Chơng i :
Tổng quan về nghiệp vụ quản lí danh mục đầu t chứng
khoán của Công ty chứng khoán
1.1. Khái niệm và vai trò của nghiệp vụ quản lý danh mục đầu t
chứng khoán của công ty chứng khoán:
1.1.1. Khái niệm danh mục đầu t:
Danh mục tài sản đầu t: là tập hợp tất cả các tài sản đầu t mà một cá nhân
hay một tổ chức nắm giữ vào một thời điểm nhất định.
Để làm rõ khái niệm về danh mục tài sản đầu t chúng ta cần làm rõ: tài sản
đầu t là gì?
Bất kỳ những gì có giá trị trong giao dịch mà ngời ta sở hữu đều là tài sản.
Tài sản đợc phân ra thành hai loại tài sản chủ yếu là tài sản hữu hình và tài sản tài
chính.
Tài sản hữu hình:
Là những tài sản nh nhà cửa, đất đai, địaốc Đây cũng là tài sản đ ợc các nhà
đầu t lớn quan tâm.
Tài sản tài chính:
Tài sản tài chính bao gồm tiền, đá quý, kim loại quý và chứng khoán. Chứng
khoán bao gồm các dạng chính là chứng khoán nợ, chứng khoán vốn và chứng
khoán phái sinh.
Chứng khoán vốn:
Tiêu biểu cho chứng khoán nợ là cổ phiếu. Cổ phiếu là chứng chỉ hoặc bút
toán ghi sổ xác nhận quyền sở hữu và lợi ích hợp pháp của cổ đông đối với tài sản
và những khoản thu nhập trong tơng lai của công ty phát hành.
Trong đó cổ đông là nhà đầu t nắm giữ cổ phiếu của công ty, họ có thể mua
bán, chuyển nhợng cổ phiếu. Cổ phiếu có thể chia làm nhiều loại nhng xét ở giác độ
nhà đầu t thì cổ phiếu thờng có những đặc điểm chính nh sau:
Không có thời gian đáo hạn.
Cổ phiếu có nhiều u điểm nh: đem lại quyền kiểm soát công ty cho cổ đông,
tính thanh khoản cao, có khả năng tạo thu nhập cao từ sự tăng giá và cổ tức,
thờng đợc u đãi về thuế đối với khoản thu nhập từ cổ phiếu.
Quản lý danh mục đầu t: là việc xây dựng một danh mục các loại tài sản đầu
t, thực hiện theo dõi và điều chỉnh các danh mục này nhằm đáp ứng tốt nhất mục
tiêu của nhà đầu t.
Với mỗi nhà đầu t khác nhau lại có những mục tiêu không giống nhau, nhng
nhìn chung luôn phải cân nhắc một số vấn đề rủi ro và lợi suất đầu t, thời hạn đầu t-
Có nhà đầu t đặt vấn đề rủi ro cao hơn lợi suất họ sẽ đặt ra mục tiêu tối đa hoá lợi
suất ứng với mức rủi ro có thể chấp nhận. Nhà đầu t khác lại đặt coi trọng lợi suất
hơn rủi ro và họ sẽ đặt mục tiêu tối thiểu hoá rủi ro ứng với mức lợi suất nhất định.
Quản lý danh mục đầu t tốt sẽ giúp họ đạt đợc những mục tiêu đó.
b) Khái niệm quản lý danh mục đầu t của công ty chứng khoán
Đối tợng áp dụng nghiệp vụ quản lý danh mục đầu t là các chủ thể đầu t. Có
nhiều chủ thể đầu t, bao gồm: các nhà đầu t cá nhân, các quỹ đầu t chứng khoán và
các công ty quản lý quỹ; các công ty bảo hiểm nhân thọ và phi nhân thọ; các Ngân
hàng thơng mại, các Công ty chứng khoán với mục đích là tự doanh và cung cấp
dịch vụ quản lý danh mục đầu t. Các công ty chứng khoán cũng thực hiện việc quản
lý danh mục đầu t với hai mục đích này.
