LUẬN VĂN: Khoa học là lực lượng sản xuất trực tiếp và xem xét vấn đề trên trong công cuộc đổi mới nền kinh tế Việt Nam pot - Pdf 11



LUẬN VĂN:
Khoa học là lực lượng sản xuất trực
tiếp và xem xét vấn đề trên trong công
cuộc đổi mới nền kinh tế Việt Nam Mở đầu
Đất nước ta đang trong quá trình xây dựng và phát triển theo con đường công
nghiệp hoá hiện đại hoá ,đi vào chiều sâu . Xuất phát từ thực tiễn ấy , việc nghiên
cứu và thống nhất ý kiến để đi đến nhận định về mối quan hệ giữa khoa học và lực
lượng sản xuất trực tiếp có một ý nghĩa lý luận và thực tiễn rất quan trọng .
Khi nghiên cứu đề tài“Khoa học là lực lượng sản xuất trực tiếp và xem xét vấn
đề trên trong công cuộc đổi mới nền kinh tế Việt Nam” vấn đề đặt ra sự tác
động ,ảnh hưởng của khoa học đối với lực lượng sản xuất trong thời gian qua như

chất của các sự vật, hiện tượng, quá trình, từ đó chỉ ra những quy luật khách
quan của sự vận động và phát triển của tự nhiên, xã hội và tư duy. - Hệ thống tri thức khoa học được hình thành trong quá trình nhận thức của con
người từ trực quan sinh động, đến tư duy trừu tượng, từ tư duy trừu tượng đến
thực tiễn, dưới dạng khái niệm, phạm trù, quy luật, lý thuyết Như vậy, tri thức
khoa học không chỉ là sự phản ánh thế giới hiện thực mà còn được kiểm
nghiệm qua thực tiễn.
- Hệ thống tri thức khoa học còn có thể được hình thành nhờ trực giác hoặc tuân
theo những quy luật của lôgíc học. Do đó, một hệ thống tri thức được coi là tri
thức khoa học phải đảm bảo tính đúng đắn, tính chân thực.
- Nhờ giáo dục, đào tạo, hệ thống tri thức khoa học có sức sống mãnh liệt, được
phổ biến rộng rãi và lan truyền rất nhanh chóng. Tốc độ tăng truyền đó tăng lên
rất nhiều lần nhờ vào quá trình toàn cầu hóa và công nghệ thông tin. Nó không
chỉ là sức mạnh, là sự biến đổi mau lẹ, mà còn là biểu hiện sự giàu có, thịnh
vượng của mọi quốc gia, dân tộc và cá nhân.
- Hệ thống tri thức khoa học là sản phẩm của quá trình phát triển lâu dài, liên tục
của tư duy nhân loại từ thế hệ này sang thế hệ khác. Ngày nay nó đang trở
thành tài sản chung của xã hội loài người.
Như vậy qua một số đặc trưng cơ bản trên đây về quan niệm khoa học, ta thấy
nổi lên cái cốt lõi của khoa học - đó là hệ thống tri thức chân thực về tự nhiên, xã
hội và tư duy.

1.2.2.Sự phát triển của cuộc cách mạng khoa học - kỹ thuật
Từ khi loài người xuất hiện cho đến cuối thế kỷ XV, sự phát triển của khoa
học và kỹ thuật diễn ra rất chậm chạp và tương đối độc lập với nhau. Sự phát triển
của kỹ thuật chủ yếu được thực hiện trên cơ sở hoàn thiện những kinh nghiệm,
những bí quyết nghề nghiệp được lưa truyền. Về phía mình, khoa học lại thường
được phát triển không phụ thuộc vào những nhu cầu của sản xuất, mà phục tùng

than điện, dầu lửa, rồi năng lượng nguyên tử và trong thế kỷ XXI sẽ là năng lượng
nhiệt hạch
Trong lĩnh vực sản xuất - từ hợp tác lao động giản đơn qua giai đoạn công
trường thủ công, rồi tiến lên phương thức sản xuất đại cơ khí với các quy trình sản xuất và công nghệ được cơ giới hóa rồi cơ giới hoá tổng hợp, xuất hiện các hệ
thống máy móc, tạo ra các máy tự cộng, tự động hoá đồng bộ, hệ thống sản xuất
linh hoạt
Trong giao thông vận tải - máy và động cơ hơi nước được thay thế bằng
các động cơ đốt trong và động cơ điêzen, tuabin và động cơ phản lực, tàu vũ trụ,
tàu con thoi
Trong sản xuất vật liệu - chuyển từ các nguyên liệu nông nghiệp, các vật
liệu xây dựng truyền thống (gỗ, gach, đá ) sử dụng kim loại đen (sắt, gang ) là
chủ yếu sang sử dụng các kim loại màu, chất dẻo, bê tông, các vật liệu kết
cấu(composite), vật liệu thông minh, vật liệu siêu dẫn
Trong công nghiệp sản xuất, chế tạo - từ sản xuất thủ công, tiến lên nửa tự
động rồi tới công nghệ tự động hoá (tự động hoá thiết kế - chế tạo nhờ sự trợ giúp
của máy tính điện tử (CAD/CAM), công nghệ thông tin (tin học, truyền thông cà
viễn thông vũ trụ ), công nghệ không gian, công nghệ sinh học, công nghệ vật
liệu mới, công nghệ vi điện tử

