đích kinh doanh của ngân hàng là lợi nhuận. Hoạt động tín dụng là hoạt

+ Doanh số cho vay phản ánh lượng vốn mà ngân hàng đã giảI ngân giúp
khách hàng trong đầu tư cảI tiến máy móc thiết bị, mua hàng hoá… Do đó, doanh
số cho vay phản ánh quy mô và xu hướng của hoạt động tín dụng là mở rộng hay
thu hẹp.
+ Doanh số thu nợ phản ánh lượng vốn mà ngân hàng thu về được từ các
khách hàng vay vốn trong một thời kỳ.
+ Dư nợ cho vay: phản ánh lượng vốn mà khách hàng đang nợ ngân hàng tại
một thời điểm cụ thể, dư nợ cho vay phản ánh hiệu quả cho vay thấp vì nó chỉ ra
ngân hàng không có khả năng mở rộng hoạt động cho vay, khả năng tiếp thị khách
hàng kém, thị phần thấp… Tuy nhiên, khi xem xét chỉ tiêu này chúng ta không nên
xem xét chúng theo một thời kỳ riêng lẻ mà phảI xem xét chúng trong cả quá trình
trên cơ sở phân tích các yếu tố bên ngoàI để chỉ tiêu này phản ánh một cách chính
xác nhất.
* Tỷ lệ nợ quá hạn
Website: Email : Tel : 0918.775.368
Khả năng hoàn trả của người vay là yếu tố quan trọng bậc nhất để cấu thành
hiệu quả cho vay. Khi một khoản vay không được hoàn trả đúng hạn như đã thoả
thuận trong hợp đồng mà không có lý do chính đáng thì nó đã vi phạm nguyên tắc
tín dụng và bị chuyển sang nợ quá hạn với lãi suất cao hơn.
Nợ quá hạn được chia làm hai loại:
- Nợ quá hạn có khả năng thu hồi: Là những khoản mà khách hàng vẫn có
thể trả được. Đây là loại nợ quá hạn do định kỳ trả nợ ngắn hơn chu kỳ sản xuất
kinh doanh hoặc vì một lý do nào đó chưa thu hồi được tiền nên đến kỳ hạn trả nợ
khách hàng chưa có tiền trả, ngân hàng theo nguyên tắc buộc phải chuyển khoản đó
sang nợ quá hạn.
- Nợ quá hạn không có khả năng thu hồi: Đây là loại nợ quá hạn do khách
hàng vay vốn bị phá sản hoặc kinh doanh thua lỗ, hoặc bị lừa đoả, oặc bị chết
không có khả năng trả nợ ngân hàng, buộc ngân hàng phải chuyển sang nợ quá hạn
chờ xử lý, khả năng thu hồi loại này là rất thấp. Thường thì các ngân hàng dùng
quỹ dự phòng rủi ro để xử lý hoặc xoá nợ theo tình hình thực tế từng món vay để

định các khoản vay…
1.2.6. Các nhân tố ảnh hưởng đến hiệu quả hoạt động tín dụng
Trong hoạt động tín dụng, bên cạnh lợi nhuận nó còn chứa đựng nhiều rủi ro,
có rất nhiều nhân tố ảnh hưởng đến hiệu quả hoạt động tín dụng. Dưới đây là một
số nhân tố chính:
1.2.6.1. Nhân tố thuộc về ngân hàng
- Cơ chế chính sách và thể lệ tín dụng phải đúng đắn, phù hợp với tình hình
cũng như xu thế phát triển xã hội. Bên cạnh đó phải đảm bảo được quyền lợi của
người gửi, người đi vay và của chính bản thân ngân hàng. Nếu ngân hàng có một
Website: Email : Tel : 0918.775.368
cơ chế chính sách tín dụng phù hợp không những thu hút thêm được nhiều đối
tượng khách hàng đến ngân hàng mà còn làm tăng thêm thu nhập cho ngân hàng.
- Thông tin tín dụng phải đầy đủ, kịp thời và chính xác về khách hàng của
mình, nếu những thông tin đó tốt nó sẽ nâng cao chất lượng tín dụng cho ngân
hàng, giảm thiểu rủi ro cho ngân hàng, góp phần thúc đẩy mở rộng hoạt động tín
dụng cho ngân hàng.
- Về tình hình huy động vốn: Tình hình huy động vốn của ngân hàng quyết
định rất nhiều đến quá trình mở rộng tín dụng của ngân hàng, bởi vì hoạt động tín
dụng của ngân hàng được thực hiện dựa trên nền tảng đI vay của ngân hàng, nếu
không đi vay được thì ngân hàng cũng không thể thực hiện việc cho vay của mình.
Ngược lại nếu nguồn vốn ngân hàng huy động được càng lớn càng đa dạng thì càng
tạo điều kiện cho hoạt động của ngân hàng với các chủ thể trong nền kinh tế.
- Về chất lượng nhân sự và cơ sở vật chất thiết bị: Chất lượng nhân sự và cơ
sở vật chất có ảnh hưởng trực tiếp tới hoạt động tín dụng của ngân hàng bởi nó ảnh
hưởng tới mối quan hệ của khách hàng và cán bộ tín dụng, nếu cán bộ có trình độ
chuyên môn tốt cùng với cơ sở vật chất thiết bị tốt sẽ tạo niềm tin cho khách hàng
khi đến giao dịch tại ngân hàng.
1.2.6.2. Nhân tố thuộc về khách hàng
Những yếu tố về khách hàng (bao gồm cả khách hàng hiện tại và khách hàng
tiềm năng) như đạo đức, khả năng tài chính, tài sản đảm bảo của khách hàng cũng