Khi thực hiện nghiệp vụ quản lý danh mục đầu t cho khách hàng, đối với các
công ty quản lý quỹ danh mục đầu t có thể bao gồm tất cả các loại tài sản (nh đã
trình bày ở mục 1.1.1). Tuy nhiên đối với các công ty chứng khoán danh mục đầu t
chỉ gồm các loại chứng khoán mà thôi.
Trong bài viết này, đối tợng nghiên cứu là nghiệp vụ quản lý danh mục đầu t
chứng khoán của công ty chứng khoán nên sau đây cụm từ quản lý danh mục đầu t
với cụm từ quản lý danh mục đầu t chứng khoán sẽ đợc dùng tơng đơng nhau. Và
nghiệp vụ quản lý danh mục đầu t của công ty chứng khoán đợc xét ở giác độ cung
cấp dịch vụ quản lý danh mục đầu t cho khách hàng.
Muốn thực hiện nghiệp vụ quản lý danh mục đầu t công ty chứng khoán sẽ
phải ký hợp đồng uỷ thác đầu t với khách hàng. Trong hợp đồng sẽ quy định quyền
lợi, quyền hạn và trách nhiệm của mỗi bên nh: phí quản lý danh mục đầu t, mức độ
gánh chịu rủi ro, quyền quyết định danh việc lập danh mục đầu t của công ty chứng
khoán
sinh lợi. Tuy nhiên nhiều khi họ vẫn phải để trong két hoặc gửi ngân hàng với mức
lãi suất không đáng kể mà không tham gia thị trờng chứng khoán mặc dù họ không
tìm ra bất kỳ một hình thức đầu t nào khác. Có rất nhiều lý do khiến họ không trực
tiếp tham gia thị trờng chứng khoán nh: không đủ kinh nghiệm, kiến thức, lợng vốn
nhàn rỗi không đủ lớn Công ty chứng khoán với t cách là nhà cung cấp dịch vụ
quản lý danh mục đầu t sẽ phải tìm cách giải quyết những vấn đề trên mà nhà đầu
t gặp phải cũng nh thoả mãn tốt nhất nhu cầu của họ. Trong nỗ lực đó công ty
chứng khoán đồng thời cũng đã thu hút nhà đầu t tham gia thị trờng giúp thị trờng
chứng khoán thực hiện đợc vai trò là một kênh huy động vốn quan trọng cho nền
kinh tế.
Khi các nhà đầu t cá nhân tham gia đầu thị trờng chứng khoán nhiều khi
không đủ điều kiện đánh giá đúng giá trị thực tế của chứng khoán hay của các công
ty phát hành. Nhiều khi các công ty làm ăn tốt, có những dự án có khả năng sinh lời
cao trong tơng lai thì việc huy động vốn qua thị trờng chứng khoán lại gặp khó
khăn. Các công ty chứng khoán có cả một chuyên gia tài chính chuyên làm những
công việc này có thể đánh giá một cách chính xác hơn, làm cho giá chứng khoán
phản ánh đúng giá trị thực của nó hay giá trị thực của công ty. Những công ty làm
ăn không tốt giá chứng khoán sẽ giảm, còn đối với những công ty làm ăn tốt giá
chứng khoán sẽ tăng. Nh vậy công ty chứng khoán khi thực hiện nghiệp vụ quản lý
danh mục đầu t sẽ giúp cho thị trờng chứng khoán trở thành một "phong vũ biểu của
nền kinh tế".
Công ty chứng khoán khi thực hiện nghiệp vụ quản lý danh mục đầu t sẽ
nâng cao vai trò của các tổ chức tài chính trung gian đối với thị trờng chứng khoán.
Điều này sẽ giúp nâng cao chất lợng thị trờng, tạo ra một thị trờng chứng khoán
phát triển ổn định.
1.2. Cơ sở lý thuyết của nghiệp vụ quản lý danh mục đầu t:
1.2.1. Lý thuyết thị trờng có hiệu quả:
Lý thuyết thị trờng có hiệu quả đợc bắt nguồn từ kết quả nghiên cứu của
Maurice Kendall năm 1953, ông cho rằng giá cổ phiếu thay đổi ngẫu nhiên, không
có quy luật và không thể dự đoán đợc.
