đề tài thực trạng phát triển làng nghề huyện sóc sơn - Pdf 10

Đề tài
" Thực trạng phát triển làng nghề
huyện Sóc Sơn "
1
Mục lục
2.3.1.1. Đầu vào lao động 56
2
Chương 1: Vai trò của công làng nghề trong quá trình công nghiệp hoá,
hiện đại hoá huyện Sóc Sơn.
1.1.Tổng quan về làng nghề.
1.1.1.Khái niệm và đặc điểm làng nghề.
1.1.1.1. Khái niệm.
Làng nghề là một cụm những hộ dân cư đang sinh sống trong một thôn
(làng) cùng làm một nghề sản xuất ra một loại một sản phẩm, dịch vụ nào đó
nhằm mục đích bán ra thị trường để thu lời. Trong làng nghề, công nông
nghiệp kết hợp với nhau, vừa làm nông nghiệp, vừa làm nghề hoặc làm nghề
nhưng “ly nông bất ly hương”.
Nói đến làng nghề ta thường nghĩ ngay đến những làng làm nghề thủ
công truyền thống như làng nghề lụa Vạn Phúc, làng gốm Bát Tràng, làng
tranh Đông Hồ. Nghề thủ công là nghề sản xuất chủ yếu bằng tay và công cụ
giản đơn với con mắt và bộ óc của nghệ nhân và thợ kỹ thuật. Đối với mỗi
nghề được xếp vào các nghề thủ công truyền thống, nhất thiết phải có các yếu
tố sau:
Một là, đã hình thành, tồn tại và phát triển lâu đời ở nước ta hoặc là
một nghề mới từ địa phương khác mang đến song được các nghệ nhân ở nơi
cũ truyền đạt lại kinh nghiệm và kỹ sảo kinh nghiệm.
Hai là, sản xuất tập trung, tạo thành các làng nghề, phố nghề.
Ba là, có nhiều thế hệ nghệ nhân tài hoa và đội ngũ thợ lành nghề.
Bốn là, kỹ thuật sản xuất tinh vi, chứa nhiều yếu tố kinh nghiệm từ đời
sang đời khác và công nghệ khá ổn định.
Năm là, sử dụng nguyên liệu tại chỗ, trong nước hoàn toàn hoặc chủ

không tách khỏi nông thôn.
4
Thứ hai, kỹ thuật công nghệ sản xuất được truyền từ đời này sang đời
khác có tính chất gia truyền. Công cụ lao động trong làng nghề đa số là công
cụ thủ công truyền thống, thô sơ.
Thứ ba, hình thức tổ chức sản xuất hộ gia đình, người chủ gia đình
thường đồng thời là thợ cả mà trong số họ không ít nghệ nhân, còn những
thành viên trong hộ được huy động vào làm những việc khác nhau trong quá
trình sản xuất kinh doanh phụ thuộc vào khả năng kỹ thuật của từng người,
vào giới tính hay lứa tuổi. Gia đình có thể thuê mướn lao động trong và ngoài
làng. Cá biệt có những lao động ở ngoại tỉnh thường xuyên hoặc theo thời vụ,
tạo thành một số làng nghề ở vùng lân cận.
Thứ tư, làng nghề thường ở các làng quê gắn liền với sản xuất nông
nghiệp nông thôn nên nguồn vốn trong dân không nhiều. Hơn nữa, hệ thống
tín dụng ở các vùng này hầu như chưa phát triển nên vốn đầu tư mở rộng quy
mô sản xuất, hiện đại hoá trong thiết bị sản xuất, tìm và nghiên cứu thị
trường, tiêu thụ sản phẩm ở các làng nghề còn hạn chế.
Thứ năm, các loại sản phẩm thường có một số sản phẩm mang tính
nghệ thuật cao. Mặt khác, sản phẩm thường không phải do sản xuất hàng loạt
mà có tính đơn chiếc nên có tính độc đáo và khác biệt cao. Các sản phẩm của
làng nghề truyền thống là sự kết tinh, sự bảo lưu và phát triển của các giá trị
văn hoá, văn minh lâu đời của dân tộc.
1.1.2. Phân loại làng nghề.
Có rất nhiều tiêu chí có thể được sử dụng để phân loại làng nghề. Căn
cứ vào thời gian tồn tại và phát triển có thể chia làng nghề thành hai loại.
1.1.2.1. Làng nghề truyền thống (cổ truyền).
Làng nghề truyền thống (LNTT) hình thành do các nghệ nhân truyền
nghề. Những nghệ nhân này thường được suy tôn là tổ nghề. Các làng nghề
nổi tiếng nhất ở đồng bằng Bắc Bộ đều được hình thành như vậy và có tuổi
5

