LuËn v¨n tèt nghiÖp
1
LỜI NÓI ĐẦU
Vốn là điều kiện tiên quyết đối với bất kỳ doanh nghiệp nào trong
việc đảm bảo tiến trình sản xuất kinh doanh được liên tục, hiệu quả. Không
chỉ có nhu cầu vốn trung và dài hạn để đổi mới công nghệ, nhà xưởng, máy
móc, các doanh nghiệp luôn có nhu cầu vay vốn ngắn hạn để bổ xung cho
nhu cầu thiếu hụt vốn tạm thời khi gặp khó khăn trong việc thanh toán với
khách hàng, trả lương cho công nhân, mở rộng sản xuất trong mùa vụ…
Đặc biệt trong điều kiện nền kinh tế nước ta chưa phát triển, các doanh
nghiệp chủ yếu có quy mô vừa và nhỏ - dễ gặp phải khó khăn về vốn ngắn
hạn mà không có khả năng giải quyết - do đó nhu cầu vay vốn ngắn hạn,
đặc biệt là nguồn vay từ ngân hàng là rất cao.
Chính vì sự quan trọng của tín dụng ngắn hạn đối với hoạt động sản
xuất kinh doanh của các doanh nghiệp như vậy, đồng thời với chủ trương
của Đảng và Nhà nước ta hiện nay, nhằm giúp đỡ các doanh nghiệp có quy
mô nhỏ mở rộng sản xuất, kích thích tính năng động sáng tạo của chúng,
các NHTM đặc biệt là các ngân hàng trên địa bàn Hà Nội đã có những biện
pháp mở rộng hoạt động tín dụng ngắn hạn nhằm giúp các doanh nghiệp
này.
Là một chi nhánh còn khá non trẻ nhưng NHNo&PTNT Láng Hạ đã
đạt được khá nhiều thành tích đáng ghi nhận. Tuy nhiên vấn đề đặt ra cho
Chi nhánh trước tình hình hiện nay là tỷ trọng cho vay ngắn hạn tại Chi
nhánh rất nhỏ và có xu hướng giảm. Trong khi đó, địa bàn Hà Nội là nơi
đông dân cư và tập trung nhiều doanh nghiệp quy mô nhỏ với nhu cầu vốn
ngắn hạn cao. Do đó, bức xúc hiện nay của Chi nhánh là làm thế nào để mở
rộng hoạt động tín dụng ngắn hạn, từng bước giúp các doanh nghiệp mở
rộng sản xuất, từ đó góp phần phát triển kinh tế, xã hội.
LuËn v¨n tèt nghiÖp
hoạt động một cách nhịp nhàng thông suốt. Ngân hàng thương mại đã hình
thành và tồn tại như một tất yếu khách quan đáp ứng nhu cầu của nền kinh
tế hàng hoá. Sản xuất lưu thông hàng hoá càng phát triển nhu cầu giao lưu
giữa các vùng càng tăng, tuy nhiên do sự khác biệt giữa các vùng về tiền tệ
cũng như sự khác biệt về địa lý làm nhu cầu đổi tiền cũng như gửi tiền và
thanh toán hộ của các thương gia xuất hiện. Và cũng chính nhờ hoạt động
nhận tiền gửi và thanh toán hộ mà những người giữ tiền đã nắm trong tay
một khối lượng tiền lớn từ đó họ dễ dàng thực hiện hoạt động cho vay do
tính vô danh của tiền tệ. Ngân hàng thương mại đã ra đời từ đó cùng với
những nghiệp vụ cơ bản của nó, đến nay trải qua bao thăng trầm của nền
kinh tế hoạt động của Ngân hàng thương mại đã mở rộng không chỉ quy
mô, chất lượng mà số lượng, loại hình các dịch vụ cũng ngày càng mở
rộng đáp ứng nhu cầu của khách hàng. Từ đó Ngân hàng thương mại đã trở
thành một bộ phận không thể thiếu của nền kinh tế, hoạt động của Ngân
hàng thương mại ảnh hưởng mạnh mẽ đến sự phát triển của nền kinh tế.
