HƯỚNG DẪN ÔN TẬP VĂN MINH PHƯƠNG ĐÔNG - Pdf 10


-

1
- HƯỚNG DẪN ÔN TẬP VĂN MINH PHƯƠNG ĐÔNG
mang màu sắc phương Đông. Tóm lại, phương Đông là một khu vực văn minh có “bản sắc”
riêng cả về phương diện truyền thống lẫn hiện đại. Ngày nay, xét trên nhiều góc độ như lịch sử,
chính trị, kinh tế, văn hoá, phương Đông chiếm một vị trí vô cùng quan trọng trong lịch sử
thế giới. Vấn đề thứ 1

Cơ sở cho sự hình thành văn minh phương Đông

Châu Á và Đông Bắc châu phi là nơi ra đời những nền văn minh cổ kính của phương Đông
nói riêng và của loài người nói chung. Ở đây đã xuất hiện những quốc gia chiếm hữu nô lệ tối
cổ xây dựng trên sự tan rã của chế độ công xã nguyên thủy.

1.
Điều kiện tự nhiên:
Những nền văn minh cổ kính đó xuất hiện trên lưu vực những con sông lớn như sông Nile
(Ai Cập), Tigris và Euphrates (Lưỡng Hà), sông Ấn (Indus) và sông Hằng (Gange) (Ấn Độ),
sông Hoàng Hà và Trường Giang (Trung Quốc)…
- Nhìn chung lưu vực các con sông nói trên là những vùng đồng bằng phì nhiêu rất thuận lợi
cho việc phát triển nông nghiệp. khí hậu ấm áp, nguồn nước phong phú, đất đai màu mỡ và dễ
canh tác đã cho phép các quốc gia cổ đại phương Đông phát triển nông nghiệp thuận lợi.
- Người phương Đông cổ đại sống trên lưu vực các con sông từ thời nguyên thủy đã sớm phát
hiện và lợi dụng những thuận lợi đó để phát triển sản xuất. Cùng với nông nghiệp, thủ công
nghiệp cũng phát triển mạnh, xã hội sớm xuất hiện giai cấp và nhà nước.
Cụ thể:
* Ai Cập ở Đông Bắc châu Phi, là một thung lũng nằm dọc theo lưu vực sông Nile. Phía
tây giáp sa mạc Libi, phía đông giáp Hồng Hải, phía bắc giáp Địa Trung Hải, phía nam giáp
dãy núi Nubi và Ethiopia. Địa hình chia làm hai khu vực: Thượng Ai Cập ở phía nam là một


sông của nước này thì Hoàng Hà (dài 5.464km) và Dương Tử (dài 5.800) là hai con sông lớn
nhất . Tuy thường xuyên gây ra lũ lụt, nhưng Hoàng Hà và Dương Tử đã mang đến nguồn phù
sa bồi đắp cho đất đai thêm màu mỡ, tạo điều kiện thuận lợi cho nông nghiệp phát triển, mang
lại giá trị kinh tế cao. Từ xa xưa, những con sông này là những tuyến giao thông huyết mạch
nối liền các vùng trong lãnh thổ Trung Quốc. Các triều đại đã xuất hiện, tồn tại và lớn mạnh
trên lưu vực hai dòng sông này và xây dựng nên nền văn minh Trung Quốc độc đáo.
- Bên cạnh những thuận lợi nói trên, những con sông này lại bị ngăn cách bởi hệ thống núi non
trùng điệp và những vùng sa mạc mênh mông. Địa thế hiểm trở đó cùng với những phương
tiện giao thông hết sức hạn chế thời cổ đại đã làm cho các nền văn minh này xuất hiện và phát
triển một cách độc lập. Sự liên hệ buổi đầu hầu như không xảy ra, do đó mỗi nền văn minh đã
phát triển một cách độc đáo, mang đậm bản sắc dân tộc. Về mặt này, Ai Cập là một ví dụ điển
hình: Địa hình Ai Cập gần như đóng kín, phía Bắc và phía Đông giáp Địa Trung Hải và Hồng
Hải, phía Tây bị bao bọc bởi sa mạc Sahara. Ở Ấn Độ thì hai mặt Đông Nam và Tây Nam đều
tiếp giáp với Ấn Độ Dương, phía bắc án ngữ bởi dãy Hymalaya (tức là xứ Tuyết) thành một
vòng cung dài 2600km, trong đó có hơn 40 ngọn núi cao trên 7000m như những trụ trời.

-

4
-

2) Cơ sở dân cư:
Trên cơ sở những điều kiện tự nhiên như vậy, cư dân ở phương Đông ra đời sớm và phát
triển nhanh chóng. Tuy nhiên, quá trình hình thành các cộng đồng dân cư ở phương Đông diễn
ra rất đa dạng và phức tạp.
Cụ thể:
- Ai Cập: Ở lưu vực sông Nile từ thời đồ đá cũ đã có con người sinh sống. người Ai Cập thời
cổ là những thổ dân châu Phi, hình thành trên cơ sở hỗn hợp rất nhiều bộ lạc. Do đi lại săn bắn
trên lục địa, khi đến vùng thung lũng sông Nile, họ định cư ở đây phát triển nghề nông và nghề
chăn nuôi từ rất sớm. Về sau, một chi của bộ tộc Hamites từ Tây Á xâm nhập vùng hạ lưu sông

4) Cơ sở chính trị-xã hội:

-

5
-
- Ở phương Đông ra đời và tồn tại một hình thức nhà nước đặc thù, nhà nước quân chủ chuyên
chế trung ương tập quyền mà mọi quyền lực đều ở trong tay nhà vua và một bộ máy quan lại
cồng kềnh, quan liêu.
- Các quốc gia cổ đại phương Đông đã duy trì lâu dài chế độ nô lệ gia trưởng và các hình thức
áp bức bóc lột kiểu gia trưởng nên vai trò của nô lệ trong xã hội chưa nổi bật.
Chính trên cơ sở như vậy mà nền văn minh phương Đông ra đời và phát triển và cũng
chính các yếu tố đó đã ảnh hưởng, chi phối tạo nên những nét đặc thù của nền văn minh
phương Đông.

