LuËn v¨n tèt nghiÖp
1 LUẬN VĂN TỐT NGHIỆP KHOA
TÀI CHÍNH NGÂN HÀNG Đề tài: “Giải pháp mở rộng hoạt động tín dụng
ngắn hạn tại NHNo&PTNT Việt Nam Chi nhánh Láng
Hạ”.
Nắm bắt được yêu cầu cấp thiết trên, sau thời gian thực tập tại phòng
Tín dụng NHNo&PTNT Chi nhánh Láng Hạ, em đã mạnh dạn đi sâu
LuËn v¨n tèt nghiÖp
3
nghiên cứu đề tài: “Giải pháp mở rộng hoạt động tín dụng ngắn hạn tại
NHNo&PTNT Việt Nam Chi nhánh Láng Hạ”.
Theo đó, luận văn ngoài phần mở đầu, kết luận cấu gồm 3 phần
chính:
Chương I: tín dụng ngắn hạn và mở rộng hoạt động tín dụng ngắn hạn tại các
NHTM.
Chương II: thực trạng hoạt động tín dụng ngắn hạn tại NHNo&PTNT Việt
Nam Chi nhánh Láng Hạ.
Chương III: giải pháp mở rộng hoạt động tín dụng ngắn hạn tại chi nhánh
láng hạ.
Để hoàn thành luận văn này, em xin chân thành cảm ơn thầy Hoàng
Xuân Quế và các anh chị cán bộ phòng Tín dụng tại NHNo&PTNT Việt
Nam Chi nhánh Láng Hạ đã tận tình quan tâm chỉ bảo, giúp đỡ em trong
suốt quá trình thực tập và làm luận văn.
Hà Nội, 6 - 2003
LuËn v¨n tèt nghiÖp
4
Chương I
Tín dụng ngắn hạn và mở rộng hoạt động tín dụng ngắn hạn tại
các ngân hàng thương mại.
1. Một số vấn đề cơ bản về ngân hàng thương mại
dụng, chiết khấu, tài chính với tiền ký thác của tư nhân hay chi nhánh hay
chi nhánh công quyền.
Hay một cách tiếp cận Ngân hàng thương mại dựa trên những dịch
vụ mà ngân hàng mang lại như Ngân hàng thương mại là loại hình tổ chức
tài chính tiền tệ cung cấp một danh mục các dịch vụ tài chính đa dạng nhất
đặc biệt là nghiệp vụ tín dụng, tiết kiệm và dịch vụ thanh toán và thực hiện
nhiều chức năng tài chính nhất so với bất kỳ một tổ chức kinh tế nào trong
nền kinh tế.
Theo pháp lệnh ngân hàng 23/5/1990 của Hội đồng Nhà nước xác
định: Ngân hàng thương mại là tổ chức kinh doanh tiền tệ mà hoạt động
chủ yếu thường xuyên là nhận tiền gửi từ khách hàng với trách nhiệm hoàn
trả và sử dụng số tiền đó để cho vay, thực hiện nghiệp vụ chiết khấu và làm
phương tiện thanh toán.
Như vậy nhìn chung từ khái niệm ta có thể thấy rằng Ngân hàng
thương mại có các đặc trưng :
+ Là tổ chức được phép nhận ký thác của công chúng với trách
nhiệm hoàn trả.
+ Được phép nhận ký thác để cho vay, chiết khấu và thực hiện các
nghiệp vụ tài chính khác.
Như vậy ta có thể hiểu Ngân hàng thương mại là một loại hình doanh
nghiệp đặc biệt hoạt động kinh doanh trên lĩnh vực tín dụng với với mục
đích thu lợi nhuận.
