Thực trạng phát triển du lịch sinh thái ở Việt Nam - Pdf 10

Bài tiểu luận năm thứ nhất Hoa Lan
Anh
LỜI NÓI ĐẦU
Trong thời gian này đã có rất nhiều bước phát triển trong lĩnh vực du
lịch, du lịch sinh thái và bảo tồn trên thế giới. Quan trọng nhất là việc du lịch
sinh thái không còn chỉ tồn tại như một khái niệm hay một đề tài để suy
ngẫm. Ngược lại, nó đã trở thành một thực tế trên toàn cầu. Ở một vài nơi nó
xuất hiện không thường xuyên và khá yếu ớt, ít được báo chí chú ý tới. Song
ở nhiều nơi khác thì vấn đề phát triển du lịch sinh thái lại rất được chính phủ
quan tâm, thường xuất hiện trên các bản tin chính hay các quảng cáo thương
mại công cộng.
Du lịch sinh thái đã mang lại nhiều lợi ích cụ thể trong lĩnh vực bảo tồn
và phát triển bền vững. Ở Cốsta Rica và Vênêxuêla, một số chủ trang trại
chăn nuôi đã bảo vệ nhiều diện tích rừng nhiệt đới quan trọng, và do bảo vệ
rừng mà họ đã biến những nơi đó thành điểm du lịch sinh thái hoạt động tốt,
giúp bảo vệ các hệ sinh thái tự nhiên đồng thời tạo ra công ăn việc làm mới
cho dân địa phương. Ecuađo sử dụng khoản thu nhập từ du lịch sinh thái tại
đảo Galápagó để giúp duy trì toàn bộ mạng lưới vườn quốc gia. Tại Nam Phi,
du lịch sinh thái trở thành một biện pháp hiệu quả để nâng cao mức sống của
người da đen ở nông thôn, những người da đen này ngày càng tham gia nhiều
vào các hoạt động du lịch sinh thái. Chính phủ Ba lan cũng tích cực khuyến
khích du lịch sinh thái và gần đây đã thiết lập một số vùng Thiên nhiên-và-Du
lịch của quốc gia để tăng cường công tác bảo vệ thiên nhiên và phát triển du
lịch quốc gia. Tại Úc và Niuzeland, phần lớn các hoạt động du lịch đều có thể
xếp vào hạng du lịch sinh thái. Ðây là ngành công nghiệp được xếp hạng cao
trong nền kinh tế của cả hai nước.
Nằm ở khu vực Đông Nam Á, nơi có các hoạt động du lịch sôi nổi. Việt
Nam có những lợi thế về vị trí địa lý, kinh tế và giao lưu quốc tế cho sự phát
triển du lịch phù hợp với xu thế của thế giới và khu vực.
Tại Việt Nam, du lịch đang dần dần trở thành ngành kinh tế quan trọng và
trong tương lai gần hoạt động du lịch được coi như là con đường hiệu quả nhất

CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN
1.1. Khái quát du lịch sinh thái.
Vấn đề vẫn còn tồn tại mỗi khi thảo luận về du lịch sinh thái là việc
khái niệm về du lịch sinh thái vẫn chưa được tìm hiểu kỹ, do đó thường bị
nhầm lẫn với các loại hình phát triển du lịch khác. Một số tổ chức đã rất cố
gắng làm rõ sự nhầm lẫn này bằng cách sử dụng khái niệm du lịch sinh thái
như một công cụ thực hiện bảo tồn và phát triển bền vững. Ðịnh nghĩa của
Hiệp hội Du lịch Sinh thái đã được phổ biến rộng rãi: "Du lịch sinh thái là du
lịch có trách nhiệm tại các điểm tự nhiên, kết hợp với bảo vệ môi trường và
cải thiện phúc lợi của người dân địa phương" (Lindberg và Hawkins, 1993).
Một định nghĩa đang thịnh hành khác đã liên kết các yếu tố văn hoá và môi
trường một cách cụ thể hơn là định nghĩa do Tổ chức bảo vệ thiên nhiên thế
giới (IUCN) đưa ra. Ðịnh nghĩa này cho rằng "du lịch sinh thái là tham quan
và du lịch có trách nhiệm với môi trường tại các điểm tự nhiên không bị tàn
phá để thưởng thức thiên nhiên và các đặc điểm văn hoá đã tồn tại trong quá
khứ hoặc đang hiện hành, qua đó khuyến khích hoạt động bảo vệ, hạn chế
những tác động tiêu cực do khách tham quan gây ra, và tạo ra ích lợi cho
những người dân địa phương tham gia tích cực" (Ceballos-Lascuráin, 1996).
Mặc dù khái niệm du lịch sinh thái vẫn thường được sử dụng tương tự
như khái niệm du lịch bền vững, song trên thực tế, du lịch sinh thái nằm trong
lĩnh vực lớn hơn cả du lịch bền vững. Vì thế kỷ mới đang tới gần nên tất cả
các hoạt động của con người cần phải trở nên bền vững - và du lịch không
phải là một ngoại lệ. Du lịch bền vững bao gồm tất cả các loại hình của du
lịch (dù là loại hình dựa trên các nguồn tài nguyên thiên nhiên hay tài nguyên
do con người tạo ra). Do đó, du lịch sinh thái cần được hiểu là một trong
những phạm trù của du lịch bền vững. Một bãi biển lớn, một sòng bạc tiết
kiệm năng lượng bằng cách không giặt khăn tắm hàng ngày cho khách hoặc
giảm thiểu tác động môi trường bằng cách sử dụng loại xà phòng gây suy
thoái tài nguyên sinh vật thì không phải là điểm du lịch sinh thái. Qua đây,
chúng ta khuyến khích ngành du lịch đại chúng có ứng xử thân thiện với môi