Lý thuyết này cũng giả định rằng các nhà đầu t về cơ bản là ngại rủi ro, có nghĩa
rằng nếu phải lựa chọn giữa hai loại tài sản cùng đem lại một mức lợi suất đầu t nh
nhau thì họ sẽ chọn loại tài sản có rủi ro thấp hơn. Tuy nhiên, mỗi ngời lại có một
mức độ chấp nhận rủi ro khác nhau so với lợi suất đầu t mà họ có thể nhận đợc.
1.2.2.1.Mức ngại rủi ro và hàm hữu dụng:
Trên thị trờng chứng khoán, việc tồn tại nhiều loại hình đầu t cũng nh nhiều
nhà đầu t là điều tất yếu. Do vậy, cũng có nhiều quan điểm khác nhau về rủi ro và
mức độ chấp nhận rủi ro. Khi phân tích đầu t các nhà đầu t đều căn cứ vào mức độ
chấp nhận rủi ro hay mức ngại rủi ro của mình làm cơ sở. Qua đó, khi phân tích
danh mục đầu t, các nhà đầu t phải lựa chọn cho mình một danh mục đầu t có tỷ lệ
lợi nhuận mong đợi (E
(r)
) bù đắp đợc những rủi ro có liên quan.
Phân tích vấn đề này, các nhà kinh tế đã chứng minh bằng cách định lợng hoá
qua hàm hữu dụng biểu thị mối quan hệ giữa rủi ro, lợi suất kỳ vọng và mức ngại
rủi ro của từng nhà đầu t.
Công thức biểu thị mối quan hệ trên bằng hàm hữu dụng:
Trong đó: U : giá trị hàm hiệu dụng.
A : chỉ số biểu thị mức ngại rủi ro.
E
(r)
: lợi suất bình quân ớc tính
: độ lệch chuẩn của E
(r)
Chỉ số A càng cao thì mức độ ngại rủi ro càng cao. Nh vậy, với một nhà đầu t
cụ thể (A cố định) thì mức độ hiệu dụng (U) càng cao chứng tỏ danh mục tơng ứng
có mức đền bù, bù đắp rủi ro cao hơn. Nh vậy, nhà đầu t có thể sử dụng thang điểm
U để đánh giá danh mục đầu t của mình họ sẽ lựa chọn danh mục mang lại giá trị
hữu dụng cao nhất.
Phơng trình trên cũng cho thấy, giá trị hữu dụng sẽ tăng nếu lợi suất mong đợi
Khi phân tích một danh mục đầu t, ta phải quan tâm đến rủi ro của cả danh
mục chứ không chỉ đơn thuần quan tâm tới rủi ro của một loại chứng khoán .
Trong mỗi môn học khác nhau lại có cách hiểu khác nhau về rủi ro. Còn
trong đầu t chứng khoán rủi ro là khả năng (hay xác suất) xảy ra những kết quả đầu
t ngoài dự kiến. Nh vậy, rủi ro của danh mục đầu t là khả năng làm cho mức sinh
lời thực tế trong tơng lai của danh mục đầu t khác với mức sinh lời dự kiến ban
đầu.
- Đa dạng hoá danh mục đầu t:
Một trong những phơng pháp cơ bản kiểm soát rủi ro là đa dạng hóa đầu t.
Theo đó, việc đầu t nên đợc thực hiện qua nhiều loại tài sản khác nhau tạo thành
một danh mục đầu t sao cho tổng mức rủi ro trên toàn bộ danh mục sẽ đợc giới hạn
nhỏ lại.
