LUẬN VĂN:
Vận dụng lý luận học thuyết về hình
thái kinh tế xã hội Mác- Lênin vào sự
nghiệp CNH-HĐH ở Việt Nam A/giới thiệu vấn đề.
Sau mười năm thực hiện công cuộc đổi mới kinh tế, với kế hoạch 5 năm tờ
1986 đến 1995 nền kinh tế nước ta đã đạt dược nhưỡng thành tựu to lớn, có ý
nghĩa rất quan trọng.
Đối với nước ta, từ một nền kinh tế tiểu nông,muốn thoát khỏi nghèo nàn
lạc hậu và nhanh chóng đạt đến trình độ của một nước phát triển thì tất yếu phải
đổi mới.Do đó Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ VI (tháng 12.1986)là một mốc lịch
sử quan trọng trên con đường đổi mới toàn diện và sâu sắc, trong đó có sự đổi mới
về các quan điểm kinh tế. Đến các hội nghị lần thứ hai (tháng 4.1987), lần thứ
ba(8.1987) và lần thứ sáu (4.1989). Ban chấp hành Trung ương lại cụ thể hoá một
bước nhửnh quan điểm mới về kinh tế của Đảng ta đó là vấn đề công nghiệp hoá-
cứu lịch sử xã hội,đưa ra quan điểm duy vật về lịch và đã hình thành nên học
thuyết về “Hình thái kinh tế xã hội” (HTKT-XH) là một phạm trù của chủ nghĩa
duy vật lịch sử.Dùng để chỉ xã hội ở từng giai đoạn lịch sủ nhất định, với một kiểu
quan hệ sản xuất đặc trưng cho xã hội đó, phù hợp với một trình độ nhất định của
LLSX và một nền kinh tế thị trường tương ứng được xây dựng trên kiểu quan hệ
sản xuất đó.
Lý luận về hình thái kinh tế xã hội nghiên cứu lịch sử xã hội trên cơ sở xem
xét của LLSX và QHSX (quan hệ sản xuất) , cơ sử hạ tầng và kiến trúc thượng
tầng (CSHT-KTTT), tức toàn bộ các yếu tố cấu thành bộ mặt của thời đại: chính
trị, kinh tế, văn hoá, xã hội, khoa học, kỹ thuật…Do đó nó cắt nghĩa xã hội được
sáng tỏ hơn, chỉ ra căn bản và quá trình phát triển của xã hội.Loài người đã trải
qua năm hình tháI kinh tế xã hội theo trật tự từ thấp đến cao,đó là: Hình tháI kinh
tế cộng sản nguyên thuỷ, chiếm hữu nô lệ,phong kiến, tư bản chủ nghĩa và ngày
nay đang tiến lên HTKT-XH cộng sản chủ nghĩa.
1.Kết cấu của hình thái kinh tế- xă hội.
Xã hội không phải là một tổng số những hiện tượng,sự rời rạc,những cá
nhân riêng lẻ,xã hội là một chỉnh thể hữu cơ có cơ cấu phức tạp,trong đó những mặt cơ bản nhất là LLSX,QHSX và kinh tế thị trường.Mỗi mặt đó có vai trò nhất
định và tác động đén các mặt khác,tạo nên sự vận động của toàn xã hội.
LLSX là nền tảng vật chất-kỹ thuậtcủa mỗi hình thái kinh tế xã hội. LLSX
là mối quan hệ giữa con người với tự nhiên,là biến trình độ chinh phục tự nhiên
của con người trong giai đoạn lịch sử nhất định.LLSX đóng vai trò quyết định
phương thức sản xuất (PTSX).LLSX phát triển qua các hình thái KT-XH nối tiếp
nhau từ thấp đến cao thể hiện tính liên tục trong sự phát triển xã hội của loài
người.
QHSX là mối quan hệ giữa người với người trong quá trình sản xuất vật
chất thể hiện ở quan hệ sở hữu đối với tư liệu sản xuất (TLSX).Trong QHSX quan
hệ sở hữu về TLSX giữ vị trí quyết định các quan hệ khác
cấu kinh tế của một chế độ xã hội nhất định ngưới ta gọi là CSHT.
