Luận văn: Xây dựng chiến lược quyền chọn trong hoạt động đầu tư trên thị trường chứng khoán Việt Nam potx - Pdf 10


Luận văn
Xây dựng chiến lược quyền
chọn trong hoạt động đầu tư
trên thị trường chứng
khoán Việt Nam

Danh mục các ký hiệu, chữ viết tắt
¾ CBOE : Sàn giao dịch Chicago Board Options Exchange
¾ TTCK :Thị truờng chứng khoán
¾ DN : doanh nghiệp
¾ ĐTNN:Đầu tư nước ngoài
¾ ĐTTN: Đầu tư trong nước
¾ HOSE: Sở giao dịch chứng khoán thảnh phố Hồ Chí Minh
¾ HaSTC:Sàn giao dịch chứng khoán thảnh phố Hà Nội
¾ NHNN:Ngân hàng nhà nước
¾ TCTD :Tổ chức tín dụng
¾ VN-Index : Chỉ số chứng khoán Việt Nam
¾ WTO : Tổ chức Thương mại Thế giới
¾ TpHCM :Thành Phố Hồ Chí Minh
¾ TTQC :Thị trường quyền chọn
¾ Mã chứng khoán DPM : Tổng công ty cổ phần Phân bón và Hóa chất Dầu khí
¾ NĐT : Nhà đầu tư
¾ CTCK:Công ty chứng khoán
¾

1.2.2.1 Sơ lược về quyền chọn chứng khoán 5
1.2.2.2 Định giá quyền chọn chứng khoán 6
1.2.2.2.1 Các nhân tố ảnh hưởng tới giá cả quyền chọn 6
1.2.2.2.2 Mô hình Black-Scholes 7
1.2.2.2.3 Ứng dụng mô hình Black-Scholes để định giá quyền chọn chứng khoán 9
CHƯƠNG 2: Thực trạng phát triển của thị trường chứng khoán và
các giao dịch quyền chọn tại Việt Nam
2.1 Sơ lược về thị trường chứng khoán Việt Nam 11
2.1.1 Quá trình hình thành và phát triển của TTCK Việt Nam 11
2.1.2 Cơ cấu tổ chức và quản lý của TTCK Việt Nam 14
2.1.3 Tồn tại và nguyên nhân của TTCK Việt Nam 14
2.2 Thực trạng sử dụng quyền chọn Việt Nam hiện nay 16
2.2.1 Giao dịch quyền chọn tiền tệ 16
2.2.2 Giao dịch quyền chọn vàng 17
2.2.1 Thuận lợi và khó khăn 18
2.3 Lợi ích của việc sử dụng thị trường quyền chọn ở TTCK Việt Nam 19
2.3.1 Tạo công cụ quản lí rủi ro và bảo vệ lợi nhuận nhà đầu tư 19
2.3.2 Tác động tới các công ty niêm yết 20
2.3.3 Thu hút dòng vốn đầu tư nước ngoài vào TTCK Việt Nam 21
2.3.4 Thúc đẩy sự phát triển và hoàn thiện của TTCK Việt Nam 21
2.4 Giới thiệu về thị trường quyền chọn chứng khoán tại một số nước 22
2.4.1 Giới thiệu 22
2.4.1.1 Mô hình của Mỹ (CBOE) 22
2.4.1.2 Mô hình của Nhật(TSE) 22
2.4.1.3 Mô hình của Châu Âu (Euronex N.V.) 23
2.4.2 Bài học kinh nghiệm với Việt Nam 23
CHƯƠNG 3: Khảo sát điều tra nhu cầu sử dụng quyền chọn trên
thị trường chứng khoán Việt Nam
3.1 Mô tả khảo sát 25
3.2 Kết quả của việc khảo sát điều tra nhu cầu sử dụng quyền chọn trên TTCK Việt Nam 25