E (r
p
) = W
1
E(r
1
) + W
2
E(r
2
) + +W
n
E(r
n
) =
=
n
thống
Rủi ro hệ
thống
Rủi ro không
hệ thống
Rủi ro hệ
thống
Rủi ro tổng thể
2
1
(Số lợng chứng khoán)
n
1.2.3. Mô hình Markowitz:
Dựa vào những diễn biến thực tế về giá cổ phiếu trên thị trờng chứng khoán
Mỹ Harry Markowitz đã phát hiện ra rằng với một thời gian đủ lớn những gì xảy ra
với giá cổ phiếu lại lặp lại trong tơng lai. Từ phát hiện này ông đã chứng minh đợc
tỷ suất sinh lợi của một cổ phiếu tuân theo quy luật phân phối chuẩn. Điều đó có
nghĩa là có thể định giá đợc một chứng khoán nếu biết doanh lợi kỳ vọng và phơng
sai của nó. Cũng bằng thực nghiệm ông còn chứng minh rằng với cùng một khoản
vốn nh nhau và cùng khả năng chấp nhận rủi ro, danh mục đầu t đa dạng hoá mang
lại lợi nhuận kỳ vọng cao hơn danh mục chỉ đầu t vào một chứng khoán riêng lẻ.
Với cùng một khoản vốn nhất định nhà đầu t có thể có rất nhiều cách kết hợp
các loại tài sản đầu t để tạo nên những danh mục đầu t có tỷ lệ lợi tức kỳ vọng và độ
lệch chuẩn khác nhau. Và theo Markowitz, tập hợp tất cả các danh mục khi biểu
diễn trên đồ thị sẽ tạo thành một hình nh sau:
Đồ thị 1.2: Đờng cong hiệu quả Markowitz
Vì các nhà đầu t đều muốn tăng doanh lợi kỳ vọng và giảm thiểu rủi ro nên
họ chỉ quan tâm đến những danh mục nằm trên đờng cong in đậm XAB (không tính
đến đoạn BY vì ứng với cùng một mức rủi ro (
1.2.4.1. Các giả định của mô hình CAPM
- Các nhà đầu t chỉ xem xét danh mục qua một thời kỳ.
- Các nhà đầu t đều ngại rủi ro, tức là luôn muốn lợi nhuận cao hơn với cùng
một mức rủi ro và rủi ro thấp hơn với cùng một mức lợi nhuận.
-Các tài sản trong thị trờng có thể đợc phân chia vô hạn. Đây là cơ sở cho
việc xây dựng một danh mục thị trờng hoàn hảo.
- Tồn tại một mức lãi suất phi rủi ro mà tại đó mọi nhà đầu t có thể vay hoặc
cho vay không hạn mức.
- Không có phí và thuế giao dịch.
- Thông tin đồng đều đến mọi nhà đầu t. Do đó, họ có kỳ vọng đồng nhất, tức
là có cùng nhận thức về lợi nhuận kỳ vọng, độ lệch chuẩn và hiệp phơng sai của
mọi chứng khoán.
1.2.4.1.Danh mục đầu t thị tr ờng (Market Porfolio):
Danh mục đầu t thị trờng là một danh mục đầu t bao gồm tất cả những tài sản có
nguy cơ rủi ro trên thị trờng nh cổ phiếu, trái phiếu và mỗi tài sản trong danh mục
này chiếm một tỷ lệ đúng bằng tỷ lệ của tài sản đó trong tổng giá trị của toàn bộ thị
trờng.
Để đơn giản hoá, ngời ta đồng nhất khái niệm tài sản rủi ro với cổ phiếu là một.
Tỷ lệ của mỗi cổ phiếu trong danh mục đầu t thị trờng đợc xác định bằng cách lấy
tổng giá trị thị trờng của cổ phiếu đó chia cho tổng giá trị thị trờng của tất cả các cổ
phiếu đang đợc giao dịch trên thị trờng.