động du lịch, cũng tức là có điều kiện thuận lợi về xã hội hoá thu nhập từ du
lịch.
Cho đến nay vẫn chưa có sự xác định hoàn hảo về loại hình du lịch sinh
thái. Loại hình du lịch này quả vẫn còn mới mẻ, mặc dù những năm 1997-
4
Bài tiểu luận năm thứ nhất Hoa Lan
Anh
1998 Tổ chức Du lịch thế giới và Liên Hợp Quốc đã nêu một số quan điểm
chuyển mạnh sang loại hình du lịch sinh thái phù hợp với điều kiện của sự
phát triển du lịch.
Từ những năm 1985-1990, đặc biệt là sau năm 1990 khoa học sinh thái
được chấp nhận khá rộng rãi trên thế giới và cũng từ khoa học sinh thái trở
thành một lĩnh vực khoa học có giá trị hơn nhiều nên ngành kinh tế-xã hội có
ý thức vận dụng những lý thuyết cơ bản của sinh thái học. Ngành du lịch thế
giới từ sau cuộc Hội nghị về Trái đất ở Rio đe Janeiro năm 1992 đã thực sự
vận dụng sinh thái học dưới nhiều mục tiêu sự phát triển bền vững.
Việc tổ chức và điều hành loại hình du lịch sinh thái như thế nào để có thể:
- Bảo tồn môi trường tự nhiên mà du lịch đang sử dụng.
- Nâng cao ý thức của du khách để họ nhận rõ đặc điểm của môi trường
tự nhiên trong khi du lịch đang hoà mình vào đó.
- Động viên trách nhiệm của dân cư địa phương tại khu du lịch, điểm
du lịch có trách nhiệm quản lý bảo vệ và phát triển du lịch nhằm bảo đảm sự
phát triển bền vững của môi trường du lịch và thiết thực tạo được lợi ích lâu
dài.
Nói chung du lịch sinh thái là loại hình du lịch dựa vào những hình
thức truyền thống sẵn có, nhưng có sự hoà nhập vào môi trường tự nhiên với
văn hoá bản địa, du khách có thêm những nhận thức về đặc điểm của môi
trường tự nhiên, về những nét đặc thù vốn có của văn hoá từng điểm, từng
vùng, khu du lịch và có phần trách nhiệm tự giác để không xảy ra những tổn
thất, xâm hại đối với môi trường tự nhiên và nền văn hoá sở tại. Còn về quy