CSHT bao gồm những quan hệ sản xuất đang giữ địa vị thống trị nền kinh
tế, nhóm những QHSX vị thống trị nền kinh tế nhóm những QHSX tàn dư và
những QHSX mới là quan hệ mầm mống của xã hội sau.
a)Triết học Mác quan niệm rằng CSHT quyết định KTTT nghĩa là cơ sở kinh tế xã
hội nào thì sẽ có hình thái tư tưởng chính trị, đạo dức phù hợp. Vai trò quyết định
của CSHT với KTTT được thể hiện ở một số mặt:
Khi CSHT phát triển đến một mức độ giới hạn nào đó gọi là điểm nút, thĩ nó đòi
hỏi phải kéo theo sự thay đổi về KTTT. Quá trình này không chỉ đơn thuần là sự
biến đổi một hay nhiều bộ phận mà là sự chuyển đổi cả một hình thái kinh tế chính
trị và hình thái kinh tế chính trị ưu thế sẽ chiếm giữ giai đoạn lịch sử này: trong
giai đoạn hình thái kinh tế chính trị đó chiếm giữ thì CSHT và KTTT có sự dung
hoà với nhau hay đạt được giới hạn độ.Tại đây CSHT và KTTT tác động biện
chứng với nhau theo cách thức bắt đầu sự thay đổi tuần tự về CSHT nhưng tại đây
KTTT chưa có sự thay đổi.
b)KTTT tác động trở lại CSHT.
KTTT bị chi phối nhưng độc lập tương đối thể hiện ở chỗ chúng có thể thúc đẩy
CSHT phát triển.Vai trò của KTTT đối với CSHT được thể hiện trên các mặt sau .
Chức năng xã hội của KTTT là bảo vệ, duy trì, củng cố và phát triển CSHT sinh
ra nó ,đấu tranh xoá bỏ CSHT và KTTT cũ. KTTT chính là công cụ của giai cấp
thống trị, các bộ phận khác của KTTT cũng có tác dụng mạnh mẽ đối vối CSHT
nhưng thường những tác dụng ấy phải thông qua hệ thống chính trị, pháp luật hay
thể chế tương ứng khác. Trong điều kiện ngày nay vai trò của KTTT không giảm đi mà ngược lại tăng
lên và tác động mạnh mẽ đến tiến trình lịch sử.
Trái lại KTTT xã hội chủ nghĩa bảo vệ CSHT xã hội chủ nghĩa nhằm xây dựng
xã hội mới, chính mục địch đó quyết định tính tích cực càng tăng của KTTT xã hội
chủ nghĩa.
bằng những sản phẩm trong nước xây dựng có hiệu quả để đẩy mạnh sự tăng
trưởng kinh tế và hiện đại hoá đất nước.
b).CNH-HĐH là sự nghiệp của toàn dân, của mọi thành phần kinh tế, trong đó
kinh tế nhà nước là chủ đạo.
Quan điểm này xuất phát từ nghuyên lý: “Cách mạng là sự nghiệp của quần
chúng” CNH-HĐH là sự nghiệp Cách mạng trọng đại của nhân dân ta, đất nước ta
nhằm mục đích “ dân giầu, nước mạnh, xã họi công bằng, văn minh”. Vì vậy nó
không phải là công việc riêng của một bộ phận, một giai cấp mà là sự nghiệp của
toàn dân, do dân thực hiện. Cũng như các sự nghiệp cách mạng khác nhân dân là
người quyết định sự thành công của quá trình CNH-HĐH Đất nước.
CNH-HĐH Đất nước thực hiện trong điều kiện nền kinh tế hàng hoá nhièu
thành phần. Trong đó kinh tế Nhà nước giữ vai trò chủ đạo, kinh tế nhà nước “làm
đòn bẩy đẩy nhanh tăng trưởng kinh tế và tạo nền tảng cho chế độ xã hội mới”
c).CNH-HĐH là nền kinh tế lấy nguồn lực con người làm yếu tố cơ bản cho sự
nghiệp phát triển nhanh và bèn vững.
Xã hội luôn luôn vận động và phát triển không ngừng,do đó ở nước ta khi
tiến hành CNH-HĐH cũng phải đặt trong quy luật vận động đó, muốn tạp ra
những chuyển biến tích cực của nền kinh tế nước ta đòi hỏi các nội dung của CNH
cũng như phải thường xuyên thay đổi và bổ xung…
Trong quá trình tiến hành cần phải đưa con người lên vị trí trung tâm. Con
người vừa là mục đích vừa là động lực của sự phát triển kinh tế-xã hội nhanh và
bền vững. Nguồn nhân lực là yếu tố quyết định để tạo ra công nghệ hiện đại và sử
dụng chúng để tạo ra của cải cho xã hội ,là yếu tố quyết định để thực hiện chuyển
giao công nghệ trong quá trình CNH -HĐH đất nước. d).Khoa học và cônh nghệ là động lực của CNH -HĐH kết hợp công nghệ truyền
thống với công nghệ hiện đại, tranh thủ đi nhanh vào hiện đại ở những khâu quyết
định.