Vấn đề thứ 2
Trình độ sản xuất và chinh phục tự nhiên
của các quốc gia phương Đông

Trên cơ sở điều kiện tự nhiên thuận lợi, cư dân phương Đông cổ đại đã sớm biết lợi dụng
điều kiện tự nhiên để sản xuất, chế tạo công cụ lao động, chinh phục tự nhiên xây dựng những
nền văn minh đầu tiên trên thế giới.
- Muốn chinh phục được tự nhiên, con người phải có công cụ lao động, bởi công cụ lao động
là tiêu chí để đánh giá trình độ sản xuất của một xã hội.
Ngay từ thời nguyên thủy con người đã biết chế tạo công cụ lao động, từ những công cụ
thô sơ bằng đá, gốm đến những công cụ bằng đồng, sắt… đã cho phép con người tạo ra một
năng suất lao động ngày càng cao.
Người Ai Cập ngay từ thời Cổ vương quốc đã biết dùng cuốc bằng đá hoặc bằng gỗ để
trồng trọt, dùng liềm bằng đá để gặt lúa, dùng trâu bò để đập lúa. Thời Trung vương quốc,
người ta đã biết mở rộng các công trình thủy lợi thành một hệ thống rộng lớn với nhiều công

- Nhờ sản phẩm của nông nghiệp và thủ công nghiệp phát triển đã thúc đẩy việc giao lưu
buôn bán với các nước. Từ chổ chỉ dùng vật trung gian để trao đổi, người ta đã biết chế ra tiền
bằng đồng và bằng vàng thuận tiện cho việc buôn bán. Việc mở rộng giao lưu buôn bán giữa
các quốc gia đã tạo điều kiện để giao lưu văn hóa và thúc đẩy sản xuất làm cho xã hội phương
Đông cổ đại phát triển ngày càng cao hơn.

Vấn đề thứ 3
Sự ra đời của nhà nước và trình độ quản lý xã hội của các quốc gia phương Đông

Nhà nước xuất hiện lần đầu tiên trong lịch sử vào khoảng cuối thiên niên kỉ IV - đầu thiên
niên kỉ III.TCN. Những nhà nước cổ đại Ai Cập, Lưỡng Hà, Trung Quốc, Ấn Độ … là những
nơi có điều kiện thiên nhiên thuận lợi cho sự phát triển kinh tế nông nghiệp, nơi mà quá trình
phân hóa xã hội, tập trung của cải tư hữu và đấu tranh giai cấp diễn ra sớm nhất.
- Do nhu cầu chống chọi với thiên nhiên và tổ chức sản xuất mà các nhà nước phương Đông
đã ra đời.
Vào nửa sau thiên niên kỉ IV. TCN, cư dân Lưỡng Hà đã bắt đầu xây dựng nhà nước của
mình trên cơ sở chế độ chiếm hữu nô lệ. Mỗi thành thị kết hợp với vùng đất đai phụ cận hợp
thành một quốc gia nhỏ. Đứng đầu mỗi quốc gia là một ông vua gọi là Patesi. Patesi lúc đầu do
quý tộc bầu ra, về sau trở thành cha truyền con nối. Patesi đại diện cho nhà nước chịu trách
nhiệm trước Thần coi sóc các công trình thủy lợi, quản lý kinh tế, chỉ huy đội quân. Ở Sumer,
ngoài Patesi còn có hội nghị nhân dân và hội đồng bô lão. Các cơ quan này bầu ra các quan
chức của tòa án, và bộ máy hành chính cũng như có quyền tuyên chiến hay hòa hoãn.
Ở Ai Cập, nhiều công xã nông thôn liên minh lại thành một liên minh công xã lớn hơn gọi
là “nôm” (hay châu), về sau các châu đó hợp nhất lại và phát triển thành nhà nước Ai Cập.
Châu là hình thức nhà nước phôi thai, đứng đầu châu là một “nômáccơ” vưa là thủ lĩnh quân sự,
một thẩm phán và là một tăng lữ tối cao. Nômáccơ đước coi như một vị thần sống. Dần dần do
nhu cầu thống nhất lại thành thượng và hạ Ai Cập, đến cuối thiên niên kỉ IV.TCN thống nhất
lại thành quốc gia Ai Cập.
Ở Ấn Độ, người Arian ở vùng Tây Bắc đã liên hiệp các bộ lạc lại thành liên minh bộ lạc.
Đứng đầu các liên minh bộ lạc có vua (Radjah) mà thực chất là tù trưởng hay thủ lĩnh quân sự,


Vấn đề thứ 4
Những đặc điểm của văn minh phương Đông

Văn minh phương Đông rất rộng lớn về quy mô, lãnh thổ, rất đa dạng về màu sắc và có sự
tồn tại rất lâu dài về mặt lịch sử. Khái quát cho đúng, cho hết những đặc điểm của văn minh
phương Đông quả là một công việc không hề đơn giản, nếu không nói là hết sức khó khăn.
Đây là vấn đề phức tạp và còn phải nghiên cứu nhiều. Ở đây chúng tôi mới chỉ tập hợp và nêu
lên một số nhận xét bước đầu.

1. Văn minh phương Đông mang đậm tính chất văn minh nông nghiệp, văn minh sông
nước.
Tính chất nông nghiệp, sông nước là đặc điểm nổi bật nhất, là bản sắc dễ thấy nhất của
văn minh phương Đông. Đặc điểm này thuộc về loại hình văn minh: Văn minh phương Đông
chủ yếu là văn minh gốc nông nghiệp, trong khi văn minh phương Tây chủ yếu thuộc loại hình
gốc du mục và thương nghiệp. Tất nhiên nói như thế không có nghĩa là trong văn minh phương
Đông không có các yếu tố du mục và thương nghiệp nhưng nhìn một cách tổng thể thì tính chất
nông nghiệp, tính sông nước là nét chủ đạo. -

