Đề tài
“Một số giải pháp phòng ngừa rủi ro
trong hoạt động tín dụng tại Chi
nhánh Ngân hàng đầu tư và phát
triển tỉnh Hà Tây”
1
1
MỤCLỤC
LỜI NÓI ĐẦU 1
DANHMỤCCÁCTỪVIẾTTẮT 3
CHƯƠNG I:
NHỮNGVẤNĐỀLÝLUẬNCHUNGVỀRỦIROTRONGHOẠTĐỘNGTÍN
DỤNGCỦANGÂNHÀNGTHƯƠNGMẠI 4
1.1 Hoạt động kinh doanh tín dụng và những vấn đề cơ bản về rủi ro tín
dụng của Ngân hàng thương mại 4
1.1.1 Hoạt động kinh doanh tín dụng của Ngân hàng thương mại 4
1.1.1.1 Khái niệm tín dụng ngân hàng 4
1.1.1.2 Đặc trưng và vai trò của tín dụng ngân hàng 6
1.1.2 Những vấn đề cơ bản về rủi ro tín dụng của NHTM 8
1.1.2.1 Khái niệm rủi ro tín dụng 9
1.1.2.2 Đặc điểm rủi ro tín dụng 10
1.1.2.3 Dấu hiệu rủi ro tín dụng 11
1.1.2.4 Hậu quả rủi ro tín dụng 12
1.1.2.5 Các chỉ tiêu đo lường rủi ro tín dụng 14
1.2 Nguyên nhân rủi ro tín dụng và biện pháp phòng ngừa, hạn chế 16
1.2.1 Nguyên nhân rủi ro tín dụng 16
1.2.1.1 Nguyên nhân khách quan 17
1.2.1.2 Nguyên nhân chủ quan 20
1.2.2 Biện pháp phòng ngừa và hạn chế rủi ro tín dụng 23
1.2.2.1 Xây dựng các nguyên tắc vàđiều kiện đảm bảo tín dụng 23
1.2.2.2 Các biện pháp phòng ngừa rủi ro tín dụng 24
ro tín dụng tại chi nhánh Ngân hàng Đầu tư và Phát triển Hà Tây 55
2.3.1 Đánh giá chung về rủi ro tín dụng tại chi nhánh 55
2.3.2 Những yếu tố dẫn đến nợ quá hạn tại Chi nhánh 56
2.3.2.1 Từ phía khách hàng 56
2.3.2.2 Từ phía ngân hàng 56
2.3.3 Thực tế phòng ngừa, rủi ro tín dụng và các biện pháp xử lý của Chi
nhánh NHĐT&PT tỉnh Hà Tây khi xuất hiện rủi ro tín dụng 56
2.3.3.1 Thực tế phòng ngừa rủi ro tín dụng ở Chi nhánh 56
2.3.3.2 Biện pháp xử lý các khoản rủi ro tín dụng 60
CHƯƠNG III: MỘT SỐ GIẢI PHÁP PHÒNG NGỪA RỦI RO
TRONG HOẠT ĐỘNG TÍN DỤNG TẠI CHI NHÁNH NGÂN HÀNG
ĐẦU TƯ VÀ PHÁT TRIỂN TỈNH HÀ TÂY 63
3
3
3.1 Định hướng phát triển hoạt động tín dụng của chi nhánh NHĐT&PT
Hà tây 63
3.1.1 Định hướng chung 63
3.1.2 Một số chỉ tiêu cụ thể của chi nhánh phấn đấu đạt năm 2006 64
3.2 Một số giải pháp phòng ngừa rủi ro trong hoạt động tín dụng tại
chi nhánh NHĐT&PT tỉnh Hà tây 65
3.2.1 Phân tích khách hàng thường xuyên và chủđộng 66
3.2.2 Nâng cao chất lượng thẩm định 68
3.2.3 Thực hiện đúng quy trình tín dụng 68
3.2.4 Đa dạng hoá và nâng cao chất lượng các loại dịch vụ 69
3.2.5. Thường xuyên chăm lo đến khách hàng 70
3.2.6 Nâng cao hiệu quả công tác thông tin phòng ngừa rủi ro, dự báo
rủi ro tiềm ẩn 71
3.2.7 Tăng cường công tác kiểm tra, kiểm soát nội bộ 72
3.2.8 Thực hiện bảo hiểm tín dụng 72
3.2.9 Khai thác có hiệu quả thông tin trong hoạt động tín dụng 74