làng gốm Thổ Hà (Bắc Ninh) bị sa sút mạnh mẽ thì làng nghề Gốm Bát Tràng
(Hà Nội) lại phát triển lan toả ra cả một vùng lân cận tạo nên xã nghề. Mặt
khác, những làng nghề có xu hướng phát triển tốt cũng luôn phải đối diện với
những khó khăn như sự cạnh tranh khốc liệt của lụa tơ tằm Vạn Phúc với lụa
tơ tằm công nghiệp của Trung Quốc về mẫu mã cũng như chất lượng vải và
các đặc tính nổi trội như độ bóng, độ nhàu, độ dai… Chính vì vậy, đòi hỏi các
làng nghề cần phải luôn luôn cố gắng đổi mới công nghệ sản xuất, nâng cao
chất lượng, hạ giá thành sản phẩm, cải tiến mẫu mã để đáp ứng nhu cầu thị
trường tiêu thụ sản phẩm.
Trong nền kinh tế thị trường, sản xuất cái gì, sản xuất như thế nào, sản
xuất cho ai, đều do thị trường quyết định. Hay nói cách khác, là sản xuất và
bán cái mà người ta cần chứ không phải sản xuất và bán cái mà mình có.Vậy
cái chính ở đây là sản phẩm của làng nghề phải đáp ứng được nhu cầu của thị
trường về kiểu dáng, chất lượng, giá cả thì mới có cơ hội phát triển được.
1.1.2.2. Làng nghê mới.
Làng nghề mới được hình thành bằng nhiều con đường, nhưng chủ yếu
do sức ép về kinh tế, đây cũng là nguyên nhân thúc đẩy sự hình thành làng
nghề mới ra đời. Các làng nghề mới thường có vị trí địa lý, nằm ở nơi có đất
chật, người đông, chất đất hoặc khí hậu không phù hợp nên nghề nông khó có
điều kiện phát triển, không đảm bảo thu nhập cho người nông dân. Với tốc độ
đô thị hoá như hiện nay, các làng nghề ven đô, làng ven thị trường bị mất đất
sản xuất để xây dựng các khu đô thị, nhà máy, xí nghiệp, đường giao thông và
các công trình khác. Cần phải tạo ra công ăn việc làm cho những người nông
dân bị thất nghiệp này để họ ổn định cuộc sống và không trở thành gánh nặng
7
cho xã hội. Nghề thủ công truyền thống (TCTT) là một trong những lựa chọn
phù hợp nhất vì nghề này có nhiều công đoạn cần sử dụng nhiều lao động,
thời gian đào tạo để biết làm nghề về cơ bản là ngắn và thích hợp với mọi đối
tượng, mọi lứa tuổi lao động. Mặt khác, đặc điểm của nghề nông là sau khi
trồng trọt, chăm bón cần một khoảng thời gian cho cây hấp thụ tăng trưởng,