8
-
a) Điều kiện địa lí tự nhiên của các quốc gia phương Đông nói chung đều thuận lợi cho
sự phát triển nông nghiệp. Biểu hiện rõ nhất của các điều kiện này là sự có mặt của những con
sông lớn: Sông Nile ở Bắc Phi; sông Tigrơ, sông Ơphơrat ở Tây Á; sông Ấn (Hindus), sông
Hằng (Gangga) ở Ấn Độ; sông Hoàng Hà, sông Dương Tử (Trường Giang) ở Trung Quốc;
sông Mekong ở bán đảo Trung - Ấn, sông Menam ở Thái Lan, sông Hồng ở Trung Quốc, Việt
Nam, v.v. Lưu vực các con sông này tạo ra những đồng bằng rộng lớn, vựa lúa của phương

ngưỡng và các sinh hoạt văn hoá dân gian như lễ hội Tín ngưỡng là cội nguồn của lễ hội. Lễ
hội vừa là dịp tiến hành các nghi lễ có tính ma thuật để cầu xin thần linh giúp đỡ, xua đuổi tà
ma, vừa là dịp để người dân vui chơi giải trí.
Trong số các loại tín ngưỡng tồn tại ở phương Đông, phổ biến nhất là tín ngưỡng sùng bái
tự nhiên. Điều này hoàn toàn có cơ sở bởi sản xuất nông nghiệp, nhất là nông nghiệp ở thời kì

-

9
-
sơ khai khi khoa học kĩ thuật chưa phát triển, gần như tất cả đều phụ thuộc vào thiên nhiên,
vào ý Trời. Vì vậy, ở khắp nơi, từ Đông Bắc Phi-Tây Á đến lưu vực sông Hoàng Hà rộng lớn
v.v. đâu đâu người ta cũng thờ cúng các vị Thần liên quan đến sản xuất nông nghiệp như Thần
Mặt trời, Thần Đất, Thần Nước, Thần Lúa, Thần Gió, Thần Sông
Gắn liền với tín ngưỡng sùng bái tự nhiên là hàng loạt các lễ hội nông nghiệp như lễ hội
té nước, lễ hội cầu mưa, cầu nắng, hội đua thuyền, lễ tịch điền, lễ hội mừng được mùa
Nông nghiệp gắn liền với nông thôn. Tính chất nông nghiệp của phương Đông được nảy
sinh, nuôi dưỡng và phát triển trong một mô hình xã hội đặc biệt: mô hình làng xã. Các công
xã nông thôn, theo cách nói của K. Marx, có ảnh hưởng rất sâu đậm đến đời sống của cư dân
nông nghiệp phương Đông.

2. Văn minh phương Đông nặng về tính cộng đồng
Trong sản xuất nông nghiệp, các gia đình nông dân cùng canh tác trên một cánh đồng,
ruộng đất nhà này tiếp giáp ruộng đất nhà kia. Để có được năng suất, những người nông dân
trong làng không thể không liên kết với nhau. Chỉ có đoàn kết con người mới chống được thiên
tai. Muốn chống hạn, diệt sâu bọ, cũng cần sức mạnh của cả làng. Môi trường canh tác mang
tính tập thể như thế chính là cơ sở để nảy sinh tính cộng đồng.
Đặc trưng này của văn minh phương Đông khiến mỗi người khi hành động luôn luôn phải
nghĩ đến cộng đồng, đến tập thể, xã hội. Trong làng, người dân thường tránh những việc làm
phương hại đến tập thể. Từ đây nảy sinh quan điểm sống vì tập thể. Vì tập thể, người ta sẵn

nông nghiệp phụ thuộc rất nhiều vào thiên nhiên. Bởi vậy từ trong tâm khảm của người dân, tự
nhiên là đấng tối cao. Sản xuất nông nghiệp chỉ có thể đạt hiệu quả khi thuận theo tự nhiên.
Một trong những biểu hiện của sự thuận theo ấy là tính thời vụ. Có thể nói, kinh nghiệm sống,
nói cụ thể hơn là kinh nghiệm sản xuất, đã khiến cư dân nông nghiệp phương Đông phải hành
động thuận theo tự nhiên. Trái ý tự nhiên, trái ý Trời sẽ bị trả giá. Không còn cách nào khác,
Nhật Bản vẫn phải “sống chung với động đất”, Indonesia phải “sống chung với núi lửa”,
Philippines phải “sống chung với bão” còn đồng bằng sông Cửu Long của Việt Nam thì phải
chấp nhận “sống chung với lũ” như là một lẽ tự nhiên.
Một lí do khác nữa cắt nghĩa cho đặc điểm hoà đồng, thuận tự nhiên là ở tổ chức của xã
hội truyền thống phương Đông, đó là xã hội nông nghiệp với chế độ công xã nông thôn. Chế
độ này, như đã nói, mang lại cho mỗi đơn vị nhỏ bé (làng xã) một cuộc sống cô lập, tách biệt.
Công xã tổ chức theo lối gia đình tự cấp, tự túc. Con người bị trói buộc bởi những quy tắc
truyền thống, do đó hạn chế sự phát triển của lí trí, từ đó rất dễ trở thành nô lệ của những điều
mê tín dị đoan. Những công xã nông thôn phương Đông, do vậy, hạn chế con người ở việc chủ
yếu phục tùng những hoàn cảnh bên ngoài, phục tùng tự nhiên chứ không có ý thức và năng
lực làm chủ hoàn cảnh, chinh phục tự nhiên. Đây cũng chính là lí do để chế độ chuyên chế
phương Đông tồn tại và phát triển.

4. Văn minh phương Đông hướng nội và khép kín
Cuộc sống nông nghiệp luôn luôn cần một sự ổn định. Người dân thường rất sợ những
điều xảy ra bất thường. Lối sống hài hoà với tự nhiên, tình cảm với mọi người, suy cho cùng,
cũng là nhằm đạt tới sự ổn định. Từ đây xuất hiện phương thức sống hướng nội và khép kín.
Sống trong các công xã nông thôn cô lập, tách biệt, xét ở một góc độ nào đó, tính tự trị
đồng nghĩa với hướng nội và khép kín. Trong xã hội phong kiến, mô hình làng xã “kín cổng
cao tường” cùng với những thiết chế xã hội ngặt nghèo của nó càng làm cho “tầm nhìn” của cư
dân nông nghiệp không vượt khỏi “lũy tre làng”.
Nền nông nghiệp tự cấp tự túc chỉ tạo ra được những sản phẩm vừa đủ để lưu thông trong
phạm vi “chợ làng”, không trở thành hàng hoá thương nghiệp của nền kinh tế thị trường kiểu
phương Tây. Đó cũng là hướng nội, khép kín.
Lối sống hướng nội và khép kín không thể tạo ra sự phát triển đột biến. Có lẽ đây cũng là