đúng mục đích hoặc đầu tư không hiệu quả, thu nhập không đủ bù đắp chi
phí dẫn đến không thể trả được nợ ngân hàng khi đến hạn, tất cả những điều
đó đều có thể gián tiếp gây ra rủi ro cho ngân hàng đặc biệt là rủi ro đối với
hoạt động tín dụng. Vì vậy, trong thời gian tới việc phòng ngừa và hạn chế rủi
ro tín dụng là thực sự có ý nghĩa và luôn là một đề tài bức xúc đối với các
Ngân hàng thương mại Việt Nam. Tìm được các biện pháp phòng ngừa và hạn
chế rủi ro tín dụng để tăng hiệu quả trong kinh doanh ngân hàng là mong
muốn của tất cả các nhà kinh doanh tiền tệ khi phải đối đầu với sự cạnh tranh
quyết liệt, giành giật thị phần để mang lại lợi nhuận.
5
5
Nhận thức được điều đó, cùng với mong muốn sử dụng những kiến
thức đã học cũng như các kết quả quan sát học hỏi từ thực tiễn hoạt động tại
Ngân hàng đầu tư và phát triển Hà Tây em đã lựa chọn đề tài nghiên cứu là:
“Một số giải pháp phòng ngừa rủi ro trong hoạt động tín dụng tại Chi
nhánh Ngân hàng đầu tư và phát triển tỉnh Hà Tây”
Mục đích nghiên cứu của luận văn:
- Hệ thống hoá những vấn đề lý luận cơ bản về rủi ro trong hoạt động
tín dụng Ngân hàng thương mại trong nền kinh tế thị trường.
- Khảo sát thực trạng và nguyên nhân dẫn đến rủi ro tín dụng tại Ngân
hàng Đầu tư và Phát triển Chi nhánh tỉnh Hà Tây trong giai đoạn hiện nay.
- Đề suất vàđưa ra một số giải pháp và kiến nghị góp phần phòng ngừa
rủi ro trong hoạt động tín dụng đối với các Ngân hàng thương mại Việt Nam
nói chung vàđối với chi nhánh Ngân hàng Đầu tư và Phát triển tỉnh Hà Tây
nói riêng.
Kết cấu của luận văn bao gồm 3 phần:
Chương I: Những vấn đề lý luận chung về rủi ro trong hoạt động tín
dụng của Ngân hàng thương mại.
Chương II: Thực trạng rủi ro tín dụng tại chi nhánh Ngân hàng
Đầu tư và Phát triển tỉnh Hà Tây.
7
NHỮNGVẤNĐỀLÝLUẬNCHUNGVỀRỦIROTRONG
HOẠTĐỘNGTÍNDỤNGCỦANGÂNHÀNGTHƯƠNGMẠI
1.1 Hoạt động kinh doanh tín dụng và những vấn đề cơ bản về rủi ro tín
dụng của Ngân hàng thương mại.
1.1.1 Hoạt động kinh doanh tín dụng của Ngân hàng thương mại.
1.1.1.1 Khái niệm tín dụng ngân hàng
Trong quá trình sản xuất kinh doanh, để duy trì sự hoạt động liên tục
đòi hỏi vốn của các doanh nghiệp phải đồng thời tồn tại ở cả ba khâu dự trữ
- sản xuất - lưu thông. Do đó hiện tượng thừa vốn và thiếu vốn thường xảy
ra ở các doanh nghiệp. Tín dụng ngân hàng góp phần điều tiết các nguồn
vốn từ nơi thừa đến nơi thiếu tạo điều kiện cho hoạt động sản xuất kinh
doanh của doanh nghiệp không bị gián đoạn, sử dụng hợp lý hơn trong nền
kinh tế.