Do sự bùng nổ về thông tin và công nghệ thông tin, công nghệ ngân
hàng ngày càng được hiện đại hoá. Do đó để có thể cạnh tranh và hợp tác,
hoạt động ngân hàng không chỉ bó hẹp trong phạm vi một vùng, một quốc
gia mà hoà nhập trong toàn cầu. Điều đó tạo ra một cơ hội mới cho các
LuËn v¨n tèt nghiÖp
6
7
Hoạt động sử dụng vốn
Hoạt động sử dụng vốn ở đây bao gồm: hoạt động cho vay, hoạt
động ngân quỹ, hoạt động đầu tư chứng khoán.
Hoạt động cho vay là hoạt động quan trọng nhất quyết định sự thành
bại của ngân hàng bởi đây là hoạt động sinh lời chủ yếu của các ngân hàng.
Chính vì vậy đây cũng là hoạt động chứa nhiều rủi ro nhất. Để tránh rủi ro
tín dụng xảy ra, việc quản lý tiền vay được tiến hành một cách rất chặt chẽ,
đặc biệt với món vay lớn, thời hạn cho vay dài. Từ đó ngân hàng phải phân
chia tín dụng ra nhiều hình thức khác nhau nhằm mục đích dễ quản lý.
Hoạt động ngân quỹ nhằm bảo đảm khả năng thanh toán thường
xuyên của ngân hàng cho khách hàng. Đây là tài sản không sinh lời hoặc
sinh lời thấp nhưng tính lỏng cao và được coi như tiền mặt. Do đó ngân
hàng phải duy trì tài sản này ở mức độ hợp lý sao cho vừa đảm bảo tính
thanh khoản vừa đảm bảo khả năng sinh lời.
Ngoài ra ngân hàng còn sử dụng vốn vào hoạt động đầu tư chứng
khoán trên thị trường để thu lợi nhuận và một phần đảm bảo khả năng
thanh toán cho ngân hàng.
Hoạt động trung gian
Hoạt động trung gian là việc ngân hàng cung cấp cho khách hàng
một loạt các dịch vụ liên quan như chuyển tiền, thanh toán hộ khách hàng
thông qua các hình thức ghi chép trên tài khoản của khách hàng, phát hành
séc, uỷ nhiệm thu, uỷ nhiệm chi, thư tín dụng, môi giới mua bán chứng
khoán, quản lý hộ tài sản, tư vấn cho doanh nghiệp…
Ngày nay trong xu thế hội nhập kinh tế toàn cầu, hoạt động ngân
hàng chịu sự cạnh tranh gay gắt từ mọi hướng, chính vì vậy các ngân hàng
tiến tới hoạt động đa năng trên nhiều lĩnh vực, cung cấp nhiều dịch vụ khác
nhau. Vì vậy các dịch vụ cung cấp cho khách hàng cũng ngày càng tăng
thêm như: kinh doanh ngoại hối, bảo lãnh, tư vấn, kinh doanh chứng khoán,
LuËn v¨n tèt nghiÖp
9
- Người cho vay sẽ chuyển giao cho người đi vay một lượng giá trị
nhất định. Lượng giá trị này có thể dưới hình thái tiền tệ hay hiện vật như
hàng hoá, máy móc, thiết bị, bất động sản.
- Người đi vay chỉ được sử dụng tạm thời trong một khoảng thời gian
nhất định sau khi hết hạn theo thoả thuận phải hoàn trả cho người cho vay.
- Giá trị được hoàn trả thông thường lớn hơn giá trị lúc cho vay hay
nói cách khác người đi vay phải trả thêm phần lợi tức.
Như vậy ở đây - tiền không được bỏ ra để thanh toán hay để bán mà là
để cho vay, tiền chỉ được nhượng đi với điều kiện là nó sẽ quay lại điểm
xuất phát sau một thời gian nhất định - đó là đặc trưng thuộc về bản chất
của ngành ngân hàng. Ngoài ra sự hoàn trả không chỉ phải bảo tồn về mặt
giá trị mà còn cần có phần tăng thêm dưới hình thái lợi tức. Lợi tức về tín
dụng là thu nhập người cho vay nhận được từ khoản cho vay, nó là giá cả
của hàng hoá cho vay.