4.4.1 Thị trường hướng lên 37
4.4.1.1 Chiến lược mua quyền chọn mua 37
4.4.1.2 Chiến lược bán quyền chọn bán 37
4.4.1.3 Chiến lược bull Spread 37
4.4.1.4 Chiến lược Spread tỉ lệ 38
4.4.2 Thị trường hướng xuống 39
4.4.2.1 Chiến lược bán quyền chọn mua 39
4.4.2.2 Chiến lược mua quyền chọn bán 39
4.4.2.3 Chiến lược Bear Spread 39
4.4.2.4 Chiến lược Spread tỉ lệ 40
4.4.2.5 Bán khống chứng khoán 41
4.4.3 Thị trường ổn định 42
4.4.3.1Chiến lược bán quyền chọn có phòng ngừa 42
4.4.3.2 Chiến lược Straddle 43
4.4.3.3 Chiến lược Strangle 43
4.4.3.4 Chiến lược con bướm Spread quyền chọn mua 44
4.4.3.5 Chiến lược Spread tỉ lệ 45
4.4.4 Thị trường biến động mạnh 46
4.4.4.1 Chiến lược Straddle mua quyền chọn 46
4.4.4.2 Chiến lược Strangle mua quyền chọn 47
Tài liệu tham khảo
Phụ lục
n chọn Việt Nam.
Trên cơ sở mô hình dự kiến, thực hiện các chiến lược kinh doanh quyền chọn (lấy ví dụ 1
mã chứng khoán DPM trên HOSE để làm rõ hơn) và nhóm giải pháp định hướng phát triển
giao dịch quyền chọn chứng khoán tại Việt Nam.
3.
Phương pháp nghiên cứu
Đề tài sử dụng phương pháp nghiên cứu dữ liệu sơ cấp thông qua việc tiến hành điều tra
chọn mẫu –thống kê các nhà đầu tư trên sàn ,điều tra chọn mẫu thống kê các nhân viên môi giới
chứng khoán,các công ty chứng khoán để xác định mức độ nhận thức và khả năng cung cấp
dịch vụ quyền chọn cho nhà đầu tư
Ngoài ra sử dụng phương pháp nghiên cứu dữ liệu thứ cấp cũng được sử dụng như tiến
hành thu thập .so sánh tổng hợp dữ liệu ,qua đó hình thành cơ sở lí luận về quyền chọn chứng
khoán, thị trường chứng khoán.
Trên cơ sở xử lý dữ liệu sơ cấp và thứ cấp ,đề tài thực hiện xây dựng quy trình phát triển
nghiệp vụ quyền chọn chứng khoán và kết hợp Call-opitions và Put-options để hình thành
những chiến lược đầu tư và đưa ra những kiến nghị nhằm thực hiên những mục tiêu này
4.
Phạm vi nghiên cứu của đề tài
Do thời gian nghiên cứu có hạn, nguồn tài liệu hạn chế và thực tế phát sinh chưa có tại Việt
Nam, nên phạm vi nghiên cứu của của đề tài này chỉ tập trung vào việc làm rõ những nội dung
cơ bản về quyền chọn trong chứng khoán.Đồng thời cũng tìm hiểu các mô hình thị trường
quyền chọn trên thế giới từ đó xây dựng nên mô hình dự kiến và nhóm các giải pháp phát
triển.Ngoài ra còn tìm ra được những sự kết hợp “nhuần nhuyễn” giữa Call-opitions và Put-
options để hình thành những chiến lược đầu tư.
5. Nội dung đề tài
Ngoài các phần lời mở đầu ,kết luận, mục lục, danh mục các từ viết tắt,danh mục tài
liệu tham khảo, phụ lục…nội dung chính đề tài nghiên cứu gồm có 4 chương :

CHƯƠNG 1 : Lý luận chung về thị trường chứng khoán và
quyền chọn trong chứng khoán

Ở Mỹ cho đến năm 1921, khu chợ này được chuyển từ ngoài trời vào trong nhà, Sở giao
dịch chứng khoán chính thức được thành lập. Cho đến nay, phần lớn các nước trên Thế giới đã
có khoảng trên 160 Sở giao dịch chứng khoán phân tán khắp các châu lục. Lịch sử hình thành
và phát triển của thị trường chứng khoán trên Thế giới cho thấy thời gian đầu, thị trường hình
thành một cách tự phát, đối tượng tham gia chủ yếu là các nhà đầu cơ, dần dần về sau mới có
sự tham gia ngày càng đông đảo của công chúng.
(1)
1.1.2 Phân loại
¾ Căn cứ vào sự luân chuyển các nguồn vốn
-Thị trường sơ cấp : là thị trường mua bán các chứng khoán mới phát hành.
-Thị trường thứ cấp : là nơi giao dịch các chứng khoán đã được phát hành trên thị
trường sơ cấp, đảm bảo tính thanh khoản cho các chứng khoán đã phát hành.
¾ Căn cứ vào phương thức hoạt động của thị trường
Thị trường ch
ứng khoán được phân thành thị trường tập trung (Sở giao dịch chứng
khoán) và phi tập trung (thị trường OTC).
¾ Căn cứ vào hàng hoá trên thị trường
-Thị trường cổ phiếu: thị trường cổ phiếu là thị trường giao dịch và mua bán các loại cổ
phiếu, bao gồm cổ phiếu thường, cổ phiếu ưu đãi.