Quá trình CNH-HĐH phải coi khoa học công nghệ là động lực,coi năng lực
lý, xây dựng quan hệ sản xuất phù hợp với trình độ phát triển của LLSX, đồng thời
phải bảo vệ môi trường sinh thái, giữ gìn bản sắc dân tộc.
Những quan điểm đó là một thể thống nhất và quan hệ chặt chẽ với nhau biểu
hiện rõ trong việc xác định mục tiêu, nhiệm vụ CNH-HĐH đát nước,ở việc xác
định rõ động lực, nguồn lực của tiến trình CNH -HĐH, ở vệc xác định phương
hướng, biện pháp cơ bản của CNH-HĐH ơ nước ta,và biểu hiện ở tiêu chuẩn để
xác định các phương án, đánh giá kết quả. để làm sáng tỏ các vấn đề đó chắc chắn
phải vừa vận dụng sáng tạo và phát triển học thuyết Mác Lênin và tư tưởng Hồ
Chí Minh vừa đổi mới trong thực tiễn, tiễn hành tổng kết tổng kết trong thực tiễn,
khắc phục các khuynh hướng sai lầm như giáo điều, xét lại,chủ quan duy ý trí…
Đó cũng tức là phải vận dụng sáng tạo quán triệt hơn nữa phép biện chứng
Mácxit trong quá trình đổi mới.
2.Thực chất của công nghiệp hoá-hiện đại hoá ở nước ta.
Thực chất của công nghiệp hoá-hiện đại hoá ở nước ta hiện nay như Đại
hội Đảng toàn quốc lần VIII đã khẳng định là: “Xây dụng nước ta thành một nước
công nghiệp có cơ sở vật chất kỹ thuật hiện đại, cơ cấu kinh tế hợp lý, QHSX tiến
bộ, phù hợp với trính độ phát triển của LLSX,đời sống vật chất và tinh thần cao,
quốc phòng an ninh vững chắc dân giầu, nước mạnh, xã hội, công bằng, văn minh,
và nước ta đã chuyển sang một thời kỳ phát triển mới, thời kỳ đẩy mạnh CNH-
HĐH đây là nhận định rất quan trọng đối với những bước đi tiếp theo trong sự
nghiệp đổi mới.
Thuộc phạm trù LLSX và vận động bên ngoài biện chứng nội tại của
phương thức sản xuất vấn đề CNH ngày nay gắn chặt với HĐH trước hết phải
được xem xét từ tư duy triết học Mácxit chứ không phải từ tư duy kinh tế hay tư
duy nào khác. Công nghiệp hoá là quá trình nhằm đưa nước ta từ một nước công nghiệp lạc hậu thành một nước cônh nghiệp hiện đại. Hiện đại hoá là mục tiêu cơ
bản của văn minh hiện đại, thể hiện xu hướng lịch sử, tiến bộ, phát triển.
Đó là nhiệm vụ quan trọng có tầm cỡ to lớn, đòi hỏi phải đi tư cái cụ thể
đấu tranh chính trị. Điều nay được Enghen khẳng định: “Bất cứ cuộc đấu tranh
giai cấp nào cũng là đấu tranh chính trị, xét đến cùng xoay quanh vấn đề giải
phóng kinh tế.” Vai trò của chính trị. VI.Lê Nin nói “ Chính trị không thể không
chiếm vai trò hàng đầu so với kinh tế”.
Mối quan hệ thống nhất biện chứng giữa kinh tế và chính trị dựa trên nền
tảng là phương pháp luận quan trọng trong việc nhận thức xã hội nói chung và giải
quyết các vấn đề của việc CNH-HĐH đất nước. Vì vậy sự ổn định về chính trị cho
phép mở rộng các quan hệ đối ngoại, tranh thủ sự giúp đỡ Quốc tế, thu hút được
vốn và công nghệ nước ngoài.
Trước hết, công nghiệp hoá đòi hỏi phải có nguồn vốn to lớn, nó được xem
là một trong những điều kiện cơ bản nhất. Vì vậy, vấn đề tạo ra nguồn vốn và
phân bổ sử dụng vốn hợp lý, có hiệu quả là điều kiện hàng đầu. Vốn có thể huy
động từ trong và ngoài nước.
Thứ hai, công nghiệp hoá chỉ có thể tiến hành được trên một cơ sở hạ tầng
phát triển đến một trình độ nhất định. Việc xây dựng cơ sở hạ tầng không dễ dàng
đối với các nước đang phát triển bởi vì nó đòi hỏi chi phí rất lớn.