2.3. Phân loại tín dụng.
Tín dụng là một trong những nghiệp vụ cơ bản nhất và cũng mang lại
lợi nhuận chủ yếu cũng như rủi ro cho các ngân hàng. Chính vì vậy, các
nhà ngân hàng luôn phải tìm ra các tiêu thức phân loại tín dụng để có thể dễ
dàng quản lý, kiểm tra từ đó phòng tránh rủi ro tín dụng. Dựa vào các tiêu
thức khác nhau ta có thể phân loại tín dụng như sau:
Căn cứ vào thời gian của khoản vay:
Tổ chức tín dụng và khách hàng thoả thuận về thời hạn cho vay theo
hai loại: tín dụng ngắn hạn và tín dụng trung, dài hạn.
Tín dụng ngắn hạn: Đây là hình thức tín dụng thường có thời hạn dưới
một năm và mục đích thường để đáp ứng nhu cầu thiếu vốn tạm thời như
phục vụ cho thanh toán tiền, hàng hoá, tài trợ vốn lưu động hay thanh toán
bảo lãnh của bên thứ ba được ngân hàng chấp nhận.
Căn cứ vào mục đích sử dụng:
LuËn v¨n tèt nghiÖp
11
Cho vay sản xuất kinh doanh: các khoản vay này thường được sử dụng
để tài trợ vốn lưu động của doanh nghiệp hay tài trợ cho việc xây dựng nhà
xưởng, mua sắm máy móc, thiết bị, mua nguyên vật liệu
Cho vay tiêu dùng: chủ yếu phục vụ cho nhu cầu mua sắm tiêu dùng
của các hộ gia đình và cá nhân như mua nhà cửa, xe máy, ô tô và các
phương tiện cần thiết khác.
Căn cứ vào phương thức cho vay:
Cho vay theo hạn mức tín dụng: theo hình thức này ngân hàng và khách
hàng thoả thuận và ký kết một hợp đồng hạn mức tín dụng duy trì theo thời
hạn nhất định hoặc theo chu kì sản xuất kinh doanh.
Cho vay từng lần: đây là hình thức tín dụng mà ngân hàng và khách
hàng thoả thuận và ký kết hợp đồng riêng với mỗi khoản vay khi khách
hàng có nhu cầu. Mỗi lần khách hàng có nhu cầu vay vốn thì việc ký kết
hợp đồng sẽ được thực hiện lại từ đầu.
Cho vay từng dự án đầu tư: tổ chức tín dụng cho khách hàng vay vốn
để thực hiện các dự án đầu tư, phát triển sản xuất, kinh doanh, dịch vụ và
các dự án đầu tư phục vụ đời sống.
Cho vay hợp vốn: đối với những khoản vay lớn, một ngân hàng không
đủ khả năng hay không được phép cho vay đòi hỏi một nhóm các TCTD
cùng cho vay. Trong đó có một tổ chức tín dụng đứng ra làm đầu mối dàn
xếp, phối hợp các TCTD khác để cho vay.
Cho vay trả góp: khi vay vốn ngân hàng và khách hàng xác định và
thoả thuận số lãi vốn vay phải trả cộng với nợ gốc được chia ra để trả nợ
thành nhiều kỳ trong hợp đồng vay.
nguồn vốn trong dân cư hay đi vay các tổ chức kinh tế khác ngân hàng tiến
hành cho vay với các cá nhân, tổ chức kinh tế đang cần vốn để phục vụ sản
xuất kinh doanh.
Các doanh nghiệp không thể tiến hành sản xuất kinh doanh nếu thiếu
vốn. Nhờ nguồn vốn mà ngân hàng cho vay doanh nghiệp không những
LuËn v¨n tèt nghiÖp
13
đảm bảo quá trình sản xuất mà còn mở rộng sản xuất, cải tiến kỹ thuật, áp
dụng công nghệ hiện đại để hạ giá thành sản phẩm, tăng tính cạnh tranh của
sản phẩm trên thị trường. Từ đó các doanh nghiệp sẽ thúc đẩy sản xuất lưu
thông hàng hoá đẩy nhanh quá trình tái sản xuất mở rộng. Như vậy, tín
dụng ngân hàng đã biến các phương tiện hoạt động có hiệu quả, thu hút
nhanh chóng các vật tư lao động, những tiềm năng sẵn có khác vào sản
xuất.