Xây dựng tiêu chí làng nghề là tìm ra những điều kiện cần, những cơ sở
chuẩn mực để từ đó xem xét đánh giá một làng nghề.
Cơ sở khoa học và thực tiễn để xác định tiêu chí làng nghề là dựa trên
những thành tố cơ bản để liên kết bên trong ở các làng nghề, đồng thời dựa
vào đặc điểm các làng nghề CN-TTCN, cho phép chúng ta nhận thấy rằng
trong các làng nghề gồm sáu thành tố gắn kết chặt chẽ với nhau để tạo thành
những tiềm năng vững chắc cho sự phát triển mỗi làng nghề.
Một là, biên độ dao động số hộ làm nghề TTCN các làng nghề trên
chiếm 60%-80% số hộ trong làng.
Hai là, biên độ dao động số hộ làm một nghề chính ở làng chiếm từ
65%-90% so với tổng số hộ làm nghề TTCN. Tên của làng nghề được gọi
bằng chính tên của nghề chính đó.
Ba là, có ý kiến cho rằng cần xem xét tỷ trọng giá trị doanh thu của
TTCN trong tổng doanh thu của làng trong năm, coi đó là một tiêu chuẩn xem
xét công nhận một làng nghề. Thực tiễn cho thấy, xác định tỷ trọng TTCN ở
làng trong tổng giá trị kinhh tế trong một năm là rất khó, bởi lẽ sản phẩm của
làng nghề luôn luôn biến động theo mùa vụ, những con số đưa ra chỉ là ước
tính.
Bốn là, ở những LNTT, những người cùng làm nghề có mối quan hệ
gắn kết chặt chẽ với nhau trong tình cảm cộng đồng, làng xóm. Một số làng
9
xã đã tổ chức ra hội ngành nghề giữ vai trò liên kết những người làm nghề
dịch vụ liên quan đến nghề, làng nghề. Đồng thời quy tụ những người cùng
nghề, tổ chức sinh hoạt văn hoá nghề ở nhà thờ tổ, hoặc đình làng, đền.
Năm là, thực tiễn cho thấy ở các làng nghề, quá trình lao động, làm ra
sản phẩm, lực lượng lao động đã tự phân công thành các lớp thợ với trình độ
tay nghề khác nhau. Lớp thợ giỏi được người thợ tôn vinh là thợ cả, có nơi
tôn vinh là nghệ nhân. Dưới thời bao cấp, nhà nước đã phong tặng một số các
nghệ nhân danh hiệu “bàn tay vàng”. Số thợ giỏi của các làng nghề chiếm từ
5%-20% lao động chính. Số thợ cả, nghệ nhân ở các làng nghề đóng vai trò

tiêu chí được quy định một cách chính thức để xác định thế nào là nghề
truyền thống, LNTT, song cách hiểu phổ biến hiện nay là:
 Nghề truyền thống: bao gồm những nghề tiểu thủ công có từ trước
thời Pháp thuộc, còn đến nay, kể cả những nghề đã được cải tiến hoặc sử
dụng máy móc hiện đại trong sản xuất nhưng vẫn tuân thủ công nghệ truyền
thống.
 LNTT: là những làng có 50 hộ hoặc có từ 1/3 số hộ hoặc lao động
cùng làm một nghề truyền thống.
 Xã nghề truyền thống: là một xã mà ở đó không chỉ có một làng mà
có nhiều làng cùng làm một nghề truyền thống.
 Phố nghề truyền thống: là những LNTT được đô thị hoá hoặc do
nhiều lao động từ LNTT ra đô thị lập nghiệp tập trung lại thành phố nghề. Xã
nghề truyền thống, phố nghề truyền thống thường được gọi chung là LNTT.
11
LNTT là một vấn đề lớn, cần nghiên cứu để có các chủ trương, chính
sách thích hợp, thúc đẩy hình thành các làng nghề phù hợp với tính chất của
ngành nghề thủ công và tập quán của nhân dân ta.
Từ những phân tích ở trên có thể hiểu rằng, ngành nghề truyền thống là
những ngành nghề TTCN đã xuất hiện từ lâu trong lịch sử phát triển kinh tế
của nước ta còn tồn tại đến ngày nay. Bao gồm cả ngành nghề mà phương
pháp sản xuất được cải tiến hoặc sử dụng những máy móc hiện đại để hỗ trợ
sản xuất nhưng vẫn tuân thủ công nghệ truyền thống.
Do sự phát triển của khoa học công nghệ nên nhiều sản phẩm mới ra
đời ưu thế hơn những sản phẩm truyền thống. Vì thế mà ngành nghề truyền
thống dần dần bị mất đi, và một số ngành nghề mới xuất hiện để phù hợp với
sự đòi hỏi khách quan của thị trường về cơ cấu, chất lượng, chủng loại sản
phẩm.
Đối với những nghề được xếp vào ngành nghề TCTT cần phải có
những yếu tố sau:
- Đã hình thành, tồn tại và phát triển lâu đời ở nước ta.