1
Xem phụ lục 1
2

-Thị trường trái phiếu: thị trường trái phiếu là thị trường giao dịch và mua bán các trái
phiếu đã được phát hành, các trái phiếu này bao gồm các trái phiếu công ty, trái phiếu
đô thị và trái phiếu chính phủ.
-Thị trường các công cụ chứng khoán phái sinh : là thị trường phát hành và mua đi bán
lại các chứng từ tài chính khác như: quyền mua cổ phiếu, chứng quyền, hợp đồng quyền
chọn.


1.2 Cơ sở lí luận về quyền chọn chứng khoán
1.2.1 Tổng quan về giao dịch quyền chọn

TTCK là nơi tập trung nguồn vốn cho đầu tư và phát triển nền kinh tế và thị trường quyền
chọn chỉ được hình thành và hoạt động hiệu quả trên cơ sở TTCK đã ổn định và phát triển.Và
ngược lại, một khi thị trường quyền chọn được điều hành tốt thì sẽ góp phần làm cho TTCK
phát triển, sôi động và bền vững hơn nữa
1.2.1.1 Sự hình thành và phát triển của giao dịch quyền chọn
Vào đầu những năm 1900, một nhóm công ty gọi là “Hiệp hội những nhà môi giới và
kinh doanh quyền chọn mua và quyền chọn bán” đã thành lập thị trường các quyền chọn. Nếu
một người nào đó muốn mua quyền chọn, một thành viên của hiệp hội sẽ này sẽ tìm một người
bán sẵn sàng muốn ký hợp đồng bán quyền chọn. Nếu công ty thành viên không thể tìm ra
được người bán, tự công ty sẽ bán quyền chọn với giá cả thích hợp. Vì vậy, một công ty thành
viên có thể vừa là nhà môi giới vừa là nhà kinh doanh
Tháng 4 năm 1973, Uỷ ban thương mại Chicago (Chicago Board of Trade- CBO) thành
lập sàn giao dịch quyền chọn chứng khoán Chicago (Chicago Board Options Exchange –
CBOE), đặc biệt dành cho trao đổi quyền chọn về cổ phiếu.Đây được xem là sàn giao dịch
quyền chọn đầu tiên trên thế giới.Và sau đó trên thế giới,nhiều quốc gia đã thành lập các thị
trường quyền chọn như TSE, Euronex N.V…Tại Việt Nam chúng ta chưa có thị trường quyền
chọn chứng khoán.
1.2.1.2 Đặc điểm của giao dịch quyền chọn (thieu ptrein)
¾ Tiến hành giao dịch hay thanh toán theo mức giá đã thỏa thuận cố định từ trước nếu
người mua quyềnn cảm thấy có lợi
¾ Nhà đầu tư để cho hợp động tự hết hạn mà không tiến hành bất cứ giao dịch nào nếu nhà
đầu tư thấy làm như vậy sẽ ít thiệt hại hơn.
Đặc trưng cơ bản của giao dịch quyền chọn là : quyề
n chọn ( option) là một công cụ tài chính
cho phép người mua nó có quyền, nhưng không bắt buộc, được mua hay bán một công cụ tài
chính khác ở một mức giá và thời hạn được xác định trước.

¾ Đầu cơ : nhà đầu tư dễ dàng tham gia và thoát vị thế. Nếu quyền chọn kiểu Mỹ nhà đầu
tư có thể bán trước ngày hết hạn để tăng lợi nhuận hoặc giới hạn rủi ro.
¾ Đòn bẩy: tiềm năng tạo tỉ suất sinh lời cao hơn đầu tư trực tiếp và cho phép hưởng lợi
từ sự thay đổi giá mà không phải trả toàn bộ giá.
¾ Tính đa dạng ; nhà đầu tư có thể xây dựng một danh mục đầu tư đa dạng với chi phí ban
đầu thấp và kết hợp các quyền chọn trên biến động của thị trường để thu được lợi nhuận
– rủi ro hấp dẫn hơn bất kỳ đầu tư nào.
1.2.1.4 Rủi ro trong giao dịch quyền chọn
¾ Rủi ro thị trường : giá thị trường ảnh hưởng đến giá trị quyền chọn, vào ngày đáo hạn
giá trị quyền chọn có thể tăng, giảm hay không còn giá trị tùy thuộc vào thị trường biến
động lên hay xuống, thị trường biến động mạnh hay ổn định.
¾ Thời hạn của quyền chọn :. Vì các hợp đồng quyền chọn thường có thời hạn ít hơn 1
năm. Đến ngày đáo hạn, hợp đồng không còn hiệu lực, có thể làm nhà đầu tư không thể
thực hiện dự đoán của mình. Vì vậy, thời hạn của quyền chọn là quan trọng khi nhà đầu
tư quyết định giao dịch quyền chọn.
5