Thứ ba, công nghiệp hoá đòi hỏi phải có hệ thống các chính sách kinh tế
phù hợp: chính sách cơ cấu kinh tế, chính sách tài chính tiền tệ, chính sách đầu tư
…và phải có chiến lược kinh tế xã hội đúng đắn. Mục tiêu mà Đại hội Đảng lần
VIII đã đề ra chính là sự cụ thể hoá hợp thống nhất về hình thức kinh tế-xã hội vào
hoàn cảnh cụ thể của xã hội chủ nghĩa. Ta phải luôn nhận thức vận động đúng đắn
sáng tạo hai mối quan hệ cơ bản là quan hệ bản chất LLSX và QHSX quan hệ giữa
CSHT và KTTT.
2. Những phương hướng chủ yếu để phát triển CNH- HĐH.
Ưu tiên phát triển chế biến lương thực,thực phẩm. Sự phát triển của ngành
này trực tiếp đáp ứng nhu cầu nông nghiệp, nâng cao hiệu quả của sản xuất nông nghiệp. Mặt khác sự phát triển của sự phát triển của ngành công nghiệp này phù
hợp với khả năng của chúng ta vrrf vốn liếng, trình độ khoa học, công nghệ .
C/. Kết thúc vấn đề.
Để thực hiện mục tiêu của đảng đã đề ra làm cho dân giầu nước mạnh xã
hội công bằng văn minh, đất nước chuyển mình lên chủ nghĩa xã hội thì đi đôi với
việc củng cố, hoàn thiện quan hệ sản xuất chúng ta nhất thiết phải phát triển lực
lượng sản xuất, vì không có lực lượng sản xuất hùng hậu với năng xuất cao thì
không thể nói đến công nghiệp xã hội. Mà muốn có lực lượng sản xuất hùng hậu
và năng xuất lao động cao thì không chỉ dựa vào nông nghiệp, sử dụng lao động
thủ công mà phải phát triển mạnh công nghiệp đi lên đối với việc đổi mới công
nghệ ngày càng hiện đại tạo nền tảng cho sự tăng trưởng nhanh hiệu quả và sự
phát triển bền vững toàn bộ nền kinh tế quốc dân. Nói cách khác là phải tiến hành
CNH-HĐH đất nước,xây dựng quan hệ phù hợp giữa công nghiệp và các ngành
kinh tế khác, tạo điều kiện cho các ngành và toàn bộ nền kinh tế tăng trưởng và
phát triển.
Mục tiêu mà công nghiệp hoá nhằm tới không chỉ là những tiến bộ kinh tế
mà cả những tiến bộ xã hội . Trong hoàn cảnh lịch sử cụ thể của mỗi quốc gia và
sự thay đổi của điều kiện quốc tế, công nghiệp hoá còn cần được bổ sung những
quan điểm mới về nội dung và những giải pháp cùng phương hướng nhằm thực
hiện thắng lợi quá trình đó. ở Viêt nam, công nghiệp hoá với tư cách là: “ Nhiệm
vụ trung tâm trong suốt thời kỳ quá độ lên CNXH”. Nhằm những mục tiêu là: “
Xây dựng nước ta thành một nước công nghiệp có cơ sở vật chất kỹ thuật hiện
đại,cơ cấu kinh tế hợp lý, quan hệ sản xuất tiến bộ, phù hợp với trình độ phát triển
của lực lượng sản xuất, đời sống vật chất tinh thần cao, quốc phòng-an ninh vững
chắc, xã hội công bằng, văn minh”. Đảng ta đã sáng suốt đề ra và bước đầu thực
hiện tốt sự nghiệp CNH-HĐH vận dụng sáng tạo, bám sát lý luận Hình thái kinh
tế-Xã hội Mác-Lênin. Em tin chắc rằng với nhận thức đúng đắn, sáng tạo của mình
Tài liệu tham khảo.
1.Giáo trình triết học trường Đại học quản lý –Kinh doanh Hà nội.
2.Tạp chí triết học
3.Văn kiện Đại hội toàn quốc lần thứ V,VI,VII,VIII, Nhà chính trị xuất bản
quốc gia
4.Kinh tế và chính trị trong thời đại chuyên chính vô sản (Lê Nin Toàn tập,
trang 36 Nhà xuất bản tiến bộ Matxcơva).
5.Suy nghĩ về công gnhiệp hoá-hiện đại hoá ở nước ta, Nhà xuất bản chính trị
quốc gia, Hà nội 1996.