1.2. Những yêu cầu cơ bản để phát triển du lịch sinh thái
Yêu cầu đầu tiên để có thể tổ chức được du lịch sinh thái là sự tồn tại
của các hệ sinh thái tự nhiên điển hình với tính đa dạng sinh thái cao. Sinh
thái tự nhiên được hiểu là sự cộng sinh của các điều kiện địa lý, khí hậu và
động thực vật, bao gồm: sinh thái tự nhiên (natural ecology), sinh thái động
vật (animal ecology), sinh thái thực vật (plant ecology), sinh thái nông nghiệp
(agri-cultural ecology), sinh thái khí hậu (ecoclimate) và sinh thái nhân văn
(human ecology).
Đa dạng sinh thái là một bộ phận và là một dạng thứ cấp của đa dạng
sinh học, ngoài thứ cấp của đa dạng di truyền và đa dạng loài. Đa dạng sinh
thái thể hiện ở sự khác nhau của các kiểu cộng sinh tạo nên các cơ thể sống,
mối liên hệ giữa chúng với nhau và với các yếu tố vô sinh có ảnh hưởng trực
6
Bài tiểu luận năm thứ nhất Hoa Lan
Anh
tiếp hay gián tiếp lên sự sống như : đất, nước, địa hình, khí hậu... đó là các hệ
sinh thái (eco-systems) và các nơi trú ngụ, sinh sống của một hoặc nhiều loài
sinh vật (habitats) (Theo công ước đa dạng sinh học được thông qua tại Hộ
nghị thượng đỉnh Rio de Jannero về môi trường).
Như vậy có thể nói du lịch sinh thái là một loại hình du lịch dựa vào
thiên nhiên (natural - based tourism) (gọi tắt là du lịch thiên nhiên), chỉ có thể
tồn tại và phát triển ở những nơi có các hệ sinh thái điển hình với tính đa dạng
sinh thái cao nói riêng và tính đa dạng sinh học cao nói chung. Điều này giải
thích tại sao hoạt động du lịch sinh thái thường chỉ phát triển ở các khu bảo
tồn thiên nhiên, đặc biệt ở các vườn quốc gia, nơi còn tồn tại những khu rừng
với tính đa dạng sinh học cao và cuộc sống hoang dã. tuy nhiên điều này
không phủ nhận sự tồn tại của một số loại hình du lịch sinh thái phát triển ở
những vùng nông thôn hoặc các trang trại điển hình.
Yêu cầu thứ hai có liên quan đến những nguyên tắc cơ bản của du lịch
sinh thái ở 2 điểm:

chuẩn về không gian đối với mỗi du khách cũng như nhu cầu sinh hoạt của
họ.
Đứng ở góc độ xã hội, sức chứa là giới hạn về lượng du khách mà tại
đó bắt đầu xuất hiện những tác động tiêu cực của các hoạt động du lịch đến
đời sống văn hoá-xã hội, kinh tế-xã hội của khu vực. Cuộc sống bình thường
của cộng đồng địa phương có cảm giác bị phá vỡ, xâm nhập.
Đứng ở góc độ quản lý, sức chứa được hiểu là lượng khách tối đa mà
khu du lịch có khả năng phục vụ. Nếu lượng khách vượt quá giói hạn này thì
năng lực quản lý ( lực lượng nhân viên, trình độ và phương tiện quản lý...)
của khu du lịch sẽ không đáp ứng được yêu cầu của khách, làm mất khả năng
quản lý và kiểm soát hoạt động của khách, kết quả là sẽ làm ảnh hưởng đến
môi trường và xã hội.
Do khái niệm sức chứa bao gồm cả định tính và định lượng, vì vậy khó
có thể xác định một con số chính xác cho mỗi khu vực. Mặt khác, mỗi khu
vực khác nhau sẽ có chỉ số sức chứa khác nhau. Các chỉ số này chỉ có thể xác
định một cách tương đối bằng phương pháp thực nghiệm.
Một điểm cần phải lưu ý trong quá trình xác định sức chứa là “quan ni
ệm” về sự đông đúc của các nhà nghiên cứu có sự khác nhau, đặc biệt trong
những điều kiện phát triển xã hội khác nhau (ví dụ giữa các nước Châu Á và
châu Âu, giữa các nước phát triển và đang phát triển ...). Rõ ràng để đáp ứng
8
Bài tiểu luận năm thứ nhất Hoa Lan
Anh
yêu cầu này, cần phải tiến hành nghiên cứu sức chứa của các địa điểm cụ thể
để căn cứ vào đó mà có các quyết định về quản lý. Điều này cần được tiến
hành đối với các nhóm đối tượng khách/thị trường khác nhau, phù hợp tâm lý
và quan niệm của họ. Du lịch sinh thái không thể đáp ứng được các nhu cầu
của tất cả cũng như mọi loại khách.
Yêu cầu thứ tư là thoả mãn nhu cầu nâng cao kiến thức và hiểu biết của
khách du lịch. Việc thoả mãn mong muốn này của khách du lịch sinh thái về