Trải qua thời gian tương đối dài với những biến động của nền kinh
tế, rất nhiều khái niệm về Ngân hàng thương mại đã được hình thành. Ta
thấy rằng Ngân hàng thương mại được xem xét ở rất nhiều khía cạnh khác
như:
ở Việt Nam theo sắc lệnh 018CT/LDGCQL/SL ngày 20/10/1969 của
chính quyền Sài Gòn cũ cho rằng: Ngân hàng thương mại là mọi xí nghiệp
LuËn v¨n tèt nghiÖp
4
công hay tư lập, kể cả những chi nhánh hay phân cục ngân hàng ngoại quốc
mà hoạt động thường xuyên là thi hành cho chính mình nghiệp vụ tín
dụng, chiết khấu, tài chính với tiền ký thác của tư nhân hay chi nhánh hay
chi nhánh công quyền.
Hay một cách tiếp cận Ngân hàng thương mại dựa trên những dịch
vụ mà ngân hàng mang lại như Ngân hàng thương mại là loại hình tổ chức
Nam… góp phần đa dạng hoá các loại hình ngân hàng tại Việt Nam. Từ đó
thúc đẩy sự tự do cạnh tranh một cách lành mạnh, giúp các ngân hàng từng
bước tự phát triển, đổi mới, mở rộng hoạt động kinh doanh.
1.2. Các nghiệp vụ cơ bản của ngân hàng thương mại.
Ngân hàng thương mại là một đơn vị kinh doanh tiền tệ do đó các
hoạt động nghiệp vụ của ngân hàng đều hướng tới mục tiêu tối đa hoá lợi
nhuận. Để đạt được mục tiêu này Ngân hàng thương mại trong quá trình
phát triển đã không ngừng đổi mới, không chỉ nâng cao chất lượng sản
phẩm dịch vụ sẵn có mà còn thường xuyên nghiên cứu nhằm cung cấp các
sản phẩm dịch vụ mới phục vụ nhu cầu của người dân. Tuy nhiên, một
Ngân hàng thương mại luôn luôn tiến hành 3 nghiệp vụ cơ bản :
Huy động vốn
Đối với hoạt động huy động vốn, đây là hoạt động “đầu vào” của
ngân hàng, ngân hàng phần lớn dựa vào việc huy động tiền vốn nhàn rỗi
tạm thời trong nền kinh tế.
Thông thường ngân hàng có các loại tiền gửi là tiền gửi không kỳ
hạn, tiền gửi có kỳ hạn và tiền gửi tiết kiệm.
Để thực hiện được hoạt động huy động vốn, ngân hàng cần có một
lượng vốn nhất định là vốn tự có. Lượng vốn này chiếm một tỷ lệ nhỏ trong
tổng vốn sử dụng song nó rất quan trọng đối với hoạt động ngân hàng. Đây
là cơ sở thu hút tiền gửi của khách hàng, là nguồn để trang trải rủi ro khi
gặp phải trong kinh doanh và là chỉ tiêu để Ngân hàng Trung ương quản lý
Ngân hàng thương mại.
LuËn v¨n tèt nghiÖp
6
Hoạt động sử dụng vốn
Hoạt động sử dụng vốn ở đây bao gồm: hoạt động cho vay, hoạt
động ngân quỹ, hoạt động đầu tư chứng khoán.
Hoạt động cho vay là hoạt động quan trọng nhất quyết định sự thành
hàng.
2. Tín dụng ngân hàng.
2.1. Khái niệm tín dụng ngân hàng.
Tín dụng ngân hàng là một phạm trù kinh tế tồn tại qua các hình thức
xã hội khác nhau. Tín dụng là nghiệp vụ chính cơ bản nhất của các NHTM
chính vì vậy những về tín dụng đã được các nhà kinh tế tìm hiểu từ rất lâu.