Tín dụng ngân hàng giúp chuyển dịch cơ cấu kinh tế. Tín dụng
ngân hàng là một trong những công cụ hữu hiệu để thực hiện chuyển dịch
cơ cấu kinh tế. Nếu muốn khuyến khích ngành nghề hay thành phần kinh tế
nào phát triển, ngân hàng sẽ thực hiện ưu đãi tín dụng với ngành nghề hay
khu vực đó. Từ đó ngân hàng sẽ tạo điều kiện để các doanh nghiệp đó dễ
dàng tiếp cận được vốn vay ngân hàng, trở thành đòn bẩy để giúp ngành
nghề đó phát triển.
Để thực hiện được việc chuyển dịch cơ cấu kinh tế theo mục đích đã
định, các nhà ngân hàng cần phải nghiên cứu và thực thi chính sách tín
dụng phù hợp để có thể tác động vào quá trình chuyển dịch cơ cấu kinh tế.
Điều này đang là một vấn đề hết sức quan trọng ở nước ta, trong tình trạng
cơ cấu kinh tế hiện nay còn nhiều bất hợp lý. Đặc biệt trong quá trình
chuyển dịch cơ cấu kinh tế,chuyển từ nền kinh tế tự cung tự cấp sang nền
kinh tế nhiều thành phần chúng ta cần phải có những biện pháp để thúc đẩy
phương thức thanh tóan dùng tiền mặt do ngân hàng sử dụng phương thức
chuyển khoản, L/C từ đó giảm chi phí lưu thông tiền mặt trong nền kinh
tế.
Tín dụng ngân hàng là đòn bẩy kinh tế quan trọng thúc đẩy quá trình
mở rộng quan hệ giao lưu kinh tế quốc tế. Trong xu thế hội nhập quốc tế,
mối quan hệ giữa các nước trên thế giới và trong khu vực được mở rộng và
phát triển đa dạng cả về chiều rộng và chiều sâu. Đây là một trong những
nhân tố quan trọng tạo điều kiện đặc biệt cho các nước đang phát triển trên
thế giới trong đó có nước ta. Thực hiện chủ trương mở rộng hợp tác kinh
tế, tăng cường các quan hệ đối ngoại do đó đầu tư vốn tín dụng thúc đẩy
xuất khấu hàng hoá là mối quan tâm của các ngân hàng trong tình hình hiện
LuËn v¨n tèt nghiÖp
15
nay. Ngân hàng với tư cách là tổ chức kinh doanh tiền tệ, thông qua hoạt
động cho vay sẽ trở thành nền tảng, là người cung cấp vốn cho các nhà đầu
tư kinh doanh xuất nhập khẩu hàng hoá. Từ đó ngân hàng sẽ trở thành đòn
bẩy thúc đẩy quá trình mở rộng và giao lưu kinh tế quốc tế, là phương tiện
nối liền nền kinh tế các nước.
Qua đó ta thấy, tín dụng ngân hàng có một vai trò đặc biệt quan trọng
đối với nền kinh tế, là phương tiện, công cụ Nhà nước không chỉ có thể sử
dụng để quản lý, kiểm soát mà còn sử dụng để thúc đẩy sự phát triển nền
kinh tế, thực hiện các chủ trương của Nhà nước.