- Ở đây những kinh nghiệm có tác động lớn và có nhận thức cao nên
đòi hỏi sự chuẩn bị kỹ càng của cả người hướng dẫn và các thành viên tham
gia .
- Cần có sự đào tạo đối với tất cả các ban nghành chức năng: địa
phương, chính quyền, tổ chức đoàn thể, hãng lữ hành và các khách du lịch
(trước, trong và sau chuyến đi).
- Thành công đó phải dựa vào sự tham gia của địa phương, tăng cường
sự hiểu biết và sự phối hợp với các ban ngành chức năng.
- Các nguyên tắc về đạo đức, cách ứng sử và nguyên tắc thực hiện là rất
quan trọng. Nó đòi hỏi cơ quan giám sát của ngành phải đưa ra các nguyên tắc
và các tiêu chuẩn được chấp nhận và giám sát toàn bộ các hoạt động.
- Là một hoạt động mang tính chất quốc tế, cần phải thiết lập một
khuôn khổ quốc tế cho ngành.
1.3. Tính tất yếu phát triển du lịch sinh thái tại Việt Nam
Ở Việt Nam, ngành du lịch phát triển tương đối muộn. Hoạt động du
lịch chỉ thực sự diễn ra sôi nổi từ sau năm 1990 gắn liền với chính sách mở
cửa của Đảng và Nhà nước. Theo số liệu thống kê từ năm 1990 đến 2002
lượng khách quốc tế tăng 10,5 lần (từ 250.000 đến 2.620.000) khách nội địa
tăng 13 lần (từ 1000.000 tăng lên 13.000.000). Thu nhập xã hội cũng tăng
đáng kể, năm 1991 là 2.240 tỷ đồng đến năm 2002 là 23.000 tỷ đồng, trong
đó hoạt động du lịch sinh thái trong các khu bảo tồn và vườn quốc gia và du
lịch biển đóng góp một tỷ trọng lớn. Các số liệu thống kê ở một số vườn quốc
gia như Cúc Phương, Cát Bà, Côn Đảo, Bạch Mã ... các khu bảo tồn thiên
nhiên như Phong Nha- Kẻ bàng, Hồ kẻ gỗ... bình quân mỗi năm tăng 50%
khách nội địa và 30 % khách quốc tế. Trong giai đoạn từ 1995 – 1998 du lịch
sinh thái đạt tăng trưởng 16,5%.
Vì vậy hiện nay phát triển du lịch sinh thái là một xu thế tất yếu. Du
lịch sinh thái phát triển nhằm thoả mãn nhu cầu ngày một tăng của khách du
10
Bài tiểu luận năm thứ nhất Hoa Lan

2.1 Điều kiện để phát triển du lịch sinh thái ở Việt Nam
Việt Nam là quốc gia nằm trong vùng khí hậu nhiệt đớI gió mùa. ¾
diện tích đất nước bao phủ bởI các dãy núi, đồI và các cao nguyên. Bờ biển
Việt Nam trảI dài trên 3200 km. Việt Nam là nơi cư trú của 12000 loài thực
vật, 7000 loài động vật trong số đó có rất nhiều loài được liệt vào Sách Đỏ
của thế giới. Đặc biệt là trong những năm 80 của thế kỉ trước, đã có 5 loài
động vật dạng lớn đã được phát hiện ở Việt Nam. Do điều kiện địa lý như vậy
nên Việt Nam rất thích hợp để phát triển du lịch sinh thái.
Hệ sinh thái ở Việt Nam bao gồm 12 loại điển hình:
1. Hệ sinh thái rừng nhiệt đới.
2. Hệ sinh thái rừng rậm gió mùa ẩm thường xanh trên núi đá vôi
3. Hệ sinh thái rừng khô hạn.
4. Hệ sinh thái núi cao.
5. Hệ sinh thái đất ngập nước.
6. Hệ sinh thái ngập mặn ven biển.
7. Hệ sinh thái đầm lầy.
8. Hệ sinh thái đầm phá.
9. Hệ sinh thái san hô.
10. Hệ sinh thái biển - đảo.
11. Hệ sinh thái cát ven biển.
12. Hệ sinh thái nông nghiệp.
Việt Nam có 350 loài san hô, trong đó có 95 loài ở vùng biển phía Bắc
và 225 loài ở vùng biển phía Nam. Bên cạnh 60 vạn ha đất cát ven biển, trong
đó có 77.000 ha hệ sinh thái cát đỏ tập trung tại Bình Thuận, Ninh Thuận và
các tỉnh duyên hải Trung bộ, Việt Nam còn có thêm 10 triệu ha đất ngập mặn
ẩn chứa nhiều hệ sinh thái điển hình có giá trị cao về khoa học và du lịch tại
12
Bài tiểu luận năm thứ nhất Hoa Lan
Anh
Đồng Tháp Mười là vùng ngập nước tiêu biểu cho khu vực Đông Nam á. Hệ