Tuỳ theo các cách tiếp cận khác nhau mà người ta đưa ra những khái niệm
khác nhau về tín dụng.
Theo cách hiểu thông thường, tín dụng là mối quan hệ giao dịch giữa
hai chủ thể dựa trên nguyên tắc tin tưởng nhau. Trong đó một bên chuyển
giao tiền hoặc tài sản cho bên kia sử dụng trong một thời gian nhất định,
đồng thời bên nhận tiền hay tài sản cam kết hoàn trả theo thời gian thoả
thuận. Hay nói một cách khác, tín dụng là sự chuyển nhượng tạm thời một
lượng giá trị dưới hình thức hiện vật hay tiền tệ từ người sở hữu sang người
sử dụng, sau đó hoàn trả tại một thời điểm nhất định trong tương lai với
một lượng giá trị lớn hơn.
Theo luật NHNN, tín dụng được định nghĩa như sau: “Cấu thành một
nghiệp vụ tín dụng là bất cứ động tác nào qua đó người đưa hay người hứa
đưa vốn cho người khác dùng, hoặc cam kết bằng chữ ký cho người này
như đảm bảo, bảo chứng hay bảo lãnh có thu tiền”.
2.2. Đặc điểm tín dụng ngân hàng.
Như vậy, dù cách này hay cách khác, quan điểm về tín dụng đều thể
hiện các nội dung sau:
LuËn v¨n tèt nghiÖp
8
- Người cho vay sẽ chuyển giao cho người đi vay một lượng giá trị
nhất định. Lượng giá trị này có thể dưới hình thái tiền tệ hay hiện vật như
hàng hoá, máy móc, thiết bị, bất động sản.
- Người đi vay chỉ được sử dụng tạm thời trong một khoảng thời gian
móc trang thiết bị này cần có thời hạn khấu hao không quá dài, hay dự án
kinh doanh cần có kế hoạch thu hồi vốn sớm, để có thể kịp thời trả vốn cho
ngân hàng.
Tín dụng dài hạn: Đây là các khoản tín dụng được cấp có thời hạn từ 6o
tháng trở lên và cũng thường được sử dụng với mục đích xây nhà xưởng,
đầu tư dây chuyền sản xuất lớn, những dự án có thời hạn thu hồi vốn dài.
Tuy nhiên thời gian cho vay không quá thời hạn hoạt động còn lại theo
quyết định thành lập hoặc giấy phép thành lập đơn vị, pháp nhân và không
quá 15 năm đỗi với các dự án đầu tư phục vụ đời sống.
Căn cứ theo hình thức bảo đảm:
Tín dụng không có bảo đảm bằng tài sản: trong trường hợp này ngân
hàng cấp tín dụng cho khách hàng mà không cần có tài sản thế chấp, cầm
cố hay bảo lãnh mà dựa vào uy tín của khách hàng. Những khách hàng
được cấp tín dụng loại này thường là những khách hàng quen, đã có uy tín
với ngân hàng về việc trả đúng và đầy đủ các khoản nợ của mình từ trước
tới nay.
Tín dụng có bảo đảm bằng tài sản: ngân hàng cấp tín dụng cho khách
hàng dựa trên cơ sở có tài sản thế chấp, cầm cố hay bảo lãnh. Tài sản dùng
để thế chấp cầm cố có thể là nhà xưởng, xe cộ, các khoản phải thu, các
trang thiết bị hay các tài sản hình thành từ vốn vay, vật có giá hay giấy tờ
có giá. Ngoài ra, để đảm bảo cho khoản vay có thể được thực hiện bằng sự
bảo lãnh của bên thứ ba được ngân hàng chấp nhận.