¾ Tác động của đòn bẩy : sử dụng đòn bầy có thể đem lại tỉ suất sinh lời cao nhưng khi
giá thị trường không theo như dự đoán của nhà đầu tư thì cũng có thể gây ra những
khoản thua lỗ lớn.
¾ Phải duy trì số dư theo quy định của nơi giao dịch quyền chọn: nhà đầu tư phải đảm
bảo số dư ký quỹ theo yêu cầu của nhà môi giới để hạn chế rủi ro. Nếu thị trường không
như dự đoán hay số dư ký quỹ giảm, nhà đầu tư phải bổ sung, nếu không nhà mô giới sẽ
đóng vị thế của nhà đầu tư và nhà đầu tư phải chịu toàn bộ trách nhiệm khi có thua lỗ.
¾ Người bán quyền luôn đối mặt với rủi ro không giới hạn : người bán quyền chọn phải
gánh chịu rủi ro nhiều hơn người mua quyền chọn. Người bán quyền chọn sẽ rủi ro
không giới hạn trong trường hợp không nắm giữ chứng khoán cơ sở hoặc không có vị
thế bù trừ.
¾ Điều kiện thị trường : như thị trường chưa phát triển, tính thanh khoản kém…có thể
làm tăng rủi ro cho các nhà đầu tư trong giao dịch cũng như thoát vị thế.

Thứ nhất giá trị nội tại của quyền chọn (intrinsic basic): giá trị nội tại của quyền chọn
chính là chênh lệch giữa giá giao ngay và giá thực hiện. Giá trị nội tại của quyền chọn nhận giá
trị dương đối với quyền chọn cao giá ITM à 0 đối với quyền chọn ngang giá ATM hoặc kiệt giá
OTM.
Minh họa : Giá giao ngay trên thị trường là 32000VNĐ
Giá cổ phiếu thực hiện quyền chọn là : 30.000VNĐ
Giá trị nội tại của quyền chọn là : 2000VNĐ.
Cả hai trường hợp quyền chọn mua và quyền chọn bán, giá của quyền chọn (premium) tối
thiểu bằng giá trị nội tại của quyền chọn. Vì nếu giá quyền chọn thấp hơn giá trị nội tại của
quyền chọn thì một cơ hội kinh doanh chênh lệch giá sẽ xuất hiện nếu bỏ qua các yếu tố như
hoa hồng, chênh lệch giữa giá bán và giá mua.
Sự thay đổi giá trị nội tại của một quyền chọn lại phụ thuộc vào giá giao ngay hiện hành,
giá thực hiện và lãi suất. Các nhân tố trên cũng ảnh hưởng nhất định đấn phí quyền chọn.
Giá giao ngay hiện hành : đối với quyền chọn mua, giá giao ngay tăng dẫn đến phí tăng
theo và ngược lại. Đối với quyền chọn bán, giá giao ngay tăng thì phí quyền chọn giảm và
ngược lại. Vì vậy, giá giao ngay tăng làm cho giá trị nội tại tăng dẫn đến phí quyền chọn tăng
theo.
Giá thực hiện ( strike price) : giá quyền chọn phụ thuộc vào giá thực hiện xuất phát từ mối
quan hệ giá thực hiện và giá giao ngay. Giá của quyền chọn càng cao nếu sự khác biệt giữa giá
thực hiện và giá giao ngay là ITM, ngược lại giá quyền chọn càng nhỏ nếu là OTM.
Lãi suất : với các yếu tố khác không đổi, khi lãi suất tăng thì phí quyền chọn giảm và
ngược lại. Mối quan hệ tỉ lệ nghịch này được xem như là chi phí cơ hội. Nếu lãi suất tăng thì
chi phí cơ hội để mua quyền chọn tăng và bù lại là phí quyền chọn sẽ giảm.
Có thể thấy rằng giá trị nội tại của một quyền chọn là nhân tố quan trọng khi định giá một
quyền chọn. Nhưng trên thực tế giá tối thi
ểu của một quyền chọn còn tùy thuộc vào kiểu quyền
chọn: kiểu Mỹ hay kiểu Âu. Bởi vì, quyền chọn theo kiểu Mỹ linh hoạt hơn quyền chọn kiểu
Âu nên người mua quyền chọn sẵn sang trả giá cao hơn cho quyền chọn kiểu Mỹ có cùng giá
thực hiện và thời gian hợp đồng với quyền chọn theo kiểu Âu.
Giá tối thiểu của một hợp đồng quyền chọ