Tỷ lệ thất nghiệp ở
thành thị
6.4 6.3 6 5.8 5.6 5.3
Tỷ lệ sử dụng thời gian
lao động ở nông thôn
74.2 74.3 75.3 77.7 79.4 80.6
Nguồn: TCTK.
Trong thời gian qua, ngoài kết quả tích cực nổi bật về mặt sử dụng số
lượng lao động ở thành thị: tỷ lệ thất nghiệp của lực lượng lao động trong độ
tuổi khu vực thành thị đã liên tục giảm xuống thì chúng ta đã đạt được một số
kết quả tích cực khác về mặt sử dụng số lượng lao động và tỷ lệ sử dụng thời
gian lao động trong tuổi lao động ở nông thôn đã liên tục tăng lên.
13
Kết quả này càng có ý nghĩa khi đạt được trong điều kiện dân số và số
người đến tuổi lao động thời gian qua vẫn còn rất lớn. Mặc dù tốc độ tăng dân
số giảm từ 1.86% năm 1991 xuống còn 1.65% năm 1995, còn 1.36% (2000),
1.33% (2005), nhưng quy mô dân số năm 2005 đã lên tới 83.127 nghìn người,
tăng 15.879,3 nghìn người so với năm 1991. Bình quân một năm tăng 1.058,6
nghìn người. Số người đến tuổi lao động hàng năm vẫn còn rất lớn, lên đến
trên 1 triệu người, tạo ra sức ép lớn về giải quyết việc làm, lao động.
Như vậy, giải quyết việc làm cho số lao động đang thất nghiệp, thiếu
việc làm, lao động đến tuổi lao động… là vấn đề bức xúc đang được đặt ra.
Đặc biệt, khu vực nông thôn với gần 75% dân số và với tỷ lệ thất nghiệp xấp
xỉ 20%, thì vai trò của các làng nghề đống góp vào việc giải quyết việc làm
cho người lao động là rất quan trọng. Bởi trong các ngành nghề TCTT, lao
động sống thường chiếm tỷ lệ tới 60%-65% giá thành sản phẩm, nên việc phát
triển các làng nghề sẽ phù hợp với yêu cầu giải quyết việc làm cho người lao
động đang ngày càng dư thừa một cách nhanh chóng ở nông thôn. Sự phát
triển làng nghề không những chỉ thu hút lao động dư thừa ở gia đình mình,
làng xã mình, mà còn có thể thu hút được nhiều lao động từ các địa phương