13
Bài tiểu luận năm thứ nhất Hoa Lan
Anh
Cúc Phương, Ba Vì, Xuân Thuỷ (khu bảo vệ vùng đất ngập nước (Ramsa) đầu
tiên ở Việt Nam)
Không gian du lịch sinh thái vùng Bắc Trung Bộ bao gồm phần phía
Tây Nam Nghệ An, Hà Tĩnh, Quảng Bình, Quảng Nam, Đà Nẵng và phía
Đông Nam Thừa Thiên Huế. So với các nước trong khu vực Đông Nam á, đây
là địa bàn được đánh giá cao nhất về tính đa dạng sinh học với Khu bảo tồn
thiên nhiên Phong Nha-Kẻ Bàng được xếp vào loại lớn trên thế giới và nhiều
khu rừng nguyên sinh có giá trị
Phía Tây của Tây Nguyên, một phần Bắc Lâm Đồng kéo dài đến tỉnh
Khánh Hoà thuộc không gian du lịch sinh thái vùng Nam Trung Bộ và Tây
Nguyên. các hệ sinh thái điển hình của vùng nay bao gồm rừng khu rừng ở
Yok đôn, đất ngập nước Hồ Lắc, hệ sinh thái Ngọc Linh, Biodup-Núi Bà; hệ
sinh thái san hô Nha Trang.
Vùng chuyển tiếp từ cao nguyên Tây Nguyên cực Nam Trung Bộ với
không gian du lịch sinh thái bao trùm khu vực Vườn quốc gia Nam Cát Tiên
(Lâm Đồng-Bình Dương, Đồng Nai), Côn Đảo, Bình Châu-Phước Bửu( Bà
Rịa-Vũng Tàu), Biển Lạc-Núi Ông( Bình Thuận)
Dựa vào hai hệ sinh thái là đất ngập mặn và rừng ngập mặn thuộc các tỉnh
dọc sông Mê Kông đến Bạc Liêu, Cà Mau, Kiên Giang, không gian du lịch vùng
này sẽ tập trung chủ yếu vào rừng ngập mặn Cà Mau, Tràm chim Đồng Tháp,
Cù lao sông Tiền, sông Hậu và Khu bảo tồn thiên nhiên Phú Quốc.
2.2 Một số điểm du lịch sinh thái điển hình ở Việt Nam
Trong vùng du lịch phía Bắc vằ Bắc Trung Bộ có điều kiện hình thành
tuyến du lịch sinh thái phía Đông Bắc từ thành phố Hà Nội-Bắc Ninh-Bắc
Cạn-Lạng Sơn-Cao Bằng phong phú và đa dạng về yếu tố sinh thái vốn có
của đất nước. Chiều dài của tuyến du lịch khá thuận tiện về đường bộ, những
năm gần đây nhiều đường xá đã được nâng cấp hoàn chỉnh như đường quốc

sông Cửu Long, nên ngày từ thời còn thuộc Pháp người dân Nam Bộ đã mệnh
danh Cần Thơ là Tây Đô. Ở đây chính quyền thực dân đã bố trí đầy đủ quyền
lực để củng cố địa vị độc tôn của họ về mặt chính trị-hành chính; còn về kinh
tế xã hội cũng sớm phát triển. Là tâm điểm thu hút nhà buôn, nhà đầu tư, nhà
khoa học, nhà văn hoá do các yếu tố sinh thái đa dạng của Cần Thơ vốn sẵn
ưu thế về địa lý, giao thông, về thương mại, cả về du lịch nữa.
Riêng về địa lý tự nhiên ở đây là hàng trăm dòng kênh, dòng rạch trên
hàng ngàn km chằng chịt bồi đắp phù sa màu mỡ của sông Hậu cho các cánh
15
Bài tiểu luận năm thứ nhất Hoa Lan
Anh
động, đảm bảo năng suất cây lúa của miền Nam. Các khu vườn cây trái theo
mùa vụ trĩu quả, đậm đà hương vị riêng biệt như bưởi, ổi, chôm chôm, quýt
đường, cam sành, sầu riêng, xoài cát, đu đủ, măng cụt, mận, nhãn v.v... Cùng
các khu vườn nhà của các hộ dân cư nông trường Sông Hậu trên diện tích
7000 ha vừa gieo trồng các giống lúa mới đạt năng suất cao, có chất lượng,
các dòng rạch với hai bờ xanh cây bạch đàn và các loại cây ăn quả về mô hình
kinh tế sinh thái độc đáo “ Ruộng , vườn, ao, chuồng” tiêu biểu v.v...
Sự hấp dẫn về du lịch sinh thái của vung Cần Thơ làm cho du khách
trong cac tour du lịch cùng với việc tham quan các yếu tố kinh tế xã hội đa
dạng phong phú đã tăng liên tục từ năm 2000 góp phần vào số doanh thu của
ngành du lịch của VIệt Nam.
Từ năm 2002 ở Củ Chi thuộc thành phố HCM đã bắt đầu đón khách
đến nghỉ mát ở khu du lịch thuộc xã Nhân Đức trên diện tích rộng đến 180 ha
gồm 3 khu vực : một khu du lịch 25 ha gồm nhà lưu niệm, vườn hoa, khu vui
chơi trên nước, khu các bộ tộc Bana, Chơ Ro, Mường, khu nhà hàng v.v... khu
thứ 2 có các trại gia cầm, trại cá gồm 19 ao với diện tích khoảng 20.000 m2
nuôi trên 1.000.000 vịt anh đào, có diện tích riêng nuôi cá rô phi, cá chép...
Khu thứ 3 rộng trên 100ha trồng thuần cây giống nhập từ Đài Loan là cây
Ma-li-ba-lu có gốc từ Nam Mỹ được mệnh danh là cây phát tài để xuất khẩu.