Ngân hàng với tư cách là tổ chức trung gian tài chính, nơi tập trung
các nguồn vốn nhàn rỗi trong xã hội để cung ứng cho các khách hàng có
nhu cầu về vốn phục vụ sản xuất kinh doanh. Do đó, Ngân hàng là một tổ
chức kinh tế có vai trò quan trọng trong bất cứ một loại hình kinh tế nào.
Hoạt động ngân hàng trong nền kinh tế, giống như tuần hoàn máu trong cơ
thể con người. Do ngân hàng là sản phẩm của kinh tế hàng hoá nên chỉ
trong kinh tế thị trường, ngân hàng mới phát huy hết chức năng, nhiệm vụ
của nó.
Hoạt động tín dụng phát sinh ngay từ khi hình thành nền kinh tế
hàng hoá. Cùng với sự phát triển của sản xuất hàng hoá, công tác tín dụng
ngày càng được phát triển vàđóng một vai trò hết sức quan trọng trong nền
kinh tế quốc dân.
8
8
Nói về tín dụng ngân hàng có rất nhiều khái niệm. Qua nghiên cứu,
luận văn xin đưa ra khái quát một số quan niệm sau đây:
là việc ngân hàng cấp một khoản tiền cho khách hàng sử dụng và có
nguyên tắc hoàn trả. Quan điểm của luận văn làđồng tình với khái niệm nói
trên về tín dụng và hoạt động tín dụng.
1.1.1.2 Đặc trưng và vai trò của tín dụng ngân hàng
a)Đặc trưng, phân loại tín dụng
*Đặc trưng:
Trong bất kì hình thái xã hội nào tín dụng luôn mang ba đặc trưng cơ bản:
- Tín dụng là quan hệ vay mượn dựa trên cơ sở lòng tin. Lòng tin thể
hiện:
+ Người cho vay tin người đi vay sẽ hoàn trả vốn vay
+ Người cho vay tin người đi vay sẽ sử dụng vốn vay có hiệu quả.
- Tín dụng là quan hệ vay mượn có thời hạn, nếu không có thời hạn thì
không thể coi là một quan hệ tín dụng hoàn chỉnh.
- Tín dụng là quan hệ vay mượn có hoàn trả: hoàn trả là một thuộc tính
vốn có của tín dụng, nếu không có sự hoàn trả thì không thể coi là một
phương pháp tín dụng.
Ngoài ra trong nền kinh tế thị trường tín dụng còn mang hai đặc trưng sau:
+ Hoạt động tín dụng luôn bị chi phối bởi các qui luật kinh tế khách
quan của nền kinh tế thị trường: qui luật cung - cầu, qui luật giá trị, qui luật
cạnh tranh, qui luật lưu thông tiền tệ….
10
10
+ Hoạt động tín dụng luôn chứa đựng khả năng xảy ra rủi ro, bởi vậy
các NHTM luôn muốn hạn chế tối đa rủi ro.
*Phân loại
Tùy vào các căn cứ khác nhau ta có các hình thức tín dụng khác nhau
người ta thường căn cứ vào một số tiêu chí cơ bản sau:
- Căn cứ vào thời hạn cho vay ta có thể phân loại tín dụng như sau:
+ Tín dụng ngắn hạn: cho vay thời hạn không quá 12 tháng.
+ Tín dụng trung hạn: cho vay từ 12 tháng đến 60 tháng.
phần kinh tếđể các thành phần kinh tế phát triển, mở rộng sản xuất kinh
doanh, đa dạng hóa ngành nghề. Thông qua hoạt động tín dụng có thể khuyến
khích cấp tín dụng cho lĩnh vực này và hạn chế lĩnh vực khác, tạo ra sự
chuyển dịch cơ cấu kinh tế giữa các vùng, các ngành.