Căn cứ vào mục đích sử dụng:
LuËn v¨n tèt nghiÖp
10
Cho vay sản xuất kinh doanh: các khoản vay này thường được sử dụng
để tài trợ vốn lưu động của doanh nghiệp hay tài trợ cho việc xây dựng nhà
xưởng, mua sắm máy móc, thiết bị, mua nguyên vật liệu
Cho vay tiêu dùng: chủ yếu phục vụ cho nhu cầu mua sắm tiêu dùng
hàng chấp thuận cho khách hàng đựơc sử dụng số vốn vay trong phạm vi
hạn mức tín dụng để thanh toán tiền mua hàng hoá và rút tiền mặt tại máy
rút tiền tự động hay điểm ứng tiền mặt là đại lý của ngân hàng.
Cho vay theo hạn mức thấu chi: Là việc cho vay mà TCTD thoả thuận
bằng văn bản pháp luật chấp thuận cho khách hàng chi vượt số tiền có trên
tài khoản thanh toán của khách hàng.
Căn cứ vào phương thức trả nợ:
Trả nợ một lần: khách hàng và ngân hàng thoả thuận sẽ trả cả lãi và
gốc một lần duy nhất.
Trả nợ làm nhiều lần: ngân hàng tính toán chia khoản nợ ra thành nhiều
kỳ để khách hàng có thể dễ dàng trả nợ.
Ngoài ra ngân hàng còn sử dụng nhiều phương thức để phân loại khác
như dựa vào hình thái tiền tệ hay dựa vào đối tượng vay... từ đó để ngân
hàng có thể dễ dàng trong việc quản lý tránh nguy cơ xảy ra rủi ro tín dụng.
2.4. Vai trò của hoạt động tín dụng ngân hàng.
Điều hoà vốn, thúc đẩy sản xuất và lưu thông hàng hoá, đẩy nhanh
quá trình tái sản xuất mở rộng trong nền kinh tế. Ngân hàng là chiếc cầu
nối giữa những người có vốn tạm thời nhàn rỗi trong nền kinh tế với những
người cần vốn để mở rộng kinh doanh, tiêu dùng…. Trên cơ sở huy động
nguồn vốn trong dân cư hay đi vay các tổ chức kinh tế khác ngân hàng tiến
hành cho vay với các cá nhân, tổ chức kinh tế đang cần vốn để phục vụ sản
xuất kinh doanh.
Các doanh nghiệp không thể tiến hành sản xuất kinh doanh nếu thiếu
vốn. Nhờ nguồn vốn mà ngân hàng cho vay doanh nghiệp không những
LuËn v¨n tèt nghiÖp
12
đảm bảo quá trình sản xuất mà còn mở rộng sản xuất, cải tiến kỹ thuật, áp
dụng công nghệ hiện đại để hạ giá thành sản phẩm, tăng tính cạnh tranh của
sản phẩm trên thị trường. Từ đó các doanh nghiệp sẽ thúc đẩy sản xuất lưu
trước yêu cầu cần phải thay đổi cho phù hợp nhu cầu của thời đại. Để thực
hiện được điều này đòi hỏi các doanh nghiệp phải thường xuyên thay đổi
máy móc, kỹ thuật thay nâng cấp nhà xưởng, đổi mới sản phẩm…và ngân
hàng chính là nơi cung cấp vốn trung và dài hạn tốt nhất cho các doanh
nghiệp. Qua đó, ngân hàng sẽ mang đến cho doanh nghiệp cơ hội để đổi
mới kích thích tính năng động của doanh nghiệp. Không chỉ vậy, tín dụng
ngân hàng còn thường xuyên bổ xung vốn lưu động cho doanh nghiệp
trong quá trình hoạt động giúp doanh nghiệp nắm bắt được các cơ hội đầu
tư.