Trong năm 2002 công trình biển Tiên Đồng bao bọc cả dãy núi gọi là
Giả Sơn cùng những di tích văn hoá sinh thái là núi Lạc Long Quân đối diện
với núi Âu Lạc v.v... Phía bên trong các dãy Giả Sơn có những hang động mô
phỏng các hang động như Phong Nha, Nam thiên đệ nhất Động v.v... Khi du
khách leo đến bậc đá cuối cùng ở núi Lạc Long Quân là nhìn thấy cảnh quan
bát ngát của thành phố Hồ Chí Minh.
Ở làng du lịch sinh thái Xi-Va tại Mũi Né, Phan Thiết do công ty du
lịch Than Niên thành phố Hồ Chí Minh và công ty lương thực tỉnh Bình
Thuận đã đầu tư trên diện tích ở bãi Mũi Né sát biển dưới các hàng phi lao
thoáng mát cùng gió biển gồm các nhà nghỉ bằng bê tông kết hợp các loại vật
liệu dân tộc như gỗ, mây, tre, dừa, trang trí phù điêu bằng thạch cao, bằng
gạch men theo phong cách cổ truyền bộ tộc Chăm-Pa. Trong các tháng đầu
năm 2003 này các nhà quản lý làng nghỉ mát Xi-Va lần lượt tổ chức các
chuyến đi cho du khách dạo chơi bằng ca-nô, đánh bắt hải sản, tham quan tìm
hiểu các hòn đảo gần kề, thăm làng thổ cẩm, làng gốm Chăm. Các tiết mục
múa Chăm có trình diễn các nhạc cụ Chăm làm cho du khách có dịp thuận
tiện tìm hiểu thưởng thức các nét văn hoá đặc sắc của bộ tộc Chăm v.v...
17
Bài tiểu luận năm thứ nhất Hoa Lan
Anh
Huyện Cam Ranh thuộc tỉnh Khánh Hoà cũng đang triển khai các dự án
phát triển loại hình du lịch sinh thái như dự án khu du lịch sinh thái Bãi Dài,
dự án khu du lịch sinh thái thuộc công ty trách nhiệm hữu hạn du lịch- địa ốc
Hồng Hà, khu du lịch Cam Ranh thế kỷ XXI. Tại vịnh Văn Phong du khách
thường bơi thuyền thăm các bãi biển gần như nguyên sơ, thăm làng Hà Đằng
từ nhiều năm vẫn còn cách biệt với đất liền, thưởng ngoạn dốc Lết, tắm suối
nước nóng Tháp Bà...
Cùng với các hang động như đã liệt kê điển hình ở một số nơi trong hệ
sinh thái rừng-núi-hang động của Việt Nam có trên 400 suối nước nóng: Kim
Bôi ở tỉnh Hoà Bình, suối nước nóng Hội Vân ở tỉnh Bình Định v.v... Đồng

tục lễ đậm đà tính chất truyền thông xã hội - nhân văn biểu hiện rõ tình cảm
quý giá đối với các nhân vật anh hùng, liệt sỹ có công. Nhưng nói chung đều
ghi nhớ những đóng góp vô giá của các tiền nhân lịch sử và là những di sản
văn hoá phi vật thể mà 54 dân tộc anh em VIệt Nam rất tự hào.
Các lễ hội đều thường diễn ra vào các tháng đầu năm âm lịch; có lễ hội
kéo dài qua nhiều ngày. Nếu đúng dịp diễn ra lễ hội mà có các đoàn khách
trong các tour du lịch thì quả là cơ hội hiếm có đối với họ. Các du khách có
thể hoà nhịp cùng lễ hội, những giọng hát chân thành, êm dịu, cùng tham gia
các diệu múa v.v... là chắc chắn khi về họ mãi nhớ những buổi hội ngộ lắng
đọng đối với họ.
19
Bài tiểu luận năm thứ nhất Hoa Lan
Anh
2.3 Tiềm năng và thực trạng du lịch sinh thái của các khu bảo tồn thiên
nhiên Việt nam.
2.3.1 Tiềm năng du lịch sinh thái của các khu bảo tồn thiên nhiên
Việt Nam.
Việt nam nằm trong vùng châu Á, nơi mà tổ chức du lịch thế giới và
nhiều nhà chuyên môn du lịch có tên tuổi đã khẳng dịnh và dự báo rằng sẽ là
nơi thu hút nhiều khách du lịch quốc tế nhất và cũng có nhiều người đủ điều
kiện đi du lịch nhất (500 triệu người) ở thế kỷ 21.
Từ những, phân tích, đánh giá dự báo đó cho ta một kết luận nguồn
khách du lịch sinh thái quốc tế gắn với thị trường du lịch Việt nam là khách
quan và là một tiềm năng.
Hiện nay, số khách du lịch trong nước đã tăng lên tới 8,5 triệu lượt
khách.Trong đó có bao nhiêu khách thuộc đối tượng du lịch sinh thái? Chưa
có số liệu tin cậy bởi khái niệm du lịch sinh thái chưa được quan tâm dẫn đến
trong thống kê du lịch chưa được thể hiện. Căn cứ vào số khách đến với các
vùng thiên nhiên với động cơ hưởng thụ vào sản phẩm thiên nhiên như: các
vườn quốc gia và bảo tồn thiên nhiên , vãn cảnh sông nước , hành trình xuyên