sẽ gây nên một loạt các rủi ro đối với ngân hàng.
Trong những năm gần đây Việt Nam tiếp tục ghi nhận những thành tựu đáng
kể trong ổn định và phát triển kinh tế, xã hội. Đời sống dân cư tiếp tục được cải
thiện, các chương trình xoá đói giảm nghèo đạt hiệu quả cao. Sự ổn định về mặt xã
hội đang là một nhân tố quan trọng góp phần nâng cao tính hấp dẫn của thị trường
Website: Email : Tel : 0918.775.368
Việt Nam đối với các nhà đầu tư nói chung và ngân hàng nói riêng. Tuy nhiên, nền
kinh tế Việt Nam vẫn đang phảI đối mặt với nhiều khó khăn và thử thách. Khả
năng cạnh tranh của các doanh nghiệp nói chung vẫn đang ở mức thấp do nhiều yếu
tố như cơ sở hạ tầng chưa phù hợp, công nghệ lạc hậu, thiếu trầm trọng lao động
lành nghề, quản lý hành chính yếu kém và môi trường kinh doanh còn bất cập, bên
cạnh đó chi phí sản xuất cao, chất lượng nhiều mặt hàng còn thấp, vì thế các lĩnh
vực kinh tế cụng chưa đạt hiệu quả như tiềm năng có thể. Đứng trước thách thức
dó, Việt Nam phải tiếp tục có chính sách mạnh, nhất quán và hiệu quả để chuẩn bị
các điều kiện cho hội nhập kinh tế quốc tế mà trước nhất là gia nhập WTO, về phía
các doanh nghiệp cũng cần có sự chuẩn bị kịp thời và hiệu quả để nâng cao sức
cạnh tranh trong bối cảnh mới, đặc biệt là các tổ chức tàI chính nói chung và ngân
hàng nói riêng.
Tại các ngân hàng, việc kinh doanh cũng đang gặp rất nhiều khó do ảnh
hưởng đợt cạnh tranh bằng lãi suất của các ngân hàng thương mại bùng nổ làm tăng
bình quân đầu vào của các ngân hàng trong khi đó việc tìm kiếm các khách hàng,
các khoản vay hiệu quả rất khó khăn dẫn đến trạngdưthừa vốn tại các ngân hàng,
ảnh hưởng đến kế hoạch lợi nhuận của các ngân hàng.
* Môi trường pháp lý
Tất cả mọi hoạt động của các cá nhân và tổ chức đều bị chi phối bởi luật
pháp của quốc gia đó, nơi diễn ra hoạt động đó, ở hầu hết các quốc gia, hoạt động
ngân hàng nói chung luôn được đặt dưới một hệ thống các quy định chặt chẽ do cơ
quan nhà nước thực hiện nhằm kiểm soát hoạt động ngân hàng, kiểm soát các hoạt
động cung cấp dịch vụ ngân hàng, chất lượng tín dụng, tình trạng vốn chủ sở hữu
và cả cách thức mà ngân hàng đó phát triển hay mở rộng hoạt độngvới mục đích


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status