+ Tăng cường cơ sở vật chất kỹ thuật: Trong nền kinh tế thị trường các doanh
nghiệp muốn tồn tại luôn phải đổi mới công nghệ, thiết bị. Các doanh nghiệp thường
không cóđủ vốn để thực hiện được việc đó, họ thường thông qua kênh tín dụng để thực
hiện việc đổi mới kỹ thuật công nghệ, sau khi tăng cường cơ sở vật chất kỹ thuật các doanh
nghiệp cóđiều kiện vươn lên và phát triển.
+ Thúc đẩy mở rộng sản xuất: Tín dụng ngân hàng làđòn bẩy kinh tế thực hiện tái
sản xuất mở rộng để nâng cao hiệu quả kinh tế, giảm giá thành sản phẩm, tăng khả năng
cạnh tranh trên thị trường, giúp doanh nghiệp có thểđứng vững và tồn tại.
Thông qua kênh tín dụng của các Ngân hàng thương mại, Ngân hàng
Trung ương có thể kiểm soát hoạt động của nền kinh tế thông qua các công
cụ của chính sách lãi suất, nghiệp vụ Ngân hàng thương mại, Ngân hàng
Trung ương cho vay tái cấp vốn Ngân hàng Trung ương, Ngân hàng
thương mại đề ra mục tiêu cụ thể và các chính sách biện pháp điều chỉnh,
phù hợp trong từng thời kỳ nhằm thúc đẩy nền kinh tế phát triển theo định
hướng của Nhà nước, bảo đảm ổn định tiền tệ, kiểm soát lạm phát.
12
12
1.1.2 Những vấn đề cơ bản về rủi ro tín dụng của NHTM.
Trong hoạt động kinh doanh của mình các NHTM luôn phải chấp
nhận nhiều rủi ro, không một NHTM nào có thể loại trừ hết các rủi ro có
thể gặp phải. Như vậy, trong hoạt động kinh doanh, mục đích của Ngân
hàng không cho là thu được lợi nhuận cao mà còn phải hạn chếđến mức
thấp nhất rủi ro có thể xảy ra. Tuy nhiên trong phạm vi luận văn này em xin
chỉ trình bày một loại rủi ro cơ bản nhất - rủi ro tín dụng.
1.1.2.1 Khái niệm rủi ro tín dụng
Trong nền kinh tế thị trường, kinh doanh và rủi ro là hai phạm trù cặp
cung ứng tín dụng thì rủi ro tín dụng luôn có nguy cơ xảy ra, nó muôn hình
muôn vẻ, với nhiều hình thái, màu sắc, cung bậc khác nhau, nó luôn tiềm ẩn
trong suốt quá trình trước, trong và sau khi cho vay và nóđược biểu hiện ra
bên ngoài là số tiền cho vay không thu hồi được đầy đủ như mong đợi.
Rủi ro là nguyên nhân chủ yếu dẫn tới việc các ngân hàng bị phá sản.
Rủi ro tín dụng luôn tồn tại với hoạt động tín dụng, chúng ta không thể
giảm nó xuống bằng không mà chúng ta phải chấp nhận sự tồn tại của nó.
Nhưng không có nghĩa rằng chúng ta không quan tâm đến rủi ro, mà chúng
ta cần phải có các biện pháp để phòng ngừa hạn chếđến mức thấp nhất rủi
ro tín dụng có thể xảy ra.
1.1.2.2 Đặc điểm rủi ro tín dụng
- Rủi ro tín dụng mang tính chất gián tiếp:
Đặc điểm này xuất phát từ nguyên nhân là trong quan hệ tín dụng, ngân
hàng có sự chuyển giao về vốn giữa ngân hàng và khách hàng, có sự tách rời
về quyền sử dụng và quyền sở hữu về vốn sau một thời gian nhất định. Do
14
14
vậy nếu khách hàng sử dụng vốn không hiệu quả, sai mục đích vay thì có
thể dẫn đến rủi ro cho khách hàng và chính là rủi ro cho ngân hàng.