thực vật rừng xen kẽ với nhiều dân tộc có người sinh sống có những bản sắc
văn hoá hết sức đa dạng.
- Các vùng sinh thái nông nghiệp đặc trưng nền văn minh lúa nước
nhiều sông lạch, miệt vườn.
Ở Việt nam hệ thống rừng đặc dụng được hiểu là hệ thống khu bảo tồn
thiên nhiên có diện tích 2.119.509 ha, bao gồm 11 vườn quốc gia , 64 khu dự
trữ thiên nhiên , 32 khu di tích lịch sử, văn hoá, môi trường. Sau khi rà soát lại
Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn đã lập một danh mục 101 khu rừng
đặc dụng đề nghị chính phủ phê duyệt và phân thành 4 loại : Vườn quốc gia
(11 vườn), Khu dự trữ thiên nhiên (53 khu), Khu bảo tồn loài và sinh cảnh (16
khu) và Khu bảo vệ cảnh quan (21 khu). Theo danh sách này thì còn thiếu
nhiều khu bảo tồn thiên nhiên vùng biển và vùng đất ngập nước. Tuy nhiên
cho đến nay Chính Phủ vẫn chưa phê duyệt.
Nằm trong vùng khí hậu nhiệt đới gió mùa, các khu bảo tồn thiên nhiên
Việt nam có nguồn tài nguyên thiên nhiên phong phú và đa dạng rất thuân lợi
cho việc phát triển du lịch sinh thái.
21
Bài tiểu luận năm thứ nhất Hoa Lan
Anh
Các nhà sinh thái học thường nhắc đến sự phong phú về các kiểu hệ
sinh thái và thực bì ở Việt nam. Theo thống kê, Việt nam có tới 26 kiểu thực
bì tập trung thành 6 nhóm, trải từ rừng kín thường xanh, rừng rụng lá và bán
rụng lá, rừng thường xanh hở, rừng thường xanh cây bụi đến các thảm cỏ.
Ngoài ra Việt nam còn có 5 nhóm hệ sinh thái thuỷ vực, trải từ nước ngọt
đứng, nước ngọt chảy, nước ngọt ngầm, nước lợ và nước mặn. Hệ sinh thái
đất ngập nước cũng dang được các nhà khoa học Việt Nam nghiên cứu. Khu
bảo tồn thiên nhiên đất ngập nước Xuân Thuỷ, Vườn Quốc Gia Tràm chim ở
đồng bằng sông Cửu Long là những địa điểm ngắm chim nước lí tưởng.
Không chỉ phong phú trên phương diện hệ sinh thái, thiên nhiên còn
ban cho Việt nam sự đa dạng sinh học cao về các loài đặc hữu, có khoảng