Himalaya và cao nguyên Pamir ở bắc và đông bắc Ấn Độ, rồi vùng sa mạc Nội Mông, Ngoại
Mông ở Bắc và Tây Bắc Trung Hoa. Địa thế hiểm trở cùng với những phương tiện giao thông
hết sức hạn chế thời đó đã làm cho các nền văn minh cổ đại phương Đông xuất hiện và phát
triển một cách tương đối độc lập, vì vậy mỗi nền văn minh có tính chất độc đáo riêng và mang
dấu ấn dân tộc đậm đà.
Nói chung, các lưu vực sông ở phương Đông nói trên đều tạo thành những đồng bằng
rộng lớn và phì nhiêu, rất phù hợp với sự phát triển của nông nghiệp. Ở đây, điều kiện tự nhiên
thuận lợi: thuỷ lượng cao, khí hậu ấm áp, đất đai màu mỡ, dễ canh tác. Chính vì vậy cư dân các
khu vực nói trên đã sớm gắn bó với việc sản xuất nông nghiệp, nhất là nghề trồng lúa nước.
Bên cạnh trồng trọt, các gia đình còn chăn nuôi gia súc và gia cầm, một số làm các nghề thủ
công như sản xuất nông cụ, dệt vải, làm đồ gốm, v.v. Tuy nhiên nghề thủ công phương Đông
chỉ có tính chất bổ trợ cho nền kinh tế khép kín của làng xã, không phát triển thành kinh tế
hàng hoá thị trường. Như vậy là kinh tế nông nghiệp đóng vai trò chủ đạo của các quốc gia
phương Đông.

2. Phương Đông bước vào xã hội chiếm hữu nô lệ – xã hội có giai cấp đầu tiên trong lịch sử
phát triển của nhân loại – tương đối sớm. Điều này cũng dễ hiểu. Như trên đã nói, nông nghiệp
ở phương Đông ra đời sớm và giữ vai trò chủ đạo. Khi nông nghiệp phát triển thì tổ chức xã
hội cũng phát triển, dẫn đến việc xã hội sớm phân hoá thành giai cấp và hệ quả là nhà nước
sớm ra đời. Thời gian xuất hiện nhà nước phương Đông cổ đại sớm nhất (dưới hình thức nhà
nước chiếm hữu nô lệ) là vào khoảng thế kỉ thứ IV TCN. Dĩ nhiên các nhà nước chiếm hữu nô
lệ không ra đời cùng một lúc và cũng không chấm dứt cùng một lúc. Ra đời sớm nhất là nhà
nước chiếm hữu nô lệ ở Ai Cập và Lưỡng Hà (thế kỉ thứ IV TCN), sau đó mới đến các nhà

-

12
-
nước ở khu vực sông Ấn, sông Hằng và Hoàng Hà, Dương Tử (thế kỉ thứ III TCN). Về sự “lụi
tàn” của các nhà nước chiếm hữu nô lệ phương Đông cũng tương tự. Nếu như đế quốc Ba Tư ở

chất và tinh thần.
Tóm lại, với bộ máy bạo lực to lớn, với việc đề cao đến mức thần thánh hoá nhà vua, các
nhà nước chiếm hữu nô lệ phương Đông đã phục vụ đắc lực cho giai cấp chủ nô, bảo vệ quyền
lợi và tài sản của giai cấp thống trị, đàn áp những cuộc khởi nghĩa của nông dân, giữ vững địa
vị thống trị của chủ nô. Tuy nhiên cũng cần nhấn mạnh rằng các nhà nước chiếm hữu nô lệ
phương Đông đã làm nòng cốt cho nhân dân xây dựng, phát triển được những nền văn hoá đa
dạng, độc đáo, với nhiều thành tựu rực rỡ về chữ viết, văn học nghệ thuật, khoa học tự nhiên,
triết học, v.v. và hàng loạt những công trình văn hoá vật chất đồ sộ vẫn sống mãi với thời gian.
Những thành tựu văn hoá rực rỡ ấy đã làm cho các quốc gia cổ đại phương Đông trở thành

-

13
-
những trung tâm của các nền văn minh thế giới cổ đại.

3. Vào những năm cuối cùng TCN hoặc những năm đầu công nguyên, nhìn chung các quốc
gia phương Đông đều kết thúc chế độ nô lệ và lần lượt chuyển sang xã hội phong kiến.
Vào thời kì trung đại, nền kinh tế chủ yếu của các nhà nước phong kiến phương Đông vẫn
là nền kinh tế nông nghiệp, tự cung tự cấp. Trong xã hội phong kiến, giai cấp phong kiến quý
tộc và sau này thêm tầng lớp địa chủ, là giai cấp nắm tư liệu sản xuất, nắm ruộng đất nên là
giai cấp thống trị. Giai cấp bị trị là nông dân. Ở phương Đông, khi kinh tế phong kiến là điền
trang thái ấp thì nông dân chịu thân phận nông nô còn khi kinh tế phong kiến chuyển sang hình
thức địa chủ thì nông dân trở thành tá điền.
Trong các nhà nước phong kiến phương Đông, nhà nước phong kiến Trung Hoa là một
điển hình. Đặc trưng của kiểu nhà nước này là có một chính thể quân chủ chuyên chế tập
quyền cao độ, hoàn hảo. Dưới chế độ phong kiến, vua là người nắm trong tay toàn bộ quyền
lực: lập pháp, hành pháp, tư pháp. Vua được mệnh danh là Thiên tử. Và bộ máy nhà nước do
vua đứng đầu có một uy quyền vô cùng to lớn.
Trong lịch sử, chế độ phong kiến phương Đông tồn tại dai dẳng: khoảng 20 thế kỉ (tính từ

minh của dân tộc mình. Văn minh phương Đông từ đây càng ngày càng phát triển đa dạng và
phong phu.

Vấn đề thứ 6
Những hạn chế của nề văn minh phương Đông

Văn minh phương Đông, như đã nói ở trên ở trên, có nhiều thành tựu vĩ đại. Tuy nhiên
văn minh phương Đông không phải không có những hạn chế nhất định.Các hạn chế của văn
minh phương Đông, suy cho cùng, chủ yếu do đời sống nông nghiệp chi phối.