P
e
(S,T,E) ≥ max {0, E( 1 + a )
-T
– S( 1 + b )
-T
}
Thứ hai, giá trị thời gian của hợp đồng quyền chọn: giá trị ngoại lai của quyền chọn chính
là khoản chênh lệch giữa giá quyền chọn và giá nội tại của hợp đồng quyền chọn. Đây chính là
giá trị phản ánh những gì mà nhà đầu tư sẵn sang chi trả cho khả năng sinh lời khi thực hiện
quyền chọn tại một thời điểm nào đó trước khi đáo hạn hay chính là mức chi trả cho sự không
chắc chắn của tài sản cơ sở.
Giá trị thời gian của quyền chọn phụ thuộc vào hai yếu tố :
ª
Thời hạn hợp đồng quyền chọn : thời hạn hợp đồng quysn chọn càng dài thì người mua sẵn
sàng trả giá cao hơn còn người bán yêu cầu giá quyền chọn càng cao và ngược lại.

ª
Độ biến động : là yếu tố khó lượng hóa nhất trong việc định giá quyền chọn, nó tùy thuộc
vào khả năng phán đoán dựa vào thông số biến động giá trong quá khứ và ngầm định
trong đó những thông tin hiện tại về giá quyền chọn kết hợp với những thông tin khác.
Mối quan hệ giữa độ biến động và phí quyền chọn, độ biến động càng nhiều thì phí quyền
chọn càng tăng và ngược lại.

1.2.2.2.2 Mô hình Black-Scholes
Công thức nổi tiếng về định giá chứng khoán do hai giáo sư MIT, Fischer Black và Myron
Scholes nghiên cứu ra vào năm 1973. Mô hình Black – Scholes đã đoạt giải Nôbel kinh tế học
năm 1997. Mô hình này được xây dựng để định giá quyền chọn mua theo kiểu Âu và áp dụng
cho cổ phiếu không trả cổ tức. Đối với quyền chọn mua theo kiểu Âu, mô hình Black – Scholes
có thể diễn tả bới công thức sau :

1
, d
2
được xác định :
Ln(S/E) + [ a- b + (Φ
2
/2)]
D
1
=
Φ/T
D
2 =
d
1
- Φ/T
Mô hình Black-Scholes cho thấy giá cả của quyền chọn mua theo kiểu Âu phụ thuộc vàp tỷ giá
thực hiện, tỷ giá giao ngay, lãi suất phi rủi ro giữa hai quốc gia, thời hạn của hợp đồng và độ
lệch chuẩn của sự thay đổi tỷ giá hai đồng tiền. Mô hình này được thực hiện dựa trên một số
giả định như sau :
 Lãi suất vẫn không thay đổi, lãi suất cho vay và đi vay là như nhau
 Không có thuế hay cho phí giao dịch
 Sự sai biết tỷ giá tuân theo qui luật phân phối chuẩn
 Độ lệch vẫn không đổi trong suốt thời hạn hợp đồng
Bởi vì những giả định này không đúng với thực tế, lãi suất và tỷ giá luôn thay đổi, lãi suất
cho vay và đi vay không giống nhau, có chi phí giao dịch và thuế, độ lệch tỷ giá chưa chắc có
phân phối chuẩn, nên mô hình này chưa hoàn toàn là chính xác và cần được hoàn thiện thêm.
Tuy vậy mô hình vẫn được ứng dụng rộng rãi trong việc định giá quyền chọn, bởi vì theo
thói quen và vì nó đơn giàn để áp dụng. Hơn nữa, mô hình này có thể dẫn đến việc định giá
sai nhưng mức độ sai lệch không nghiêm trọng đến nỗi tạo ra cơ hội thu lợi cho người kinh