3. Tín dụng ngắn hạn.
3.1. Khái niệm tín dụng ngắn hạn.
Tín dụng ngắn hạn là một hoạt động cho vay của ngân hàng thương mại
được phân theo thời gian của khoản vay. Đó là những khoản vay có thời
hạn ngắn- dưới 1 năm do đó khoản vay này thường được dùng để đáp ứng
nhu cầu thiếu vốn tạm thời như phục vụ cho thanh toán hàng hoá, tài trợ, bổ
trả thông thường nhỏ hơn lãi suất khoản vay tín dụng trung và dài hạn
tương ứng.
- Hình thức tín dụng phong phú: Để đáp ứng nhu cầu hết sức đa dạng
của khách hàng, để góp phần phân tán rủi ro, đồng thời để tăng cường sức
cạnh tranh trên thị trường tín dụng, các ngân hàng thương mại không
ngừng phát triển các hình thức cho vay trong nghiệp vụ tín dụng ngắn hạn
của mình. Điều đó đã làm cho các hình thức tín dụng ngắn hạn rất phong
phú như: nghiệp vụ ứng trước, nghiệp vụ thấu chi, nghiệp vụ chiết khấu
- Là loại hình kinh doanh chủ yếu tại các ngân hàng thương mại. Xuất
phát từ đặc trưng của ngân hàng thương mại: là ngân hàng kinh doanh tiền
gửi, mà trong đó chủ yếu là tiền gửi ngắn hạn, nên để đảm bảo khả năng
thanh khoản của mình, các ngân hàng thương mại đã cho vay chủ yếu là
ngắn hạn.
LuËn v¨n tèt nghiÖp
17
3.3. Các hình thức tín dụng ngắn hạn
3.3.1. Chiết khấu thương phiếu
Chiết khấu là một nghiệp vụ tín dụng ngắn hạn của ngân hàng thương
mại, trong đó ngân hàng trao cho người có trái phiếu một số tiền bằng giá
trị đáo hạn của trái phiếu trừ đi một số tiền lãi, hoa hồng và một số chi phí
khác. Tiền lãi tính từ ngày chiết khấu tới ngày đáo hạn trái phiếu.
Chứng từ chiết khấu có một số đặc trưng là: chứng từ có giá ; được
thanh toán số tiền đúng bằng mệnh giá chứng từ chiết khấu; thời hạn thanh
toán là thời hạn ngắn ( 90 đến 180 ngày).
Trong nghiệp vụ chiết khấu, ngân hàng đưa cho khách hàng của mình
một số tiền để sử dụng ngay và chỉ thu số tiền đó về khi trái phiếu đáo hạn.
Về nguyên tắc, ngân hàng có thể nhận chiết khấu tất cả các trái phiếu
nhưng thông thường ngân hàng thích nhất là hối phiếu.
chiết khấu để thu hồi, sau đó trả lại thương phiếu để họ tự đòi nợ.
- Ngân hàng tiến hành thủ tục để truy đòi số nợ: theo luật định, ngân
hàng có quyền chỉ định một trong số những người tham gia ký chuyển
nhượng thương phiếu để trả nợ cho ngân hàng. Trong trường hợp này, ngân
hàng thường chỉ định người nào có đủ khả năng tài chính nhất.
Ưu điểm và nhược điểm của nghiệp vụ chiết khấu:
Chiết khấu là một nghiệp vụ tín dụng có khá nhiều ưu điểm, đó là:
- Chiết khấu là nghiệp vụ ít rủi ro, khả năng thu hồi nợ của ngân hàng
là khá chắc chắn.
- Đây là hình thức tín dụng khá đơn giản, ít phiền phức với ngân
hàng.
- Chiết khấu không làm đóng băng vốn của ngân hàng vì thời hạn
chiết khấu ngắn và ngân hàng thương mại có thể khá dễ dàng xin tái chiết
khấu thương phiếu ở Ngân hàng Nhà nước.
LuËn v¨n tèt nghiÖp
19
- Tiền cấp cho khách hàng khi chiết khấu thường được chuyển vào
tài khoản tiền gửi của khách hàng, bởi vậy nó lại tạo nguồn vốn cho ngân
hàng.