năng và thế mạnh về ngành nghề truyền thống về đội ngũ nghệ nhân, thợ
lành nghề; nắm bắt được nhu cầu thị trường , có khả năng tiếp thị và liên
doanh, liên kết để mở rộng thị trường thì sự chuyển dịch cơ cấu lao động theo
hướng CNH rõ nét. Các hoạt động ngành nghề thực sự đã được xem như động
lực của sự tăng trưởng, tạo việc làm mới, cải thiện đời sống vật chất, văn hoá
tinh thần cho bản thân người lao động cũng như mỗi gia đìnhvà cả cộng đồng.
15
Mặc dù ngành nghề nông thôn còn đang gặp nhiều khó khăn trên con
đường phát triển nhưng qua kết quả và bước đầu đã đạt được ở không ít
những địa phương, người nông dân nông thôn đã hiểu rằng: nếu chỉ làm thuần
nông, độc canh cây lúa thì giỏi nhất cũng chỉ đủ ăn, còn muốn làm giàu lên thì
phải kết hợp hoặc chuyển hẳn sang các hoạt động ngành nghề phi nông
nghiệp, đặc biệt là các ngành nghề có khả năng tạo ra khối lượng sản phẩm
hàng hoá lớn, có chất lượng cao đáp ứng được nhu cầu tiêu dùng của thị
trường trong nước hoặc phụ vụ cho xuất khẩu. Ở hầu hết các làng nghề, đặc
biệt là các LNTT đã được khôi phục và phát triển đều giàu có hơn các làng
thuần nông khác trong vùng. Ở các làng nghề, tỷ lệ hộ khá giàu lên thường
cao, không có hộ đói, tỷ lệ hộ nghèo rất thấp, thu nhập từ ngành nghề chiếm
đại bộ phận tổng thu nhập của dân cư trong làng, hệ thống công trình công
cộng, kết cấu hạ tầng phát triển, nhà cửa cao tầng của các hộ dân mọc lên san
sát và ngày một gia tăng, tỷ lệ số hộ có các loại đồ dùng tiện nghi đắt tiền
chiếm tỷ trọng khá.
Ngoài ra, sự phát triển mạnh mẽ các hộ ngành nghề, các doanh nghiệp
nhỏ, các cơ sở chuyên ngành nghề, các hộ nghề, làng nghề ở nông thôn một
mặt tạo ra cơ hội giải quyết việc làm, tăng thu nhập và sức mua cho nông dân;
mặt khác, đóng vai trò tích cực trong việc thay đổi tập quán từ sản xuất nhỏ,
phân tán, độc canh, tự cung tự cấp sang sản xuất hàng hoá nông nghiệp đa
canh, kết hợp sản xuất nông nghiệp với phát triển ngành nghề, thúc đẩy quá
trình chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông nghiệp nông thôn.
1.2.3. Sự phát triển của các LNTT đã thúc đẩy quá trình chuyển dịch cơ cấu

24468.
4
24455.
8 24443.4
24730.
7 24259.3
CN-XD 4929.7 5551.9 6084.7 6670.5 7216.5 7645.1
DV 8198.9 8542.4 8967.2 9459.9 9639.1 10805.6
2. Tỷ trọng (%) 100 100 100 100 100 100
NN-LN-TS 65.09 63.45 61.90 60.24 59.46 56.80
CN-XD 13.11 14.40 15.40 16.44 17.35 17.90
DV 21.80 22.15 22.70 23.32 23.18 25.30
Nguồn: TCTK.
Cơ cấu lao động nông thôn thay đổi, tỷ trọng lao động trong nông
nghiệp giảm từ 65.09% năm 2000 xuống còn 56.80% năm 2005, tỷ trọng các
ngành phi nông nghiệp tăng, CN-XD tăng từ 13.11% năm 2000 lên 17.90%
17
năm 2005, DV tăng từ 21.80% năm 2000 lên 25.30% năm 2005. Góp phần
phân bố lao động hợp lý theo hướng “ly nông bất ly hương”. Sự phát triển
LNTT đã phá vỡ thế thuần nông và tạo đà cho công nghiệp phát triển, thúc
đẩy CNH-HĐH nông nghiệp, kinh tế nông thôn.
Việc khôi phục các nghề và các LNTT, phát triển các làng nghề mới,
sản phẩm mới, các doanh nghiệp nhỏ, các ngành nghề ở nông thôn một mặt
tạo ra việc làm, tăng thu nhập và sức mua cho người dân nông thôn, mặt khác
đóng vai trò tích cực trong việc thay đổi tập quán sản xuất từ sản xuất nhỏ,
phân tán, độc canh tự cung tự cấp sang sản xuất nông nghiệp hàng hoá, đa
canh, kết hợp sản xuất nông nghiệp với công nghiệp dịch vụ, thúc đẩy hình
thành và phát triển thị trường hàng hoá, thị trường vốn, thị trường lao động
trong nông thôn.
Các làng nghề sẽ là cầu nối giữa công nghiệp lớn hiện đại với nông