) và N(d
2
) là giá trị hàm phân phối xác suất chuẩn .
Sau đó sử dụng hàm thống kê trong Excel để tìm ra hai giá trị N(d
1
) và N(d
2
) dựa vào giá
trị d
1
, d
2
vừa tính toán.
1.2.2.2.3 Ứng dụng mô hình Black-Scholes để định giá quyền chọn chứng khoán
Để định giá quyền chọn chứng khoán bằng mô hình Black – Scholes. Khi đó công thức
định giá quyền chọn chứng khoán như sau :
Quyền chọn mua chứng khoán : C
e
= S[N(d
1
)] – Ee
-rT
N(d
2
)
Trong đó : S : giá chứng khoán giao ngay trên thị trường
E : giá chứng khoán thực hiện thỏa thuận trong quyền chọn.
R : lãi suất phi rủi ro của đồng tiện thanh toán.
Độ lệch chuẩn hàng năm của phần trăm thay đổi giá giao ngay.
N(d

Ví dụ :Tháng 12 năm 2008, giá hiện tại của cổ phiếu DPM là 36.000VND, lãi suất phi rủi ro
của VND là 8% /năm, độ lệch chuẩn
(2 )
của phần trăm thay đổi giá 13.48%. Giá quyền chọn
mua và quyền chọn bán chứng khoán thời hạn 3 tháng với giá thực hiện (E) là 40.000VND.
Độ lệch chuẩn của cố phiếu DPM trong vòng gần 1 năm được tính bên excel.

2
Phần sử dụng Excel để tính với bảng số liệu thống kê về cổ phiếu DPM sẽ được
trình bày trong phần phụ lục 2
10

Ln(36000/40000) + [8% + (0.1348
2
/2)]
D
1
= = -0.06
0.1348/0.25
1/2
D
2 =
d
1
– 0.1348/0.25
1/2
= -0.3296
Từ bảng phân phối chuẩn tích lũy (được trình bày rõ trong phần phụ lục)
N(d
1
11

CHƯƠNG 2: Thực trạng phát triển của thị trường chứng khoán và
các giao dịch quyền chọn tại Việt Nam
2.1 Sơ lược về thị trường chứng khoán Việt Nam
2.1.1 Quá trình hình thành và phát triển của TTCK Việt Nam
Sự ra đời của thị trường chứng khoán Việt Nam được đánh dấu bằng việc đưa vào vận
hành Trung tâm giao dịch chứng khoán TP.Hồ Chí Minh vào ngày 20/07/2000 và thực
hiện phiên giao dịch đầu tiên vào ngày 28/07/2000 với 02 loại cổ phiếu niêm yết.
Việc buôn bán cổ phiếu ở Việt Nam đã diễn ra sôi động kể từ sau khi các doanh nghiệp
thực hiện cổ phần hoá, nhưng thị trường chứng khoán nước ta mới chính thức ho
ạt động từ
năm 2000, kể từ khi ra đời Trung tâm giao dịch chứng khoán Thành phố Hồ Chí Minh.
Khi đó mới có một vài cổ phiếu được giao dịch với tổng số vốn 270 tỉ đồng và 6 công ty chứng
khoán thành viên. Hơn 6 năm đầu, mức vốn hoá của thị trường mới chỉ tăng lên 0,5 tỉ USD.
Các giai đoạn phát triển của thị trường chứng khoán, nguyên nhân tăng trưởng và suy thoái
của thị tr
ường.
Giai đoạn 1: VN Index tăng vọt từ 100 điểm ngày 28/07/2000 lên 571,04 điểm vào ngày
25/06/2001. Tuy nhiên, thị trường suy thoái ở dưới 140 điểm thời kỳ này kéo dài 04 năm. Vì là
giai đoạn đầu hình thành thị trường nên tính bền vững của thị trường còn bị ảnh hưởng bởi các
yếu tố chính sách, cơ sở vật chất cũng như tính phổ cập của TTCK đến với dân chúng. Cung -
cầu trên thị trường giai đoạn này còn yếu ớt. Hơn thế nữa, quá trình cổ phần hoá của doanh
nghiệp diễn ra quá chậm không thể tạo ra lượng hàng hoá cho thị trường. Hầu như nhà đầu tư
nước ngoài không được tham gia TTCK.