Tín dụng ngân hàng giúp tăng nhanh vòng quay của vốn, giảm lượng
tiền mặt trong lưu thông. Qua đó tín dụng ngân hàng giúp Nhà nước tăng
cường quản lý vĩ mô nền kinh tế. Thông qua tín dụng, ngân hàng huy động
được một lượng lớn tiền nhàn rỗi trong nền kinh tế, thực hiện cho vay, đầu
tư vào sản xuất kinh doanh mà không cần phát hành thêm tiền mặt. Qua đó,
ngân hàng còn thực hiện được nhiệm vụ điều hoà vốn giữa các vùng các
ngành, các thành phần kinh tế qua đó việc quản lý, lưu thông tiền tệ sẽ
được thực hiện tốt hơn. Hoạt động tín dụng càng mở rộng thì càng hạn chế
phương thức thanh tóan dùng tiền mặt do ngân hàng sử dụng phương thức
chuyển khoản, L/C ... từ đó giảm chi phí lưu thông tiền mặt trong nền kinh
tế.
Tín dụng ngân hàng là đòn bẩy kinh tế quan trọng thúc đẩy quá trình
mở rộng quan hệ giao lưu kinh tế quốc tế. Trong xu thế hội nhập quốc tế,
mối quan hệ giữa các nước trên thế giới và trong khu vực được mở rộng và
phát triển đa dạng cả về chiều rộng và chiều sâu. Đây là một trong những
nhân tố quan trọng tạo điều kiện đặc biệt cho các nước đang phát triển trên
thế giới trong đó có nước ta. Thực hiện chủ trương mở rộng hợp tác kinh
tế, tăng cường các quan hệ đối ngoại do đó đầu tư vốn tín dụng thúc đẩy
xuất khấu hàng hoá là mối quan tâm của các ngân hàng trong tình hình hiện
LuËn v¨n tèt nghiÖp
15
mang tính mùa vụ, sau đó khoản thiếu hụt này sẽ được bù đắp hoặc sẽ sớm
thu lại dưới hình thái tiền tệ vì vậy thời gian thu hồi vốn sẽ nhanh.
- Rủi ro do tín dụng ngắn hạn mang lại thông thường không cao. Do
khoản vay chỉ cung cấp trong thời gian ngắn vì vậy ít chịu ảnh hưởng của
sự biến động không thể lường trước của nền kinh tế như các khoản tín dụng
trung và dài hạn. Ngoài ra, các khoản vay được cung cấp cho các đơn vị
sản xuất kinh doanh theo hình thức chiết khấu các giấy tờ có giá, dựa trên
tài sản bảo đảm, bảo lãnh... đồng thời khoản vay thường đựơc tiến hành khi
có nhu cầu cấp thiết về vốn ngắn hạn và chắc chắn sẽ có khoản thu bù đắp
trong tương lai vì vậy rủi ro mang đến thường thấp.
- Lãi suất thấp: lãi suất cho vay được hiểu là khoản chi phí người đi
vay trả cho nhu cầu sử dụng tiền tạm thời của ngươì khác. Chính vì rủi ro
mang lại của khoản vay thường không cao do đó lãi suất người đi vay phải
trả thông thường nhỏ hơn lãi suất khoản vay tín dụng trung và dài hạn
tương ứng.
- Hình thức tín dụng phong phú: Để đáp ứng nhu cầu hết sức đa dạng
của khách hàng, để góp phần phân tán rủi ro, đồng thời để tăng cường sức
cạnh tranh trên thị trường tín dụng, các ngân hàng thương mại không
ngừng phát triển các hình thức cho vay trong nghiệp vụ tín dụng ngắn hạn
của mình. Điều đó đã làm cho các hình thức tín dụng ngắn hạn rất phong
phú như: nghiệp vụ ứng trước, nghiệp vụ thấu chi, nghiệp vụ chiết khấu...
- Là loại hình kinh doanh chủ yếu tại các ngân hàng thương mại. Xuất
phát từ đặc trưng của ngân hàng thương mại: là ngân hàng kinh doanh tiền
gửi, mà trong đó chủ yếu là tiền gửi ngắn hạn, nên để đảm bảo khả năng
thanh khoản của mình, các ngân hàng thương mại đã cho vay chủ yếu là
ngắn hạn.