1.2.4.2 Đ ờng thị tr ờng vốn (The Capital Market Line - CML):
Một câu hỏi đặt ra là khi đã tạo đợc danh mục đầu t cổ phiếu hiệu quả liệu
còn có cách nào tạo ra một danh mục có lợi suất cao hơn không? Câu trả lời là có
nếu nh trên thị trờng tồn tại một mức lãi suất phi rủi ro (r
f
) mà nhà đầu t có thể đi
vay hoặc cho vay không hạn chế ở mức lãi suất này. Lúc này nhà đầu t sẽ kết hợp
giữa tài sản phi rủi ro và danh mục rủi ro hiệu quả đã xét. Và có một điều thú vị xảy
ra là đờng biểu diễn mối quan hệ giữa doanh lợi và rủi ro trong mô hình Markowitz
A
Độ lệch chuẩn
Doanh lợi kỳ vọng
i
X
Y
M
r
f
CML
Đờng hiệu quả
Markowitz
r
A
r
B
r
m
B
mục mới (P) sẽ là sự kết hợp giữ hai loại tài sản đó với tỷ trọng của chúng lần lợt là
x
1
, x
2
.
Ta sẽ có công thức tính phơng sai của danh mục gồm hai tài sàn:
p
p
= x
1
1
x
1
=
p
/
1
r
P
= x
1
r
1
+ x
2
r
2
= x
1
r
1
+ (1-x
1
) r
M
= 1.0
0
i
> 0
< 0
r
P
= r
f
+
p
1
1
f
rr
Các nhà nghiên cứu xây dựng mô hình CAPM với nội dung đợc lợng hoá bởi
công thức:
Trong đó: E(R
i
) : Lợi suất kỳ vọng của chứng khoán i
E ( R
M
) :Lợi suất kỳ vọng của danh mục thị trờng.
R
f
: lãi suất phi rủi ro
M
) - R
f
]
1.2.5. Các lý thuyết khác:
ở trên chúng ta đã phân tích nhiều về ý nghĩa to lớn và những ứng dụng của
CAPM trong hoạt hộng đầu t chứng khoán tuy nhiên cần để ý rằng mô hình này vẫn
còn rất nhiềukhuyết điểm do sử dụng quá nhiều những giả thiết, mà trong thực tế
các giả thiết này khó có thể đợc đảm bảo. Vì lẽ đó tính ứng dụng của CAPM vào
thực tế không cao. Để khắc phục những khuyết điểm này các nhà nghiên cứu đã xây
dựng thêm rất nhiều lý thuyết mới nhằm mục đích đơn giản hoá mô hình CAPM để
mô hình này trở nên thực tiễn hơn.
-Mô hình đơn chỉ số (Single Index Model) của một thị trờng phân loại các
nguồn gốc rủi ro thành các nhân tố hệ thống (vĩ mô) và các nhân tố riêng (vi mô).
Mô hình đơn chỉ số giả thiết rằng các nhân tố vĩ mô có thể đợc đại diện bằng chỉ số
thị trờng. Mô hình này giảm đợc công việc tính toán đầu vào trong quy trình lựa
chọn chứng khoán vào danh mục đầu t theo mô hình Markowitz, góp phần chuyên
môn hoá lao động trong phân tích chứng khoán. Mô hình đơn chỉ số đợc tính toán
bằng cách áp dụng phân tích hồi quy đối với chênh lệch lợi tức của một chứng
khoán với lợi tức của thị trờng. Hệ số hồi quy của phép hồi quy này chính là Hệ số
bê-ta của một tài sản trong khi số hạng tự do là chỉ số alpha của chứng khoán. Đờng
hồi quy tính đợc còn đờng gọi là Đờng đặc trng chứng khoán (Security
Characteristic Line). Hệ số bê-ta của hồi quy tơng ứng với hệ số bê-ta của Mô hình
CAPM, chỉ khác là trờng hợp hồi quy sử dụng lợi tức thực sự, còn CAPM sử dụng
lợi tức kỳ vọng. Mô hình CAPM cũng coi tổng hệ số alpha của các chứng khoán
tính đợc qua Mô hình đơn chỉ số sẽ bằng không.
-Mô hình đa chỉ số (Multi-factor Model) là sự mở rộng Mô hình đơn chỉ số
bằng cách mô hình hoá nhân tố vĩ mô với nhiều chi tiết hơn. Các mô hình này sử
dụng các chỉ số nhằm cố gắng đại diện cho nhiều yếu tố kinh tế vĩ mô hơn và đôi
khi sử dụng cả các chỉ số phản ánh tơng quan doanh nghiệp.