nămVN Index đạt 927,02 điểm. Đây cũng là giai đoạn thị trường có nhiều bước phát triển của
thị trường với việc thực hiện khớp lệnh liên tục tại sàn TPHCM (Sở Giao dịch chứng khoán
Tp.HCM) từ ngày 30/07/2007 đã khắc phục được hạn chế của phương thức khớp lệnh định kỳ
là bảng điện tử thể hiện hết cung cầu, nên khó bị làm giá hơn Năm 2007, cũng là năm đánh dấu
tiến trình cổ phần hóa nhiều tập đoàn, tổng công ty, doanh nghiệp lớn chủ chốt của nền kinh tế
như: Tập đoàn Bảo Việt, Đạm Phú Mỹ, Ngân hàng Ngoại thương Việt Nam (Vietcombank) …
Trong đó, sự kiện phát hành cổphần lần đầu ra công chúng (IPO) của Vietcombank có ảnh
hưởng lớn và được giới đầu tư cả trong và ngoài nước quan tâm nhất. Khối lượng các công ty
niêm yết ở trên sàn này là nhiều nhất, tính đến thời điểm ngày 31/12/2007, đã có 138 công ty
cổ phần niêm yết tại SGDCK Tp.HCM với tổng giá trị vốn hóa đạt 365 ngàn tỷ đồng, đặc biệt
có 6 doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài tham gia niêm yết; 03 chứng chỉ quỹ đầu tư với
khối lượng 171,4 triệu đơn vị và 366 trái phiếu các loại.
Tại sàn Hà Nội ( HaSTC), số lượng công ty cổ phần đăng ký giao dịch tại trung tâm tăng
khá nhanh đến ngày 31/12/2007 tổng số doanh nghiệp đăng ký giao dịch HaSTC là 113 đơn vị.
Giai đoạn 6 : Thị trường chứng khoán trong năm 2008
Tại sàn TPHCM (HOSE), chỉ số VN-INDEX giảm từ 921,07điểm (02/01/2008) xuống còn
399,04 điểm ( 30/06/2008) mất 521,67 điểm tương đương giảm 56,64%., với mức đáy 366,02
điểm được thiết lập vào ngày 20/6/2008 và 15/9/2008. Sau đó, tiếp tục giảm đến cuối năm mức
đáy mới 286.85 điểm vào ngày 10/12/2008. Giá trị vốn hóa thị trường của những cổ phiếu
bluechip cũng sụt giảm mạnh. So với cuối năm 2007, mã cổ phiếu VNM giảm từ 29.400 tỷ
đồng còn hơn 14.500 tỷ đồng, STB từ 28.700 tỷ đồng còn hơn 9.400 tỷ đồng, DPM từ 27.500
tỷ đồng còn hơn 13.000 tỷ đồng… Tại sàn Hà Nội (HaSTC) : Mất 67,5% trong năm
13

2008,HASTC-Index gần về điểm khởi đầu. Cùng chung số phận như “người anh” VN-Index,
HASTC-Index khép lại năm 2008 thê thảm với những phiên giao dịch thậm chí là còn dưới
mốc khởi điểm. Tuy nhiên, niềm tin vào một thời kỳ thị trường đi lên thể hiện khá rõ khi mà
khối lượng giao dịch ngày một tăng lên. HASTC-Index chốt phiên cuối năm với mức giảm
0,32 điểm tương đương với giảm 0,30% đóng cửa ở mức 105,12 điểm. Như vậy, trong năm nay
HASTC-Index đã giảm 218,43 điểm, tương đương với mức giảm 67,5% (phiên 28/12/2007
14

Bảng: Số lượng công ty niêm yết trên TTCK Việt Nam giai đoạn 2000 – Tháng 5-2009
Năm 2000 2001 2002 2003 2004 2005 2006 2007 2008
Tháng 5-
2009
Số công ty niêm yết 5 10 20 22 26 41 193 250 303 362
HOSE 5 10 20 22 26 32 106 138 156 166
HaSTC 9 87 112 147 196
0
50
100
150
200
250
2000 2001 2002 2003 2004 2005 2006 2007 2008 Tháng
5-2009
HOSE
HaSTC