LuËn v¨n tèt nghiÖp
17
- Còn thời hạn thanh toán theo quy định của Ngân hàng Nhà nước
- Phải hợp lệ về mặt hình thức và nội dung
- Đối với hối phiếu thì phải có chữ ký chấp nhận của người thụ tạo
- Khách hàng phải chuyển nhượng quyền sở hữu cho ngân hàng dưới
hình thức ký hậu.
Sau khi thẩm định, ngân hàng loại trừ những thương phiếu không đủ
điều kiện chiết khấu hay còn nghi ngờ khả năng thanh toán, rồi tính số tiền
ngân hàng trả cho khách hàng theo các thương phiếu nhận chiết khấu.
Đến thời hạn thanh toán thương phiếu, ngân hàng sẽ tiến hành thu nợ
ở người chịu trách nhiệm thanh toán thương phiếu. Nếu người này không
thanh toán, ngân hàng có thể chọn một trong hai cách xử lý sau:
- Ngân hàng có thể trích tài khoản tiền gửi thanh toán của người xin
chiết khấu để thu hồi, sau đó trả lại thương phiếu để họ tự đòi nợ.
- Ngân hàng tiến hành thủ tục để truy đòi số nợ: theo luật định, ngân
hàng có quyền chỉ định một trong số những người tham gia ký chuyển
nhượng thương phiếu để trả nợ cho ngân hàng. Trong trường hợp này, ngân
hàng thường chỉ định người nào có đủ khả năng tài chính nhất.
Ưu điểm và nhược điểm của nghiệp vụ chiết khấu:
Chiết khấu là một nghiệp vụ tín dụng có khá nhiều ưu điểm, đó là:
- Chiết khấu là nghiệp vụ ít rủi ro, khả năng thu hồi nợ của ngân hàng
là khá chắc chắn.
- Đây là hình thức tín dụng khá đơn giản, ít phiền phức với ngân
hàng.
- Chiết khấu không làm đóng băng vốn của ngân hàng vì thời hạn
chiết khấu ngắn và ngân hàng thương mại có thể khá dễ dàng xin tái chiết
khấu thương phiếu ở Ngân hàng Nhà nước.
LuËn v¨n tèt nghiÖp
18
khoản tiền vay đồng thời khách hàng phải ký một lệnh phiếu trao cho ngân
hàng giữ cam kết hoàn trả số tiền đã vay vào thời điểm nhất định.
- Trong trường hợp không có tài sản bảo đảm, hay tài sản bảo đảm
kém giá trị khách hàng có thể nhờ một người có tài sản bảo lãnh số nợ đó
bằng một tờ cam kết. Người bảo lãnh do khách hàng chọn nhưng phải được
sự chấp nhận của ngân hàng.
Nếu căn cứ vào các thức sử dụng tiền vay thì tín dụng ứng trước có hai
cách sử dụng tiền vay:
- Sau khi đã ký kết hợp đồng tín dụng, ngân hàng tiến hành cho vay
theo mức cho vay đã thoả thuận, ngân hàng chuyển toàn bộ số tiền cho vay
vào tài khoản tiền gửi thanh toán của doanh nghiệp để doanh nghiệp tuỳ ý
sử dụng theo nhu cầu. Đây là cách cho vay mà các ngân hàng thường áp
dụng.
- Khách hàng được sử dụng dần số tiền vay trên tài khoản vay (tài
khoản ứng trước). Việc sử dụng bằng cách phát hành séc để chi trả mang số
hiệu tài khoản ứng trước. Khi tờ séc do khách hàng phát hành quay trở về
ngân hàng thì ngân hàng trích tài khoản vay để chi trả.
Khách hàng có thể sử dụng tiền vay một hoặc nhiều lần. Nếu khách
hàng phát hành séc để chi trả (mang số hiệu tài khoản vay) vượt mức cho
vay đã thoả thuận thì ngân hàng áp dụng các biện pháp chế tài do phát hành
séc không có tiền bảo chứng.