Tổng số
Nghìn lượt người Tốc độ tăng (%)
1997 1715.6 6.7
1998 1520.0 -11.4
1999 1781.8 17.2
2000 2140.1 20.1
2001 2330.8 8.9
2002 2628.2 12.8
2003 2429.7 -7.6
2004 2927.9 20.5
2005 3467.8 18.4
Nguồn: TCTK.
- Thị trường xuất khẩu của công nghiệp nông thôn cũng có tiềm năng
lớn. Về lâu dài, thị trường xuất khẩu là thị trường quan trọng vì các nước phát
19
triển giá nhân công đắt, sản phẩm công nghiệp chủ yếu là bằng máy móc, vì
vậy các sản phẩm mang tính chất thủ công với kỹ xảo điêu luyện là rất có giá.
1.2.4. Phát triển nghề truyền thống đã góp phần bảo tồn truyền thống văn hoá
dân tộc.
Lịch sử phát triển kinh tế cũng như lịch sử phát triển nền văn hoá Việt
Nam luôn gắn liền với lịch sử phát triển các làng nghề. Văn hoá làng với các
thể chế cộng đồng chứa đựng những quan hệ huyết thống, láng giềng, hôn
nhân, nghề nghiệp, với các phong tục tập quán, tín ngưỡng, lễ hội mang đậm
những sắc thái riêng đã tạo nên bản sắc truyền thống văn hoá phong phú, sâu
đậm của dân tộc Việt Nam. Lịch sử nông thôn Việt Nam đã ghi nhận, sự hình
thành và phát triển của các LNTT là một trong những thành tố quan trọng tạo
nên những nét đặc sắc của văn hoá làng. Mỗi làng nghề đều thờ cúng một
thành hoàng làng, hoặc một ông tổ nghề riêng, với những lễ hội, phong tục,
tập quán và những luật lệ riêng. Có nhiều nghề, LNTT ở nước ta đã nổi bật
lên trong lịch sử văn hoá, văn minh Việt Nam.

1.3.1. Tình hình phát triển LNTT ở một số nước.
Trung quốc: nghề thủ công ở Trung Quốc có từ lâu đời và nổi tiếng như
đồ gốm, dệt vải, dệt lụa tơ tằm, luyện kim, nghề làm giấy. Đầu thế kỷ XX cả
nước có khoảng 10 triệu thợ thủ công làm việc trong các làng nghề, trong các
hộ gia đình. Đến năm 1953, số người làm TTCN được tổ chức vào HTX (sau
phát triển thành xí nghiệp Hương Trấn).
Xí nghiệp Hương Trấn là tên gọi chung của các xí nghiệp công, nông
nghiệp, xây dựng, giao thông vận tải hoạt động ở khu vực nông thôn, bắt đầu
xuất hiện vào đầu năm 1978 khi Trung Quốc thực hiện chính sách mở cửa.
Tiền thân của xí nghiệp Hương Trấn được bắt nguồn từ những cơ sở TTCN
21
có truyền thống lâu đời trong lịch sử Trung Quốc. Đó là những phường hội,
cơ sở thủ công nghiệp và làm nghề phụ như thêu ren, cán bóng, xay xát đã
có từ lâu đời và bước đầu thoát ly khỏi nông nghiệp. Xí nghiệp Hương Trấn
phát triển mạnh mẽ, thể hiện sự tìm tòi, sáng tạo của Trung Quốc trong quá
trìh thực hiện chiến lược CNH, lựa chọn con đường đi lên CNXH.
Thái Lan: là một nước có nghề TCTT, hàng hoá xuất khẩu vào loại khá
của khu vực. Các nghề thủ công mỹ nghệ truyền thống như chế tác vàng bạc,
đá quý, đồ trang sức được duy trì và phát triển. Kim ngạch xuất khẩu sản
phẩm mỹ nghệ, vàng bạc, đá quý năm 1990 đạt gần 2 tỷ USD. Nghề gốm cổ
truyền những năm gần đây phát triển, sản phẩm có chất lượng cao, cạnh tranh
trên thị trường thế giới và trở thành mặt hàng xuất khẩu thu ngoại tệ lớn.
Vùng gốm Chiềng Mai được xây dựng thành trung tâm quốc gia với ba mặt
hàng truyền thống: gốm công nghiệp, gốm mới được sản xuất trong 2 xí
nghiệp chính và 72 xí nghiệp lân cận. Để nâng cao chất lượng sản phẩm,
chính phủ Thái Lan đã tích cực xúc tiến các chương trình nâng cao tay nghề
cho công nhân của 93 xí nghiệp, Gốm Chiềng Mai và Lam Dang. Bên cạnh
đó, nghề kim hoàn, chế tác ngọc,, chế tác đồ gỗ tiếp tục được phát triển, tạo
việc làm và nâng cao thu nhập cho dân cư nông thôn. Từ kế hoạch 5 năm lần
thứ IV (1977-1981), chính phủ Thái Lan đã chuyển chính sách CNH tập trung