- Rủi ro tín dụng có tính chất đa dạng phức tạp:
Do hoạt động tín dụng đa dạng, phức tạp, mỗi một quan hệ tín dụng
có những đặc điểm riêng, do vậy rủi ro tín dụng xảy ra đối với mỗi trường
hợp cụ thể cũng không giống nhau. Do tính chất phức tạp như vậy cho nên
trong hoạt động tín dụng ta cần có nhiều biện pháp, phương án phòng ngừa
và hạn chế rủi ro tín dụng xảy ra.
- Rủi ro tín dụng luôn gắn liền với hoạt động của NHTM:
Trong hoạt động ngân hàng, hoạt động tín dụng và rủi ro luôn đi liền
với nhau, khi phát sinh một nghiệp vụ tín dụng thìđồng thời đã có một mức độ
rủi ro được xác lập. Sở dĩ có hiện tượng như vậy là do có sự thông tin không
cân xứng giữa người đi vay và người cho vay, người cho vay luôn muốn tìm
kiến mà không có lý do hợp lý.
+ Vốn vay sử dụng không đúng mục đích.
+ Thay đổi thường xuyên ban điều hành.
+ Đối với khách hàng là tư nhân cá thể, có dấu hiệu người vay bị
bệnh kéo dài hoặc chết
c) Dấu hiệu xuất phát từ chính sách tín dụng của Ngân hàng.
+ Cho vay mới với giá trị cao hơn nhưng không có thêm tài sản thế
chấp.
16
16
+ Cán bộ thực hiện khoản vay một cách không hợp lý, bỏ qua các
bước cần thiết trong qui trình tín dụng, dựa phần nhiều giữa quan hệ khách
hàng với mình.
+ Cán bộ tín dụng không thể kiểm tra, đánh giá tình trạng khoản vay
thường xuyên.
+ Cho vay với các doanh nghiệp mới có chủ sở hữu thiếu kinh
nghiệm.
+ Cung cấp tín dụng với khối lượng lớn cho các khách hàng không
thuộc thị trường, phân đoạn thị trường tối ưu của ngân hàng.
+ Có khuynh hướng cạnh tranh thái quá: giảm lãi suất cho vay, phí
dịch vụ hay thực hiện chiến lược "giữ chân" khách hàng bằng các khoản tín
dụng mới để họ không quan hệ với các TCTD khác mặc dù biết rõ các
khoản tín dụng sẽ cấp tiềm ẩn rủi ro cao.
1.1.2.4 Hậu quả rủi ro tín dụng
- Rủi ro làm suy giảm uy tín của ngân hàng:
Ngân hàng là một tổ chức trung gian tài chính, nguồn vốn họ dùng
trong kinh doanh phần lớn là nguồn huy động. Rủi ro tín dụng xảy ra phản
ánh hiệu quả kinh doanh, quản lý của ngân hàng kém, lòng tin của khách
hàng đối với ngân hàng giảm, chính là làm giảm uy tín của ngân hàng trên
thị trường, nó tác động mạnh nhất tới nghiệp vụ huy động vốn của ngân
1.1.2.5 Các chỉ tiêu đo lường rủi ro tín dụng
Rủi ro tín dụng luôn tồn tại cùng với hoạt động tín dụng "như hình với
bóng", ngân hàng không thể loại trừđược rủi ro tín dụng mà chỉ có thể hạn
chếđến mức thấp nhất các tổn thất có thể xảy ra.
18
18
Theo Quyết định 493/2005/QĐ-NHNN (ngày 22/04/2005) ban hành
Quy định về phân loại nợ, trích lập và sự dụng dự phòng để xử lý rủi ro tín dụng
trong hoạt động ngân hàng của TCTD thì các TCTD phải thực hiện phân loại nợ
thành:
+ Nhóm 1 (Nợđủ tiêu chuẩn) bao gồm: Các khoản nợđược tổ chức tín dụng
đánh giá là có khả năng thu hồi đầy đủ cả nợ gốc và lãi đúng hạn.
+ Nhóm 2 (Nợ cần chúý) bao gồm: Các khoản nợđược tổ chức tín dụng đánh
giá là có khả năng thu hồi Đầy đủ cả nợ gốc và lãi nhưng có dấu hiệu khách hàng
suy giảm khă năng trả nợ.