Đây là một trong hai hình thức tín dụng ứng trước mà các ngân hàng
thương mại có thể áp dụng song không phổ biến.
Ưu, nhược điểm của loại tín dụng ứng trước
Ưu điểm:
- Đối với ngân hàng: vốn ngân hàng cho vay thường không phải rút
ngay một lúc vì nhu cầu vốn của khách hàng phát sinh dần dần và nếu
khách hàng dùng tiền ứng trước đó vào việc thanh toán cho khách hàng
LuËn v¨n tèt nghiÖp
21
hạn tối đa nào đó (hạn mức dư nợ), quá hạn mức này thì các tờ séc của
khách hàng bị coi như thiếu hay không có bảo chứng.
Như vậy, nếu tài khoản dư có thì số dư đó thể hiện tiền gửi của khách
hàng ở ngân hàng và thông thường ngân hàng phải trả cho khách hàng lãi
tiền gửi. Nếu tài khoản dư nợ thì số nợ đó thể hiện tiền ngân hàng cho vay
và khách hàng phải trả lãi tiền vay cho ngân hàng.
Điều kiện đi vay của khách hàng:
- Đơn vị có tình hình tài chính tốt.
- Nhu cầu chi tiêu đó thực sự là bức bách và không quá lớn như nhu
cầu trả lương cho cán bộ công nhân viên.
- Khách hàng cần chứng minh được là sẽ có nguồn thu để trả
Qua phần trình bày trên, ta thấy tín dụng thấu chi có các đặc điểm sau:
- Giữa ngân hàng và khách hàng thoả thuận một hạn mức tín dụng để
khách hàng được sử dụng số dư nợ trên tài khoản vãng lai trong một thời
hạn nhất định.
- Khách hàng sử dụng vốn bằng cách phát hành séc mang số hiệu tài
khoản vãng lai hoặc bằng các công cụ thanh toán khác.
- Doanh số cho vay có thể lớn hơn hạn mức nếu trong quá trình sử
dụng tiền trên tài khoản khách hàng có tiền nộp vào bên có.
- Hạn mức tín dụng mà ngân hàng và khách hàng đã thoả thuận với
nhau chưa phải là tiền ngân hàng cho vay mà chỉ khi nào khách hàng sử
dụng (có xuất hiện dư nợ của tài khoản vãng lai) mới được coi là ngân hàng
cho vay và được tính tiền lãi trên số dư nợ đó.
- Vượt chi tài khoản là kỹ thuật cho vay mà số dư nợ thường xuyên
biến động vì thế khó thực hiện được đảm bảo tín dụng bằng hình thức bảo
đảm đối vật.
Ưu nhược điểm của loại tín dụng vượt chi tài khoản
Đối với khách hàng loại tín dụng vượt chi là khoản tạo cho khách hàng
vốn tự có của doanh nghiệp không cao do đó doanh nghiệp rất dễ mắc phải
những khó khăn dưới đây dẫn đến nhu cầu vay các khoản ngắn hạn.
- Trong chu kỳ tiền mặt của doanh nghiệp, ban đầu tiền mặt được sử
dụng để mua nguyên liệu dự trữ, bán thành phẩm hoặc thành phẩm; hàng
hoá được sản xuất hoặc dự trữ để bán sau đó được bán ra (thường là bán
LuËn v¨n tèt nghiÖp
23
chịu) ; cuối cùng là thu tiền mặt về. Tuy nhiên, doanh nghiệp không thể
tránh khỏi có sự lệch pha giữa thời hạn thanh toán tiền hàng của khách
hàng và thời gian mua nguyên vật liệu để tiếp tục đầu tư mở rộng sản xuất.
Chính vì vậy, doanh nghiệp thường phải vay vốn ngân hàng để đáp ứng sự
thiếu hụt tiền mặt tạm thời này. Do đó khoản vay cũng thường đựơc đảm
bảo bằng khoản sẽ thu hay hàng tồn kho.