ợc thì dự đoán đó đã sẵn sàng đợc phản ánh vào trong giá cổ phiếu ngày hôm nay.
Vì vậy, giá của cổ phiếu khi nhận đợc những thông tin mới cũng sẽ thay đổi không
thể dự đoán đợc.
Đây chính là cốt lõi của lý luận cho rằng giá của cổ phiếu diễn biến một cách
ngẫu nhiên (Random Walk).
Cần phân biệt tính ngẫu nhiên của việc thay đổi giá với tính không hợp lý
trong mức giá. Nếu giá đợc xác lập một cách hợp lý thì chỉ những thông tin mới
mới tạo ra thay đổi giá. Vì vậy tính ngẫu nhiên sẽ là kết quả tất yếu của giá khi giá
này đã bao hàm tất cả những thông tin hiện tại. Nếu giá của cổ phiếu có thể dự đoán
đợc thì đây là bằng chứng thị trờng không hiệu quả bởi vì các thông tin cha đợc
phản ánh vào trong giá. Vì vậy, một thị trờng đợc coi là hiệu quả nếu giá của cổ
phiếu phản ánh tất cả các thông tin hiện có trên thị trờng.
1.3. Các chiến lợc quản lý danh mục đầu t:
1.3.1.Quản lý danh mục trái phiếu:
1.3.1.1 Chiến l ợc thụ động:
Quản lý thụ động là chiến lợc mua và nắm giữ trái phiếu cho đến khi đáo hạn
mà không cần quan tâm đến các biến động lãi suất. Theo phơng pháp này, tốt nhất
là đầu t vào các danh mục có thành phần trái phiếu tơng tự nh các chỉ số trên thị tr-
ờng nhằm thu đợc kết quả tơng tự nh của chỉ số đó.
Ví dụ trên thị trờng Mỹ có một số loại chỉ số trái phiếu nh: Gov.Bond Index,
Eurdollar Bond Index, Merrill Lynch Domestic Market Index (5000) v.v
1.3.1.2 Chiến l ợc chủ động:
Ngày nay, khi thị trờng tài chính phát triển các nguồn vốn lu thông và biến
đổi liên tục thì việc mua và nắm giữ trái phiếu cho đến khi đáo hạn đôi khi nảy sinh
rất nhiều bất cập và không tận dụng đợc các cơ hội về đầu t, sinh lời Vì vậy, việc
mua bán lại trái phiếu trớc hạn trên thị trờng chứng khoán là một xu hớng tất yếu.
Việc mua bán trớc hạn này có thể mang lại những kết quả nằm ngoài sự mong đợi
(dự tính), qua đó hoạt động đầu t đã gặp rủi ro về lãi suất. Do vậy, vấn đề trọng yếu
nhất của chiến lợc quản lý trái phiếu là loại bỏ rủi ro lãi suất.
Rủi ro về lãi suất bao gồm rủi ro về giá và rủi ro về tái đầu t:
t : số kỳ đến khi đáo hạn (năm)
n : kỳ hạn trái phiếu (năm)
M : mệnh giá.
Qua công thức trên ta có nhận xét:
- Duration là khoảng thời gian trung bình cần thiết để ngời nắm giữ trái phiếu
có thể nhận dợc toàn bộ gốc và lãi.
- Duration là thời điểm trong toàn bộ quãng đời của trái phiếu mà tại đó lợi tức
của trái phiếu không thay đổi mặc dù có sự tác động của lãi suất thị trờng (r).