+ Nhóm 3 (Nợ dưới tiêu chuẩn) bao gồm: Các khoản nợđược tổ chức tín
dụng đánh giá là không có khả năng thu hồi nợ gốc và lãi khi đến hạn. Các khoản
nợ này TCTD đánh giá là có khả năng tổn thất một phần nợ gốc và lãi.
+ Nhóm 4 (Nợ nghi ngờ) bao gồm: Các khoản nợđược tỏ chức tín dụng đánh
giá là khả năng tổn thất cao.
+ Nhóm 5 (Nợ có khả năng mất vốn)bao gồm: Các khoản nợđược tổ chức tín
dụng đánh giá là không còn khả năng thu hồi, mất vốn.
Chính vì vậy, để phản ánh mức độ rủi ro tín dụng các NHTM thường
sử dụng một số chỉ tiêu sau:
+ Nợ quá hạn (NQH) : là khoản nợ mà một phần hoặc toàn bộ nợ gốc hoặc
lãi đã quá hạn.
NQH
+ Tỷ lệ NQH = x100
Tổng dư nợ
Đây là chỉ tiêu tương đối được sử dụng đểđánh giá chất lượng tín dụng.
20
20
+ Giúp xác định chính xác chất lượng tín dụng của ngân hàng.
1.2 Nguyên nhân rủi ro tín dụng và biện pháp phòng ngừa, hạn chế
1.2.1 Nguyên nhân rủi ro tín dụng
Với nền kinh tế thị trường, Kinh doanh và rủi ro là hai phạm trù cặp
đôi. Kinh tế thị trường làm đa dạng hóa các thành phần kinh tế, bình đẳng
hóa hoạt động của các thành phần này và thúc đẩy, cạnh tranh lẫn nhau. Rủi
ro xuất hiện ở những điểm yếu, kém hiệu quả, mất cân đối trong phát triển
kinh tế. Rủi ro vừa là nguyên nhân vừa là hậu quả của những hoạt động
kinh tế không có hiệu quả. Tín dụng ngân hàng tham gia vào tất cả các giai
đoạn của quá trình sản xuất, lưu thông hàng hóa, tham gia vào mọi thành
phần kinh tế, mọi lĩnh vực với nhiều yếu tố tác động đến hoạt động tín
dụng, kể cả yếu tố khách quan và chủ quan.
Nhận biết các nguyên nhân gây ra rủi ro tín dụng là một công việc
hết sức quan trọng. Quá trình này đòi hỏi phải phân tích theo cả ba hướng:
+ Các nguyên nhân từ phía môi trường.
+ Năng lực thanh toán nợ và thái độ sẵn sàng chi trả của khách hàng.
+ Sai sót trong quá trình cho vay.
1.2.1.1 Nguyên nhân khách quan
* Chính trị - pháp luật
Ngành ngân hàng luôn có một vị trí quan trọng tại mỗi quốc gia nên
các ngân hàng luôn bị các cơ quan nhà nước có thẩm quyền quản lý chặt
chẽ. Cũng chính vì vậy, ngành ngân hàng là một trong nhiều ngành chịu
ảnh hưởng lớn trước mỗi sự biến động của chính trị. Sự biến động về chính
trị - pháp luật ảnh hưởng trực tiếp đến ngân hàng hoặc khách hàng của
họđều có nguy cơ gây ra rủi ro tín dụng.
- Môi trường pháp lý:
21
21
Nhất cử nhất động của môi trường kinh tế đều có thể tác động đến
sức khoẻ ngành ngân hàng.
Môi trường kinh tế có ảnh hưởng đến sức mạnh tài chính của người
đi vay, đến sự thành công hay thất bại của người đi vay. Sự tăng trưởng hay
suy thoái của chu kỳ kinh tế cũng ảnh hưởng đến lợi nhuận của người đi
vay. Trong giai đoạn kinh tế tăng trưởng, doanh nghiệp bán được nhiều
hàng hoá, do đó lợi nhuận thu được cao, doanh nghiệp có nguồn thu trả nợ
Ngân hàng. Nhưng trong thời kỳ suy thoái, hàng hoá không bán được,
doanh thu bị giảm sút, doanh nghiệp không có lợi nhuận để trả nợ, Ngân
hàng không thu được gốc và lãi đúng hạn.