Bàng, Hoàng Liên Sơn.
Nhiều vườn quốc gia và khu bảo tồn thiên nhiên phân bố dọc theo 3260
km bờ biển với hệ động thực vật còn khá phong phú và nhiều bãi tắm lý
tưởng như Trà Cổ, Bãi Cháy, Đồ Sơn, Xuân Thuỷ, Sầm Sơn, Lăng Sô, Bình
Châu, Phước Bửu. Các vườn quốc gia và khu bảo tồn thiên nhiên vùng đảo và
quần đảo cũng là địa điểm du lịch sinh thái nổi tiếng. Nơi đây ngoài hệ sinh
thái trên cạn còn có hệ sinh thái trên biển với các rạn san hô có thành phần
loài phong phú. Chúng ta có thể tổ chức du lịch lặn, xem hệ động thực vật
biển phong phú trong các rạn san hô ở khu vực đảo Cát Bà, Côn Đảo, Phú
Quốc và các đảo thuộc khu vực Nha Trang, Khánh Hoà.
Ba phần tư diện tích lãnh thổ của Việt nam là đồi núi với nhiều đỉnh núi
cao có khí hậu mát mẻ rất thuận lợi cho du lịch nghỉ dưỡng mùa hè. Những
địa điểm nổi tiếng như Sa Pa, Tam Đảo, Ba Vì, Bạch Mã, Bà Nà - Núi Chúa
đã được người Pháp khai thác cách đây nửa thế kỷ và hiện còn lưu giữ nhiều
tàn tích của các biệt thự cũ. Từ các trung tâm nghỉ dưỡng nay ta có thể thiết
kế các đường mòn thiên nhiên với cự ly từ 2 –3 km để kết hợp du lịch sinh
thái với các loại hình du lịch khác. Sông, suối, thác, ghềnh, hồ tự nhiên và
nhân tạo trong các khu bảo tồn thiên nhiên ở các vùng núi rất thuận lợi cho
việc phát triển loại hình du lịch mạo hiểm và du lịch thể thao dưới nước .
Cũng một nỗ lực nghiên cứu tiềm năng du lịch sinh thái của Việt nam,
Nguyễn Quang Mỹ và nhiều nhà nghiên cứu đã phát hiện ra rất nhiều hang
động ở các vườn quuốc gia và các khu bảo tồn thiên nhiên vùng núi đá vôi
trên phạm vi cả nước: Động Phong Nha, Chùa Hương,Tam Cốc, Bích Động,
23
Bài tiểu luận năm thứ nhất Hoa Lan
Anh
các hang động trong khu vực di sản thiên nhiên Hạ long là những điểm tham
quan nổi tiếng trong và ngoài nước.
Theo sự phân tích của Ngô Đức Thịnh, từ đa dạng về tự nhiên dẫn đến
sự đa dạng về văn hoá. Chính vì vậy mà mà người Việt nam không thuần nhất

vật nhồi bông cũng có sẵn để bán ở các cửa hàng ở Hà nội và Thành phố Hồ
Chí Minh. Một con hổ nhồi bông giá khoảng 15 triệu đồng, một con gấu trúc
khoảng 10 triệu đồng, gấu mặt trời 8,5 triệu …Với những giá đó những người
dân nghèo sẵn sàng tham dự cuộc buôn bán mà không cần biết hậu quả sẽ ra
sao.
Trên đây là thực trạng đáng buồn của sinh thái Việt nam, vậy còn về
lĩnh vực văn hoá thì sao ?
Tất cả mọi người ai cũng biết rằng giữa văn hoá và du lịch luôn có mối
quan hệ biện chứng và trực tiếp . Mối quan hệ này càng thể hiện rõ hơn trong
sự liên hệ bảo vệ và phát huy các di sản văn hoá và thiên nhiên – một bộ phận
quan yếu của tài sản văn hoá và đồng thời là bộ phận quan yếu nhất trong tài
nguyên du lịch.
Sự phát triển của du lịch tác động trực tiếp và dán tiếp đến việc trấn
hưng và bảo tồn các di sản văn hoá. Doanh thu từ hoạt động du lịch được sử
dụng cho việc tu bổ di tích, chỉnh lý các bảo tàng, đồng thời khôi phục và phát
huy các di sản văn hoá phi vật thể, đặc biệt là các ngành thủ công mỹ nghệ, ca
múa nhạc truyền thống phục vụ du lịch .
Một trong những ví dụ cụ thể là sự phát triển du lịch tại Huế trong
những năm gần đây đã và đang làm sống lại những nghành nghề đã một thời
bị lãng quên như may, thêu, đúc đồng, chạm khắc và đặc biệt là nghệ thuật ca
Huế truyền thống, ca múa cung đình…
Tuy nhiên, bên cạnh mặt tích cực không thể phủ nhận của du lịch đối
với đời sống kinh tế văn hoá, những hoạt động du lịch cũng đem lại những tác
động tiêu cực đến công cuộc bảo tồn các di sản văn hoá nói riêng và nếp sống
văn hoá nói chung .
Cụ thể như:
- Đối với các di sản vật thể, đặc biệt là các di sản có giá trị toàn cầu nổi
bật thì sự bùng nổ số lượng khách thăm quan đã và đang trở thành mối nguy
cơ đe doạ việc bảo vệ các di sản này. Sự có mặt quá đông du khách trong một
thời điểm ở một di sản đã tạo nên những tác động cơ học, hoá học đã cùng với


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status