1 .Văn minh gốc nông nghiệp mang tính làng xã của phương Đông đã tạo ra những hạn chế.
Nền kinh tế nông nghiệp tự cung tự cấp với tính tự trị làng xã buộc mỗi cá nhân, mỗi gia đình
phải tự làm ăn, tự lo liệu cuộc sống của mình. Do khoa học kĩ thuật chưa phát triển, sản xuất
phụ thuộc vào thiên nhiên nên người dân thường chỉ đủ ăn, đủ mặc. Đó là cơ sở tạo ra tính tư
hữu, tính ích kỉ, gắn với nó là tâm lí sợ người khác hơn mình. Họ dễ bì tị, đố kị với những
người giàu có, với những người có cuộc sống dư dả hơn mình. Hơn nữa tính cộng đồng làng xã
lại có mặt trái là dễ tạo ra thứ chủ nghĩa tập thể bình quân, lối sống ỷ lại, dựa dẫm, cam phận
trong cái tôi nhỏ bé của mình, làm cản trở tính sáng tạo của mỗi cá nhân. Chính vì lối sống ấy
mà ý thức cá nhân trong mỗi con người không phát huy mạnh mẽ để trở thành ý thức sáng tạo.
Người ta không nghĩ hay không dám hướng đến một cung cách làm ăn khác hơn để cải tiến
cuộc sống đơn sơ, thiếu thốn của mình, và cam chịu, chấp nhận nó như một điều tất yếu. Họ
bằng lòng với cuộc sống theo cách thức sản xuất mà ông cha để lại, không dám đi xa, mạo
hiểm vì cả đời chỉ quen với làng xã và mảnh ruộng cỏn con của mình. Thêm nữa lối sống nông
nghiệp còn tạo ra cho người nông dân tính cách lề mề, tuỳ tiện và sự yếu kém về tính tổ chức.
Nền sản xuất nông nghiệp vốn ít có những đòi hỏi khắt khe về thời gian, người ta không phải
lo cạnh tranh gay gắt, không bị ai thúc ép. Vì thế nên khi bước vào xã hội hiện đại với yêu cầu
phát triển công nghiệp thì tính cách tuỳ tiện, thiếu kỉ luật, thiếu tính tổ chức mới bộc lộ tất cả
những yếu kém của nó. Đó là mặt hạn chế cơ bản của con người nông nghiệp phương Đông
trong sự so sánh với con người phương Tây vốn quen tác phong nhanh nhẹn, chính xác và làm
việc hết mình.

và tiếp thu những yếu tố văn hoá mới, tiên tiến của phương Tây. Nói cách khác, đồng thời với
việc bảo tồn và phát huy những thành quả, những yếu tố tích cực xây dựng một nền văn minh
công nghiệp (và hậu công nghiệp) tiên tiến cho sự phát triển kinh tế – xã hội của mỗi quốc gia
và toàn khu vực.

Vấn đề thứ 7
Những thành tựu của văn minh phương Đông

(1) Những thành tựu về chữ viết-văn học:
1. Ai Cập:
+ Ở giai đoạn đầu văn học mang đậm tính tôn giáo như ca ngợi các thần, miêu tả nghi lễ
thờ cúng và tang lễ. Đến thời Tân và Trung Vương quốc, văn học đã phản ánh những mâu
thuẫn xã hội, phê phán bọn quan lại và nói lên nỗi khổ của những người lao động.
- Tiêu biểu là các tác phẩm: “Truyện kể của Lpouer”, “Truyện Sinouhé” (Xinuhê), tập truyện
“Người nông phu biết nói những điều hay” phê phán tầng lớp quan lại ức hiếp người dân
và sự khốn khổ của những người lao động.
- Thơ ca trữ tình: Các bài thơ ca ngợi tình yêu, và sự gắn bó giữa con người với thiên nhiên
được tập hợp trong cuốn “Papyrus Haris 500”.
- Văn học mang tính chất triết lí: Tiêu biểu là cuốn “Đối thoại một người thất vọng với linh
hồn của mình”, nói đến sự suy sụp của người Ai Cập trước sự đổ vỡ của các giá trị truyền
thống, tâm trạng chán đời.
+ Văn học Ai Cập đã có những bước tiến khá rõ rệt, từ những tác phẩm thô sơ mang tính
chất tôn giáo, đến chỗ xuất hiện nhiều tác phẩm với nhiều thể loại, phản ánh tình hình xã hội,
thể hiện sức sáng tạo kì diệu cỉa người Ai Cập cổ đại.

2. Lưỡng Hà:
+ Chữ viết

-


ngữ Arập thống nhất, bảo tồn, và được truyền bá rộng rãi trong các nước theo Hồi giáo. Đạo
Hồi truyền bá tới đâu kinh Koran và ngôn ngữ Arập cũng được truyền tới đó tạo điều kiện
thuận lợi cho sự giao lưu văn hóa, giữa các quốc gia. Kinh Koran được xem như một bộ sách
giáo khoa, là cuốn sách học tiếng Arập. Đạo Hồi quy định tín đồ ở bất kỳ nơi đâu khi đọc kinh
cũng đều phải đọc bằng tiếng Arập, vì vậy ngôn ngữ Arập được bảo tồn và duy trì sức sống cho
tới tận ngày nay.
Ngoài ra kinh Koran còn chứa đựng nhiều truyền thuyết, những câu chuyện lịch sử, phản
ánh sinh động bộ mặt xã hội lúc bấy giờ, là những tư liệu lịch sử, và nguồn cảm hứng bất tận
cho biết bao thế hệ nhà thơ, nhà văn sáng tác ra những tác phẩm bất hủ, làm phong phú thêm
cho nền văn học Arập.
- Nghìn lẻ một đêm, tác phẩm vĩ đại nhất của nền văn học Arập, là một trong những công
trình sáng tạo đồ sộ và tuyệt diệu của nền văn họcthế giới. Đay là câu chuyện dân gian bao
gồm nhiều chuyện nhỏ nối tiếp nhau có từ lâu đời ở miền đông đế quốc của các hoàng đế Arập