- Doanh nghiệp có khó khăn tạm thời về tài chính: doanh nghiệp cần
tiền để thanh toán nhưng lại không có chứng từ để phản ánh mối quan hệ
mua bán chịu đó trong khi đó số dư trên tài khoản của họ không đủ chi tiêu
khi đó doanh nghiệp rất cần các khoản vay ngắn hạn để giải quýêt những
khó khăn này. Trường hợp này xảy ra khi đến kỳ trả lương cho nhân viên,
phải trả nợ thiếu của khách hàng, thông thường các khoản này không quá
lớn và ngân hàng có thể xem xét cho khách hàng chi vượt.
- Doanh nghiệp có một lượng tài sản dự tính sẽ chuyển thành tiền
mặt trong tương lai gần, lượng tài sản này gây trở ngại làm ứ đọng vốn
kinh doanh của doanh nghiệp, trường hợp này doanh nghiệp muốn sử dụng
lượng tài sản này để xin vay giải quyết khó khăn về vốn do lượng tài sản
này gây ra.
- Vào mùa kinh doanh sản phẩm của mình doanh nghiệp cần mở rộng
quy mô, gia tăng hoạt động sản xuất kinh doanh nhưng thiếu vốn đầu tư mở
rộng. Khi nhu cầu về sản phẩm của doanh nghiệp trên thị trường được dự
đoán tăng cao nhưng doanh nghiệp hiện thời thiếu vốn để mở rộng…
tín dụng cung cấp trong thời gian ngắn vì vậy doanh nghiệp cần thực hiện
các biện pháp nhanh chóng thu hồi vốn để trả nợ ngân hàng qua đó thúc
đẩy gia tăng vòng quay vốn.
4. Mở rộng hoạt động tín dụng.
4.1. Các yếu tố ảnh hưởng đến hoạt động tín dụng.
Những năm 70 khi hầu hết các NHTM trên thế giới đều chịu sự quản
lý hết sức chặt chẽ của chính phủ thông qua việc ấn định lãi suất tiền gửi,
hạn chế mở chi nhánh, giới hạn mức cho vay tối đa, giới hạn phạm vi hoạt
động… Các ngân hàng không phải đối phó với những thay đổi đột xuất trên
LuËn v¨n tèt nghiÖp
25
thị trường, nên yên tâm hoạt động không cần quan tâm đến nhu cầu của
khách hàng. Chính phủ khống chế sao cho “chiếc bánh thị trường” luôn đủ
no cho các NHTM. Do đó các ngân hàng hoạt động theo nguyên tắc yên
tâm bán cái mình có. Tuy nhiên, sau thời kỳ trên, nhằm tạo sân chơi bình
đẳng cho các ngân hàng Chính phủ đã ban hành nhiều chính sách mới…tất
cả đã tạo nên không khí cạnh tranh sôi nổi, buộc các ngân hàng phải quan
tâm tới thị trường, khách hàng nếu muốn mở rộng tín dụng, muốn tồn tại.
Ngoài những yếu tố mang tính khách quan tác động đến quy mô và
cơ cấu khoản vay như vị trí địa lý của ngân hàng, tình hình kinh tế, chính
trị, xã hội của đất nước, quy mô, cơ cấu ngân hàng… thì những vấn đề bên
trong ngân hàng như chính sách khách hàng, dịch vụ ngân hàng cung cấp,
công tác thông tin tuyên truyền, mở rộng mạng lưới… là những nhân tố
đóng vai trò rất quan trọng trong việc mở rộng hoạt động tín dụng. Mục
tiêu cuối cùng của các chính sách đó chính là nhằm thoả mãn một cách tối
đa nhu cầu của khách hàng, qua đó thu hút khách hàng quan hệ tín dụng
với ngân hàng. Đó cũng chính là mục tiêu của hoạt động Marketing.
Chính vì vậy, để thực hiện tốt chính sách khách hàng, công tác mở
rộng mạng lưới, thông tin tuyên truyền thì ngân hàng cần nhất phải chú