Duration =
P
r
M
n
r
c
t
n
t
nt
=
+
ì+
+
ì
1
)1()1(
Từ đặc điểm trên của Duration ngời ta đã đa ra phơng pháp loại bỏ rủi ro lãi
suất cho danh mục trái phiếu nh sau:
Giả định tất cả các lãi suất đều thay đổi một lợng nh nhau, một danh mục đầu
*D
A
+ W
B
*D
B
= 2.5
- Giá trái phiếu A:
P
A
= 60/1.08 + (60+1000)/1.08
2
=964USD
D
A
= (60/1.08 + 2(60+1000)/1.08
2
)/964 = 1.94(năm)
- Giá trái phiếu B:
P
B
= 90/1.08 + 90/1.08
2
+ 90/1.08
3
+ (90+1000)/1.08
4
=1033USD
D
B
Số tiền đầu t vào trái phiếu A là:
2000000*0.65 = 1300000 USD
Số tiền đầu t vào trái phiếu B là:
2000000*0.35 = 700000 USD
Số trái phiếu A cần mua là:
1300000 : 964 = 1348.5
Số trái phiếu B cần mua là:
700000 : 1033 = 677.6
* Tại thời điểm t
1
(1 năm sau): r
1
= 7.75%; kỳ đầu t 1.5 năm.
Nh vậy chúng ta cần khớp thời gian đáo hạn bình quân của danh mục (D
P
)
với kỳ đầu t: D
P
= 1.5
- Trái phiếu A:
P
A
=1060/1.0775 = 983.76 USD
D
A
= 1 (năm)
- Trái phiếu B:
P
B
D
A
+(1- W
A
)D
B
= 1.5
W
A
= 0.71
W
B
= 0.29
Do có sự thay đổi về lãi suất thị trờng nên giá trị danh mục đầu t cũng có sự
thay đổi. Ta thực hiện việc tính lại giá trị danh mục nh sau:
Giá trị danh mục sau 1 năm =
60*1348.5+983.76*1348.5+90*677.6+1032.3*677.6=2.167.980 USD.
Số tiền đầu t vào trái phiếu A là: 0.71*2167980 = 1539266 USD
Số tiền đầu t vào trái phiếu B là: 0.29*2167980 = 628714 USD
Số trái phiếu A cần đầu t là: 1539266/983.76 = 1565 A
Số trái phiếu B cần đầu t là: 628714/1032.3 = 609 B
Ta nhận thấy:
Danh mục đầu t ban đầu: 1348.5 A và 672.6 B
Danh mục cần đầu t mới: 1565 A và 609 B
Nh vậy cần bán 63.6 trái phiếu B cộng thêm với tiền lãi Coupon để mua
216.1 trái phiếu A thì sẽ loại bỏ đợc rủi ro lãi suất cho danh mục gồm hai trái phiếu
A, B.
)1(
)1(1
2
1
22
2
ì
+
+
+
+
+
=ì
+
=
+
Giá
Lợi suất
A B
B
A
một mức rủi ro nhất định.
Quy trình quản lý danh mục đầu t chủ động nh sau:
Xác định mục tiêu của khách hàng đặt ra: khách hàng đầu t có thể đa ra các
yêu cầu cụ thể cho khoản đầu t của mình, chẳng hạn đặt ra mục tiêu chỉ đầu
t vào loại cổ phiếu công ty nhỏ; với hệ số P/E thấp và ứng với một mức rủi ro
nào đó, chẳng hạn cao hơn, bằng hoặc thấp hơn mức rủi ro của danh mục thị
trờng
Lập ra một danh mục chuẩn (hay còn gọi danh mục "thông thờng") để làm
căn cứ so sánh cho danh mục chủ động trên đây. Chẳng hạn, ứng với các yêu
cầu trên đây thì danh mục chuẩn bao gồm tất cả các loại cổ phiếu của công
ty nhỏ (nh trên thị trờng Mỹ thì đó là những công ty có vốn tính theo giá thị
trờng dới $500 triệu), với hệ số P/E thấp (dới 80% hệ số P/E của các công ty
thuộc chỉ số S&P), với tỷ trọng vốn đều nhau.
Xây dựng một chiến lợc và kết cấu danh mục đầu t tối u thoả mãn nhu cầu
ngời đầu t theo quy trình sau:
a/ Thực hiện phân tích những ngành và công ty riêng lẻ thoả mãn mục tiêu
đặt ra, (ví dụ những công ty nhỏ thuộc ngành viễn thông), để tìm ra những cơ hội
đầu t tốt nhất.