-

17
-
thời cổ, được bổ sung qua nhiều thế kỷ và được phổ biến rộng rãi ở trong nước cũng như thế
giới. Tập truyện phản ánh phong tục tập quán, thói quen sinh hoạt của giai cấp thống trị và ước
nguyện của nhân dân, thể hiện sức tưởng tượng phong phú và óc sáng tạo tuyệt vời của nhân
dan Arập.
- Arập còn có tập “ngụ ngôn” cũng rất nổi tiếng. Tập truyện này vốn của Ấn Độ, được
truyền sang Ba Tư từ khoảng thế kỷ VI đến thế kỷ VIII, sau đó được dịch sang tiếng Arập và
phổ biến toàn thế giới.
+ Về thơ ca cũng có rất nhiều các tác giả và tác phẩm tiêu biểu.
- Nhà thơ Abu Tamman, giữa thế kỷ IX đã sưu tập và hiệu đính tác phẩm “Anh dũng ca” 2
tập bao gồm tác phẩm của hơn 500 thi sĩ Arập cổ đại.
- Đến thế kỷ X, Abu Lơ Faraj lại soạn một tuyển tập thơ lớn gần 20 cuốn, lấy tên là “Thi ca
tập” bao gồm rất nhiều thơ ca của các tác giả trước đó.

-

18
-
+ Văn tự đầu tiên của người Trung Quốc là văn tự kết thừng. Đến thiên niên kỉ II.TCN,
người Ân Thương đã viết lên mai rùa, xương thú gọi là giáp cốt văn. Ngoài ra còn có chữ được
khắc trên đồ vật (Ân khư khư thế), chữ khắc trên đá (Thạch cổ văn), chữ khắc hay đúc trên
đồng (Kim văn), chữ trên chuông đỉnh (Chung đỉnh văn). So với Giáp cốt văn, Kim văn không
khác biệt về bản chất, nhưng chữ ngay ngắn, vuông vắn, thành hàng lối rõ rệt và nhiều chữ
phức tạp hơn.
+ Đến nhà Tần, chữ viết được chỉnh lí, đơn giản và cải tiến … khuôn trong hinh vuông
gọi là chữ Tiểu triện. Đây là lần thống nhất quan trọng cơ bản đầu tiên trong lịch sử phát triển
chữ viết của Trung Quốc … ra đời từ thiên niên kỉ thứ II.TCN, chữ viết Trung Quốc là hệ chữ
viết duy nhất hiện còn được sử dụng.
b. Văn học:
+ Thơ:
- Kinh thi: là tập thơ cổ nhất do nhiều tác giả sáng tác từ đầu Xuân Thu đến giữa Tây Chu
(khoảng 500 năm) gồm 3 phần: Phong, Nhã, Tụng, trong đó Phong chiếm số lượng nhiều nhất
và cũng có giá trị cao nhất. Kinh thi đã ảnh hưởng sâu sắc đến văn học Trung Quốc sau này.
- Thơ Đường: Thơ Đường là đỉnh cao của nền thơ ca Trung Quốc, nó trở nên vô giá bởi nội
dung và giá trị nghệ thuật tuyệt vời của mình. Hiện nay còn lại khoảng 48.000 bài thơ của 2300
tác giả. Các tác giả nỗi tiếng như Lí Bạch (701-762) đã để lại trên 1200 bài, Đỗ Phủ (712-770)
khoảng 1400 bài, Bạch Cư Dị (772-846) khoảng 2800 bài …
+ Tiểu thuyết Minh-Thanh:
Thời Minh - Thanh đã để lại cho hậu thế một số lượng lớn tiểu thuyết chương hồi phong
phú về nội dung, đa dạng về hình thức. Có các tác phẩm tiêu biểu như: Tam quốc chí diễn
nghĩa của La Quán Trung, Thủy hử của Thi Nại Am, Tây du kí của Ngô Thừa Ân …
Từ đầu nhà Thanh tới cuối thời vua Càn Long là thời kì tiểu thuyết cực thịnh. Các tác phẩm
tiêu biểu như Liêu trai chí dị của Bồ Tùng Linh, Nho lâm ngoại sử của Ngô Kính Tử, Hồng
Lâu Mộng của Tào Tuyết Cần… Trong đó Hồng lâu mộng là tiểu thuyết có giá trị nhất, là một

+ Người Ai Cập tin linh hồn bắt tử, nên việc chôn cất thi hài gắn liền với quan niệm hồn
và xác. Khi chết, linh hồn tuy thoát ra ngoài nhưng vẫn còn tìm chỗ dựa ở nơi xác, vì vậy khi
con người cần phải giữ lại xác. Việc xây dựng các Kim tự tháp (các lăng mộ của nhà vua) và kĩ
thuật ướp xác bắt nguồn từ quan niệm trên.

2. Lưỡng Hà:
- Trong thời kỳ đầu, người Lưỡng Hà theo đa thần giáo. Họ tôn sùng những lực lượng tự
nhiên, coi đó là những lực lượng thống trị cuộc sống của mình. Người Lưỡng Hà thờ thần Anu,
Eaua, thần Enlin ngoài các thần chủ, người Lưỡng Hà còn tôn thờ nhiều thần khác như thần
trồng trọt, thần chăn nuôi và các hiện tượng tự nhiên như thần Samat (thần Mặt trời). Thần
Istaro (thần Ái tình) người ta tin rằng thần Mẹ (Inana) còn là thần bảo hộ nông nghiệp, thần
của sinh nở, thần Ea (thần Biển) còn dạy cho người ta biêt nghề thủ công, nghệ thuật, khoa học,
thần Tamuz (thần Nước) được coi như vị thần dạy bảo cư dân trông trọt, làm nghề thủ công và
là vị thần của lòng nhân ái, bảo vệ mùa màng
- Cùng với sự xác lập quyền lực tối cao, trong toàn Lưỡng Hà của Hammourabi, thần
Mardouk đã trở thành vị thần tối cao trong toàn quốc, bản thân nhà vua cũng được thần thánh
hóa, thay mặt thần Mardouk cai trị muôn dân.
- Người ta xây dựng nhiều đền miếu thờ thần và tiến hành nhiều nghi lễ phức tạp. Việc
xây dựng đền miếu đã trở thành gánh nặng đối với quần chúng. Nhân dân đã bị tập đoàn tăng
lữ nô dịch về tinh thần và bóc lột về kinh tế. Tập đoàn tăng lữ của Babylone rất cồng kềnh, có
đến hơn 30 đẳng cấp.