- Tất cả những ai kí tên vào thương phiếu đều có trách nhiệm thanh
toán và trong thực tế không một doanh nghiệp nào từ chối thanh toán do đó
đây là hình thức cho vay ít rủi ro nhất.
Tuy vậy, trong nghiệp vụ chiết khấu, ngân hàng thương mại vẫn có thể
gặp phải rủi ro do ba nguyên nhân cơ bản sau:
- Ngân hàng nhận chiết khấu những thương phiếu giả mạo.
- Giấy nhận nợ luân chuyển theo dây chuyền trong đó có một khâu
hỏng dẫn đến khó khăn trong thanh toán.
- Công ty mẹ phát hành cho Công ty ty con nhưng Công ty mẹ phá
sử dụng theo nhu cầu. Đây là cách cho vay mà các ngân hàng thường áp
dụng.
- Khách hàng được sử dụng dần số tiền vay trên tài khoản vay (tài
khoản ứng trước). Việc sử dụng bằng cách phát hành séc để chi trả mang số
hiệu tài khoản ứng trước. Khi tờ séc do khách hàng phát hành quay trở về
ngân hàng thì ngân hàng trích tài khoản vay để chi trả.
Khách hàng có thể sử dụng tiền vay một hoặc nhiều lần. Nếu khách
hàng phát hành séc để chi trả (mang số hiệu tài khoản vay) vượt mức cho
vay đã thoả thuận thì ngân hàng áp dụng các biện pháp chế tài do phát hành
séc không có tiền bảo chứng.
Đây là một trong hai hình thức tín dụng ứng trước mà các ngân hàng
thương mại có thể áp dụng song không phổ biến.
Ưu, nhược điểm của loại tín dụng ứng trước
Ưu điểm:
- Đối với ngân hàng: vốn ngân hàng cho vay thường không phải rút
ngay một lúc vì nhu cầu vốn của khách hàng phát sinh dần dần và nếu
khách hàng dùng tiền ứng trước đó vào việc thanh toán cho khách hàng
LuËn v¨n tèt nghiÖp
21
khác có tài khoản tại ngân hàng ấy thì nguồn vốn của ngân hàng không bị
hao hụt. Mặt khác, với cách cho vay này thì ngân hàng được hưởng một
khoản lãi tính trên toàn bộ số tiền ứng trước trong suốt thời gian cho vay dù
khách hàng có sử dụng hết hay không hết số tiền đó.
- Đối với khách hàng: được sử dụng vốn một cách chủ động. Có thể
đáp ứng tính thời vụ về vốn của họ.
Nhược điểm:
- Đối với ngân hàng: loại cho vay này có rất nhiều rủi ro do ngân
hàng khó kiểm soát việc sử dụng tiền vay của khách hàng.
- Đơn vị có tình hình tài chính tốt.
- Nhu cầu chi tiêu đó thực sự là bức bách và không quá lớn như nhu
cầu trả lương cho cán bộ công nhân viên.
- Khách hàng cần chứng minh được là sẽ có nguồn thu để trả
Qua phần trình bày trên, ta thấy tín dụng thấu chi có các đặc điểm sau:
- Giữa ngân hàng và khách hàng thoả thuận một hạn mức tín dụng để
khách hàng được sử dụng số dư nợ trên tài khoản vãng lai trong một thời
hạn nhất định.
- Khách hàng sử dụng vốn bằng cách phát hành séc mang số hiệu tài
khoản vãng lai hoặc bằng các công cụ thanh toán khác.
- Doanh số cho vay có thể lớn hơn hạn mức nếu trong quá trình sử
dụng tiền trên tài khoản khách hàng có tiền nộp vào bên có.
- Hạn mức tín dụng mà ngân hàng và khách hàng đã thoả thuận với
nhau chưa phải là tiền ngân hàng cho vay mà chỉ khi nào khách hàng sử
dụng (có xuất hiện dư nợ của tài khoản vãng lai) mới được coi là ngân hàng
cho vay và được tính tiền lãi trên số dư nợ đó.