Về mặt kỹ thuật, để thực hiện việc lựa chọn cổ phiếu, ngời ta có thể áp dụng
một số biện pháp nh lập danh sách theo chỉ tiêu hoặc đánh giá theo định lợng.
Phơng pháp lập danh sách đơn thuần là việc liệt kê tất cả các chỉ tiêu cần đợc
thoả mãn (kể cả chỉ tiêu do ngời đầu t đặt ra và chỉ tiêu phân tích) và đa vào máy
tính để lập nên danh sách những cổ phiếu thoả mãn các chỉ tiêu đó. Các chỉ tiêu đặt
ra có thể là chỉ tiêu về vốn; hệ số P/E; ngành nghề; hệ số thu nhập trên vốn cổ đông
(ROE); tỷ lệ chia cổ tức, cổ tức ổn định hay tăng trởng
Phơng pháp định lợng đợc thực hiện theo nhiều cách. Thứ nhất, nhà quản lý
xác định độ nhạy cảm của giá (hay thu nhập) của cổ phiếu tới các yếu tố kinh tế nh
tỷ giá ngoại hối, lạm phát, lãi suất hoặc mức chi tiêu của công chúng để làm căn cứ
đầu t. Nhà quản lý danh mục có thể dựa trên các thông tin đó cùng với sự phân tích
và nhận định về diễn biến tình hình kinh tế để đa ra các quyết định phù hợp.
vực ngành nghề khác nhau hoặc cùng một lĩnh vực để rút bớt vốn từ loại cổ phiếu
có nguy cơ sụt giá chuyển sang cổ phiếu khác có tiềm năng hơn. Thứ hai, các nhà
quản lý thấy cần phải chuyển cổ phiếu từ lĩnh vực này sang lĩnh vực khác nhằm đa
dạng hoá và phòng ngừa rủi ro vì loại cổ phiếu đang nắm giữ ban đầu có nguy cơ
tăng mức rủi ro. Thứ ba, trong quá trình đầu t, nhà quản lý phát hiện ra một hoặc
một số chứng khoán khác đang tạm thời bị định giá thấp hơn giá trị thực của nó, do
vậy phải mua các cổ phiếu này để thay thế cho một số cổ phiếu tơng đơng (cùng
lĩnh vực, cùng độ rủi ro vv ) hiện có trong danh mục, hoặc ngợc lại nếu thấy cổ
phiếu trong danh mục bị định giá cao thì có thể bán đi thay thế bằng loại tơng đơng
khác không bị định giá cao.
2.3.3.Quản lý danh mục đầu t hỗn hợp:
ý tởng về quản lý danh mục hỗn hợp đợc xây dựng trên nguyên lý mô hình
CAPM, cụ thể hơn là nguyên lý của đờng thị trờng vốn CML. Trong đó danh mục
đợc tạo ra từ việc kết hợp giữa danh mục cổ phiếu đạt hiệu quả Markowitz với
chứng khoán phi rủi ro đợc gọi là danh mục đầu t hỗn hợp. Nh vậy muốn thực hiện
việc đầu t theo danh mục hỗn hợp trớc tiên chúng ta phải tạo ra danh mục cổ phiếu
đạt hiệu quả Markowitz. Do đó phơng pháp quản lý danh mục tổng thể cũng bao
gồm hai phơng pháp quản lý thụ động và quản lý chủ động nh đối với danh mục cổ
phiếu.
2.3.3.1.Phơng pháp thụ động:
Quản lý danh mục hỗn hợp bằng phơng pháp thụ động gồm các bớc nh sau:
- Trớc hết cần lập ra một danh mục cổ phiếu thụ động đảm bảo đạt hiệu quả
Markowitz, tức là danh mục cổ phiếu này đợc đa dạng hoá hoàn toàn và có mức rủi
ro
1=
S
.
- Nhà đầu t cần xác định mục tiêu lợi nhuận và mức độ chấp nhận rủi ro để
có chiến lợc phân bổ tài sản thích hợp.