* Đạo Hồi của Arập:
- Đạo hồi, tiếng Arập là Islam, có nghĩa là phục tùng, tuân theo thánh Allah tối cao và duy
nhất, tuân theo vị sứ giả của thánh Allah là Muhammad.
Những tư tưởng chính trị của đạo Hồi nằm trong kinh Koran gồm 30 quyển, 114 chương,
6236 tiết. Các tín đồ Hồi giáo coi kinh Koran như một vật linh thiêng, thần thánh.
Trong kinh Koran luân lí và pháp luật, thế tục và tôn giáo là một, mọi giới luật đều do
thánh Allah ban ra, đó là quy tắc cho mọi hành vi, từ lễ giáo đến hôn nhân, từ các hoạt động kĩ
nghệ, thương mại đến chính trị, di chúc, chiến tranh và hòa bình Những hiểu biết về y, dược

3. Ấn Độ:
- Bàlamôn giáo ra đời vào những thế kỉ đầu thiên niên kỉ I.TCN do sự phát triển của xã
hội có giai cấp và sự bất bình đẳng về đẳng cấp. Là một tôn giáo đa thần, cao nhất là thần
Brama, vị thần sáng tạo thế giới. Ngoài thần Brama còn có thần Visnu, Siva … nội dung quan
trọng trong giáo lí của Bàlamôn giáo là thuyết luân hồi. Về mặt xã hội, Bàlamôn giáo là công
cụ đắc lực bảo vệ chế độ đẳng cấp ở Ấn Độ. Bàlamôn được truyền bá rộng rãi trong nhiều thế
kỉ, đến thế kỉ VI.TCN bị suy thoái do sự phát triển mạnh mẽ của đạo Phât.
- Khoảng thế kỉ VII, đạo Phật bị suy sụp, nhân đó đạo Bàlamôn phục hồi và phát triển.
Đến khoảng thế kit VIII-IX, Bàlamôn giáo được bổ sung thêm nhiều yếu tố về đối tưựong sùng
bái, kinh điển và nghi thức… từ đây Bàlamôn giáo được gọi là Hinđu giáo (Ấn Độ giáo). Đối
tượng sùng bái chủ yếu của Hinđu giáo vẫn là ba thần Brama, Visnu, Siva. Các loài động vật
như rắn, hổ, khỉ, bò, cá sấu… cũng được Hinđu giáo coi là các thần và rất được tôn sùng, Giáo
lí của Hinđu giáo được thể hiện trong các bộ kinh Vêđa, Upanisad và các sử thi Mahabharata,
Ramayana, Bhagavad….
- Phật giáo: Ra đời vào cuối thiên niên kỉ I.TCN, Siddharata Gautama là người sáng lập.
Nội dung chủ yếu của Phật giáo là chỉ ra chân lí về nguyên nhân cảu các nổi khổ ở đời và sự
giải thoát khỏi nỗi đau khổ ấy.

-

21
-
Chân lí về nỗi đau và sự giải thoát khỏi nỗi đau khổ đó được thể hiện trong “Tứ diệu đế”.
Khổ đế là chân lí về các nỗi khổ.
Tập đế là chân lí về nguyên nhân của các nỗi khổ.
Diệt đế là chân lí về sự chấm dứt các nỗi khổ.
Đạo đế là chân lí về con đường diệt khổ (Bát chính đạo).
Về mặt thế giới quan nội dung cơ bản của học thuyết Phật giáo là thuyết “duyên khởi”.
Mọi vật đều do nhân duyên hòa hợp mà thành, duyên khởi do tâm mà ra, tâm là nguồn gốc của
duyên khởi và cũng là nguồn gốc của vạn vật.

thần sáng tạo thế giới của tôn giáo.

4. Trung Quốc:

-

22
-
a. Thuyết Âm dương, Bát quái, Ngũ hành, Âm dương gia:
Vào thời Ân, Chu, người Trung Quốc đã có các thuyết: Bát quái (cho rằng thế giới do 8
loại vật chất cấu tạo thành, âm dương là hai yếu tố căn bản của Bát quái ). Người ta dùng ngũ
hành (kim, mộc, thủy, hỏa, thổ) và âm dương để giải thích nguồn gốc của vũ trụ, mọi vật sinh
sinh hóa hóa đều do sự tác động tương hỗ hay sự phối hợp không điều hòa các yếu tố trên mà
thành. Những người theo học phái Âm dương gia đã đem kết hợp thuyết Âm dương với thuyết
Ngũ hành rồi thần bí hóa các thuyết này để giải thích các biến động của lịch sử xã hội.
b. Nho gia -Nho giáo:
+ Nho gia:
Khổng Tử (551-479. TCN) nhà tư tưởng lỗi lạc, người sáng lập phái Nho gia. Khổng Tử
chủ trương “nhân”, khôi phục “lễ” của nhà Chu. Từ hại nhân tư tưởng là “nhân” ông đã chỉ ra
mối quan hệ khăng khít giữa nhân và lễ. Ông đưa ra thuyết “chính danh định phận”, đề cao tư
tưởng “Thiên mệnh” Cái có giá trị nhất trong học thuyết của ông là tư tưởng giáo dục: ông là
người đầu tiên đề xuất có thể dạy học cho tất cả mọi người “Hữu giáo vô loại” Học trò của
ông và những môn đệ của họ hợp thành học phái Nho gia. Tư tưởng triết học Nho gia chính là
cội nguồn nhân đạo chủ nghĩa của văn hóa truyền thống Trung Quốc.
+ Nho giáo:
- Từ thời Hán Vũ Đế (140-87.TCN) với lệnh “bãi truất bách gia, độc tôn Nho thuật” Nho
học trở thành trường phái tư tưởng quan trọng nhất ở Trung Quốc.
- Đổng Trọng Thư (179-104.TCN) đã phát triển Nho học lên một bước mới, đồng thời
dùng thần học để giải thích nó làm cho học thuyết này mang màu sắc thần học tôn giáo nên từ
đó người ta thường gọi là Nho giáo. Nho giáo trở thành cơ sở lí luận và tư tưởng của chế độ