sang xu hướng đa dạng hoá và đề cao cá tính, coi trọng chất lượng, tính độc
đáo hơn là số lượng theo kiểu tiêu chuẩn hoá đồng loạt. Các cuộc khủng
hoảng về nhiên liệu và một số tài nguyên thiên nhiên khác trên thế giới vào
những năm đó khiến Chính phủ Nhật Bản phải suy nghĩ lại về giá trị của các
làng nghề thủ công truyền thống đã tồn tại lâu đời, sử dụng tài nguyên tiết
23
kiệm, hiệu quả. Trong khi đó hàng TCTT Nhật Bản mất dần khả năng cạnh
tranh so với hàng tiêu dùng sản xuất bằng công nghiệp, lại vấp phải hàng loạt
khó khăn về thông tin thị trường, tiêu thụ, nguồn nguyên vật liệu tự nhiên,
vấn đề ô nhiễm môi trường, nguồn nhân lực bị hút ra thành thị, vào các ngành
sản xuất hiện đại hoá…Vì thế, các ngành nghề thủ công Nhật Bản đã bị suy
thoái.
Trong bối cảnh đó, Nghị viện Nhật Bản năm 1974 đã ban hành Luật
phát triển nghề TCTT. Được sự hỗ trợ của chính phủ, phong trào “mỗi làng
một sản phẩm” được khai sinh tại quận Oita vào năm 1979 với ý tưởng làm
sống lại các ngành nghề TCTT. Có hai khẩu hiệu nổi tiếng là “Nghĩ về tổng
thể, hành động ở địa phương”, và “Độc lập sáng tạo”. Nhờ phong trào, một số
sản phẩm truyền thống của Oita trở thành nổi tiếng không chỉ ở Nhật Bản,
mà còn trên thị trường nhiều nước.
Từ thành công của quận Oita, sau 5 năm phát động cả nước Nhật đã có
20 quận hưởng ứng các dự án tương tự như “sản phẩm của làng”, “chương
trình phát triển thành phố quê hương”, “chương trình làm sống lại địa
phương”…Tinh thần của phong trào này đã hấp dẫn nhiều nước trong khu
vực và trên thế giới.
1.3.2. Kinh nghiệm rút ra từ tình hình phát triển ngành nghề, LNTT ở một số
nước.
Từ thực tiễn phát triển ngành nghề, LNTT ở một số nước trên, chúng ta
có thể rút ra một số kinh nghiệm sau:
Một là, phát triển làng nghề, ngành nghề truyền thống gắn với quá trình
CNH nông thôn.

tài chính, vốn của Nhà nước được thông qua các dự án cấp vốn, bù lãi suất
25


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status