- Vượt chi tài khoản là kỹ thuật cho vay mà số dư nợ thường xuyên
biến động vì thế khó thực hiện được đảm bảo tín dụng bằng hình thức bảo
đảm đối vật.
Ưu nhược điểm của loại tín dụng vượt chi tài khoản
Đối với khách hàng loại tín dụng vượt chi là khoản tạo cho khách hàng
những thuận lợi đáng kể nhờ vào sự chủ động, linh hoạt khi sử dụng. Việc
cho phép vượt chi trên tài khoản vãng lai giúp cho việc cân đối ngân quỹ
mà tránh phải đi xin vay nhiều lần với thủ tục phức tạp trong một kỳ, khi
LuËn v¨n tèt nghiÖp
23
mà ngay sau đó lại có những khoản thu được chuyển vào tài khoản để giảm
bớt việc phải trả lãi cho ngân hàng.
chịu) ; cuối cùng là thu tiền mặt về. Tuy nhiên, doanh nghiệp không thể
tránh khỏi có sự lệch pha giữa thời hạn thanh toán tiền hàng của khách
hàng và thời gian mua nguyên vật liệu để tiếp tục đầu tư mở rộng sản xuất.
Chính vì vậy, doanh nghiệp thường phải vay vốn ngân hàng để đáp ứng sự
thiếu hụt tiền mặt tạm thời này. Do đó khoản vay cũng thường đựơc đảm
bảo bằng khoản sẽ thu hay hàng tồn kho.
- Doanh nghiệp có khó khăn tạm thời về tài chính: doanh nghiệp cần
tiền để thanh toán nhưng lại không có chứng từ để phản ánh mối quan hệ
mua bán chịu đó trong khi đó số dư trên tài khoản của họ không đủ chi tiêu
khi đó doanh nghiệp rất cần các khoản vay ngắn hạn để giải quýêt những
khó khăn này. Trường hợp này xảy ra khi đến kỳ trả lương cho nhân viên,
phải trả nợ thiếu của khách hàng, thông thường các khoản này không quá
lớn và ngân hàng có thể xem xét cho khách hàng chi vượt.
- Doanh nghiệp có một lượng tài sản dự tính sẽ chuyển thành tiền
mặt trong tương lai gần, lượng tài sản này gây trở ngại làm ứ đọng vốn
kinh doanh của doanh nghiệp, trường hợp này doanh nghiệp muốn sử dụng
lượng tài sản này để xin vay giải quyết khó khăn về vốn do lượng tài sản
này gây ra.
- Vào mùa kinh doanh sản phẩm của mình doanh nghiệp cần mở rộng
quy mô, gia tăng hoạt động sản xuất kinh doanh nhưng thiếu vốn đầu tư mở
rộng. Khi nhu cầu về sản phẩm của doanh nghiệp trên thị trường được dự
đoán tăng cao nhưng doanh nghiệp hiện thời thiếu vốn để mở rộng…
3.5. Vai trò của tín dụng ngắn hạn.
Tín dụng ngắn hạn đảm bảo phát triển kinh tế theo chiều rộng, thúc
đẩy mở rộng hoạt động sản xuất kinh doanh. Đây là một trong những vai
trò quan trọng nhất của tín dụng ngắn hạn. Thông qua việc cung cấp vốn tín
dụng để mua nguyên vật liệu phục vụ sản xuất, mở rộng sản xuất kinh
doanh của các doanh nghiệp, tín dụng ngắn hạn góp phần giúp doanh
nghiệp mở rộng sản xuất. Nước ta đang trên đà CNH- HĐH, tuy nhiên do
lý hết sức chặt chẽ của chính phủ thông qua việc ấn định lãi suất tiền gửi,
hạn chế mở chi nhánh, giới hạn mức cho vay tối đa, giới hạn phạm vi hoạt
động… Các ngân hàng không phải đối phó với những thay đổi đột xuất trên