- Mặc Tử (khoảng 479-381TCN), nhà tư tưởng, nhà giáo dục kiệt xuất, người sáng lập
học phái Mặc gia. Hạt nhân của tư tưởng triết học Mặc gia là nhân và nghĩa (nhân là kiêm ái,
nghĩa là nghĩa lợi) với 10 chủ trương lớn
- Là người đầu tiên đề xuất “thủ thực dư danh” (lấy thực đặt tên) như một phạm trù triết
học, cũng là một trong những người đi tiên phong trong ngành logic học của nhân loại.
- Tư tưởng của học phái Mặc gia đầy thiện chí, có ảnh hưởng lớn một thời nhưng chứa
đựng nhiều ảo tưởng, nên từ Tần, Hán về sau Mặc gia dường như không còn tồn tại nữa.
e. Pháp gia:
- Pháp gia là học phái triết học đại biểu cho lợi ích của gia cấp địa chủ mới ra đời trong
thời kì Xuân Thu. Sở dĩ gọi là Pháp gia vì học phái này chủ trương “pháp trị”, cai trị đất nước
theo pháp luật.
- Người tiêu biểu cho Pháp gia là Hàn Phi (khoảng 280-233.TCN), công tử nước Hàn, đã
tổng kết kinh nghiệm thực tiễn và lí luận của các pháp gia thời kì đầu, hình thành hệ thống tư
tưởng Pháp gia hoàn chỉnh hơn. Ông phản đối tư tưởng phục cổ, lấy pháp, thuật, thế làm nội
dung cơ bản cho hệ thống chính trị của mình, chủ trương vô thần. Lí luận của học phái Pháp
gia có đóng góp lớn trong cuộc thống nhất đất nước, đưa lịch sử Trung Quốc phát triển lên một
bước mới.

(3) Nghệ thuật-Kiến trúc
1. Ai Cập:
+ Kiến trúc: Người Ai Cập đã xây dựng nhiều công trình kiến trúc như đền đài, cung điện,
kim tự tháp nổi tiếng làm người phải kinh ngạc và cúi đầu trước cái uy nghi hùng vĩ, biểu hiện
quyền lực vô biên của thần và của nhà vua. Trong kiến trúc, nỗi bật nhất là các kim tự tháp.
Cho đến nay, người ta đã phát hiện được trên 70 kim tự tháp, chủ yếu là ở khu vực phía bắc Ai
Cập, gần thủ đô Cairo nằm ở phía tây sông Nile.
Việc xây dựng lăng mộ được các Pharaon từ vương triều III chú ý. Kim tự tháp Djoser, do
kiến trúc sư Imhotép xây dựng, là kim tự tháp đầu tiên. Tới vương triều IV, kim tự tháp được
xậy dựng nhiều nhất, quy mô và kết cấu hoàn chỉnh, kĩ thuật tinh xảo và nghệ thuật trang trí
đạt tới trình độ cao. Nỗi bật nhất là kim tự tháp của Kheops có chiều cao 148m, phải mất 30
năm mới xây dựng xong.

- Đền tháp Ementélauki cũng là một loại hình kiến trúc độc đáo của Lưỡng Hà. Tháp cao
90m, từ xa trông ngọn tháp bảy tầng như một cái thang khổng lồ vươn thẳng lên trời.
- Cung điện của vua Giudéa dài tới 50m, rộng 30m, tường xây bằng gạch đá có trang trí
chạm khắc sặc sỡ và cung điện của vua Nabuchodonosor cũng là những công trình kiến trúc
độc đáo của người Lưỡng Hà.

* Nghệ thuật, kiến trúc Arập:
- Nghệ thuật kiến trúc Hồi giáo có vị trí rất cao trong kho tàng tri thức kiến trúc nhân loại.
Nhiều cung điện và thánh thất Hồi giáo với mái vòm và các tháp nhọn được xây cất công phu
và trang hoàng rực rỡ, chạm trổ tinh vi, trang trí bằng hoa lá và các hình kỉ hà, vòi phun nước
nghệ thuật kiến trúc Arập thừa hưởng những nét đẹp của các công trình xây dựng Ba Tư với
những cây cột mảnh, vòng cung nhọn hình móng ngựa hoặc học theo người Byzantin cách xây
vòm tròn, đồng thời học tập nghệ thuật của Ai Cập, Lưỡng Hà, Ấn Độ, cho nên nghệ thuật của
người Arập rất phong phú và đa dạng.
3. Ấn Độ:
Ấn Độ là nơi có nền nghệ thuật tạo hình phát triển rực rỡ nhất phương Đông. Chính vì thế
đây là nơi cung cấp nguyên mẫu cho nền nghệ thuật của nhiều nước, trong đó có Trung Quốc.
Nghệ thuật Ấn Độ mang tính chất bền vững và lấu đời. Đó là nền nghệ thuật chuyển tải
nội dung tôn giáo, do đó ứng với mỗi tôn giáo sẽ có một mảng nghệ thuật riêng biệt, trong đó
phải kể đến ba mangr nghệ thuật lớn, nhiều về số lượng, phong phú về nội dung là nghệ thuật
Hindu giáo, Phật giáo và Hồi giáo.

-

25
-
Điểm chung của những mảng nghệ thuật tôn giáo Ấn Độ là khát vọng tâm linh, khát vọng
về cái đẹp và sự giải thoát. Tất cả những đặc điểm trên được thể hiện thông qua một số công
trình kiến trúc tiêu biểu sau đây:
- Stupa Sanchi và chùa Hang Ajanta là những công trình kiến trúc Phật giáo sớm nhất của

phật “Nghìn mắt nghìn tay” và 500 vị La Hán “Vạn Tự Bi” có 39 vạn chữ thời Tống
+ Kiến trúc:
Trung Quốc là nước có nền kiến trúc phát triển rực rỡ với nhiều công trình độc đáo, có
tầm cỡ quốc tế. Thời Cổ-Trung đại, lịch sử phát triển kiến trúc Trung Quốc được chia làm 4
giai đoạn, mỗi giai đoạn mang một nét đặc trưng riêng. Có những công trình kiến trúc nỗi tiếng
như: Thành Trường An, Vạn Lí Trường Thành, chùa Phật Quang ở Ngũ Đài Sơn, tháp chùa
Giang Thiên trên ngọn Kim Sơn, thành phố Lạc Dương, Điện Màu Ni (Hà Bắc), Cổ Cung,


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status