Tùy vào mức độ nghiêm trọng của cuộc khủng hoảng mà việc ảnh
hưởng lên cá nhân và các doanh nghiệp sản xuất kinh doanh cũng như lên
khả năng thanh toán các khoản nợ của họ ở mức độ khác nhau: mức độ
khủng hoảng càng cao, sức mua của người tiêu dùng càng giảm sút làm cho
hàng hoá bán ra càng giảm mạnh, ảnh hưởng tới lợi nhuận của doanh
nghiệp.Thất nghiệp tăng, cho vay cá nhân tại các ngân hàng cũng dễ gặp
rủi ro lớn….
Lạm phát cũng ảnh hưởng bất lợi đến công việc kinh doanh: Chi phí
đầu vào tăng làm cho các doanh nghiệp khó khăn về tài chính dẫn đến nhu
cầu tín dụng tăng. Nợ không thay đổi tương ứng với sức mua đồng tiền, vì
vậy đã trở nên gánh nặng đối với doanh nghiệp, kết quả là không trả được
nợ.
Tình hình kinh tế thế giới cũng ảnh hưởng không nhỏ đến hoạt động
ngân hàng ở từng quốc gia. Với xu hướng hội nhập, khi các ngân hàng
nước ngoài được đối xử bình đẳng trên thị trường Việt Nam thì các NHTM
Việt Nam đứng trước sự cạnh tranh gay gắt, và như vậy các ngân hàng
buộc phải chấp nhận những dự án và phương án có mức rủi ro cao.
23
23
Để tự bảo vệ mình trước sự biến động không ngừng của nền kinh tế
động đất, núi lửa, bão lụt, hạn hán, dịch bệnh…mà ngân hàng không thể
lường hết được. Những thiệt hại này đều có thể tác động trực tiếp hoặc gián
tiếp tới hoạt động kinh doanh và hiệu quả kinh doanh của khách hàng, làm
cho khách hàng kinh doanh giảm sút, gặp khó khăn thì khả năng trả nợ cho
ngân hàng sẽ giảm, do vậy có thể dẫn đến rủi ro trong hoạt động tín dụng.
Trong thời gian vừa qua, chúng ta đã chịu ảnh hưởng của dịch cúm
gia cầm, ảnh hưởng đến người chăn nuôi gia cầm. Khi người chăn nuôi gia
cầm phải tiêu hủy đàn gia cầm cửa mình có nghĩa là họ sẽ khó có khả năng
trả nợđúng hạn cho ngân hàng, hàng loạt các ngân hàng có khách hàng làm
nghề chăn nuôi gia cầm đều phải tiến hành gia hạn nợ cho khách hàng của
mình.
Các yếu tố khách quan nêu trên thường khó dự báo và ngân hàng
thường không thể lường hết được. Mọi ngân hàng kinh doanh trong điều
kiện kinh tế thị trường không thể loại bỏ hết rủi ro mà chỉ phòng ngừa và
dự báo một phần nào mà thôi.
1.2.1.2 Nguyên nhân chủ quan:
Trong quan hệ tín dụng ngân hàng luôn ở vị thế " không cân xứng về
thông tin". Vì vậy ngân hàng dễ rơi vào tình trạng rủi ro đạo đức và sự lựa
chọn đối nghịch.
* Từ phía khách hàng:
Rủi ro từ phía khách hàng thường là nguyên nhân chính và cổđiển
nhất dẫn đến rủi ro tín dụng.
Khi đi vay khách hàng luôn cung cấp cho ngân hàng những thông tin
tốt về mình. Chính vì vậy, các ngân hàng thường khó có thể đánh giá chính
xác về khách hàng của mình. Đặc biệt rủi ro khi ngân hàng đã cho vay mà
25
25