Hình 1.1 Biểu đồ thể hiện sự lớn mạnh của thị trường HOSE và HaSTC
2.1.2 Cơ cấu tổ chức và quản lý của TTCK Việt Nam
Lãnh đạo Ủy ban Chứng khoán Nhà nước gồm có : Chủ tịch, các Phó Chủ tịch; Các ủy
viên kiêm nhiệm cấp Thứ trưởng Bộ Tài chính, Bộ Tư pháp, Bộ Kế hoạch và Đầu tư, Ngân
hàng Nhà nước Việt Nam. Chủ tịch, các Phó Chủ tịch Ủy ban Chứng khoán Nhà nước do Thủ
tướng Chính phủ bổ nhiệm, miễn nhiệm và cách chức; các ủy viên kiêm nhiệm do Thủ tướng
Chính phủ quyết định. Các ủy viên kiêm nhiệm làm việc theo Quy chế hoạt động của Ủy ban
Chứng khoán Nhà nước. Bộ máy giúp việc Chủ tịch UBCKNN: Ban Phát triển thị trường

phiếu Đầu tư của các nhà đầu tư cá nhân chủ yếu đầu tư theo phong trào.
¾ Hoạt động thị trường chứng khoán Việt Nam chưa đi vào ổn định.
Các nhà đầu tư trên thị trường hầu hết là nhà đầu tư cá nhân, chính sự kém trong nhận thức
về đầu tư có thể làm cho những hoạt động lừa đảo về chứng khoán diễn ra, làm mức độ rủi ro
của nhà đầu tư tăng lên, dễ làm kì vọng của nhà đầu tư bị sụp đỗ.Các nhà quản lý chứng khoán
chưa xây dựng được TTCK minh bạch và lành mạnh trong công chúng.
¾ Thị trường chứng khoán chịu sự tác động lớn của sự điều tiết Chính phủ.
Thị trường chứng khoán Việt Nam còn non trẻ nên sự can thiệp từ chính phủ để giúp thị
trường hoạt động một cách ổn định. Tuy nhiên bên cạnh những mặt tích cực, nó cũng có những
mặt hạn chế. Các chính sách và sự điều hành của nhà nước trong thời gian qua còn xuất hiện
nhiều điểm thiếu nhất quán và đồng bộ như việc xiết chặt cho vay chứng khoán giúp tăng tính
an toàn tín dụng là cần thiết nhưng lại thiếu các chính sách huy động các nguồn vốn nhàn rỗ
trong nhân dân tham gia vào thị trường chứng khoán. Hoặc chính sách thu
ế thu nhập cá nhân
chỉ luôn chú trọng đến điều tiết thu nhập cá nhân mà quên vai trò đòn bẩy kinh tế, do đó không
phân biệt tầm quan trọng khác nhau giữa thị trường chứng khoán và thị trường bất động sản.
Quá trình cổ phần hóa doanh nghiệp nhà nước có nhiệm vụ quan trong là chuyển đổi cơ
chế sở hữu và quản lý theo hình thức công ty cổ phần để nâng cao hiệu quả kinh tế. Còn việc
bán cổ phần để thu tiền về cho ngân sách nhà nước tuy cần thiết nhưng không nhất thiết phải
thu ngay một lượng lớn. Do đó, nếu việc IPO chỉ bán một phần nhỏ ( dưới 10%) và có thể tiến
hành nhiều lần trong 3 – 5 năm thì nguồn cung cũng không tăng đột biến và nhiệm vụ chuyển
đổi doanh nghiệp vẫn hoàn thành.
Do vậy nhà nước cần nới lỏng đầu chính sách hành chính can thiệp trực tiếp vào thị
trường, thêm vào đó cần nâng cao hiệu lực, hiệu quả quản lý, giám sát nhà nước như : hoàn
thiện cung pháp lý, nghiên cứu hoàn chỉnh các chính sách về thuế, phí, lệ phí đối với hoạt động
chứng khoán để khuyến khích thị trường phát triển.
16

¾ Hạ tầng kỷ thuật của thị trường chứng khoán Việt Nam chưa đáp ứng được
TTCK

đội, ACB và NH Nông nghiệp và Phát triển nông thôn Việt Nam cũng được triển khai nghiệp
vụ này. Hiện nay các ngoại tệ được sử dụng nhiều trong giao dịch quyền chọn là USD, EUR,
GBP, JPY, AUD, CHF Tại các NHTM , quy mô tối thiểu của giao dịch ngoại tệ là 100.000
USD hoặc tương đương. Thời hạn hợp đồng là sự thoả thuận giữa các tổ chức tín dụng được


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status