1.3. Khoa học - lực lượng sản xuất trực tiếp
1.3.1. Sự tác động của khoa học tới lực lượng sản xuất.
Bằng quá trình phát triển của nhận thức khoa học, con người đã vẽ nên bức
tranh về thế giới hiện thực. Chính sự đa dạng, muôn màu muôn vẻ, luôn vận động,
biến đổi không ngừng của thế giới tự nhiên và thực tiễn xã hội đã tạo nên nguồn
cảm hứng nhận thức vô tận của con người và điều đó đã tác động mạnh mẽ đến sự
phát triển của khoa học. Song, con người đi nhận thức thế giới không chỉ để nhận
thức thuần túy, mà chủ yếu là để thỏa mãn các nhu cầu về vật chất và tinh thần

xuất. Quá trình này diễn ra chậm chạp. Trong điều kiện như vậy, khoa học chỉ có
thể biểu hiện như một lực lượng sản xuất tiềm năng mà thôi chứ chưa thể trở thành
lực lượng sản xuất trực tiếp. Ngược lại, khi sản xuất xã hội đã đạt đến trình độ
phát triên cao, chính sản xuất lại đặt ra những vấn đề mới, phức tạp đòi hỏi khoa
học phải có phương thức giải quyết phù hợp , để thúc đẩy sản xuất phát triển và
qua đó, khoa học cũng phát triển theo. Như vậy, trong điều kiện này, sản xuất đã tạo ra những cơ sở quan trọng, những nhu cầu cấp thiết cho sự xuất hiện của
những tri thức khoa học mới. Khoa học không phục vụ sản xuất một cách thụ động
theo kiểu khoa học cũng được mà không khoa học cũng chẳng sao; khoa học đã
tham gia một cách tích cực, chủ động và trở thành một yếu tố không thể thiếu của
quá trình sản xuất xã hội. Và, chỉ đến lúc này, khoa học mới có điều kiện để trở
thành lực lượng sản xuất trực tiếp.
Điều kiện về trình độ phát triển của khoa học : Trong nền sản xuất cũ
trình độ khoa học rất thấp ,và nó không ảnh hưởng lớn đến sản xuất . Trong nền
sản xuất ngày nay , có một vấn đề nào của ngành sản xuất đặt ra mà tri thức của
ngành khoa học; thậm chí là của vài ngành khoa học cụ thể không thể giải quyết
được hoàn toàn. Tổng hợp khoa học, tổng hợp tri thức là xu hướng phát triển của
khoa học ngày nay và điều kiện này hoàn toàn phù hợp với nhu cầu của thực tiễn
hiện đại. Ngày nay, trong khoa học đang diễn ra một quá trình tương tác mạnh mẽ
giữa các khoa học, quá trình liên kết khoa học theo hướng tổng hợp tri thức của
khoa học hiện đại và đó là điều kiện quan trọng và tối cần thiết để biến khoa học
trở thành lực lượng sản xuất trực tiếp.
Điều kiện về sự thống nhất giữa lý luận và thực tiễn, mà nếu biểu hiện về
mặt sản xuất thì đó chính là sự thống nhất giữa hoạt động sản xuất vật chất và
hoạt động khoa học. Thực tiễn, trước đây là thực tiễn xã hội, là nguồn gốc, là động
lực của nhận thức khoa học, đồng thời cũng là tiêu chuẩn của chân lý. Do vậy,
việc khoa học trở thành lực lượng sản xuất trực tiếp sẽ là con đường ngắn nhất và
đáng tin cậy nhất để xác định độ chính xác,đúng đắn, tính chân lý của tri thức

cho một đơn vị sản phẩm. Thực tế sản xuất ở các nước công nghiệp phát triển đã
cho thấy rằng, tri thức khoa học ngày càng chiếm một hàm lượng cao trong giá trị
sản phẩm, nguồn lợi do khoa học mang lại cũng ngày càng lớn hơn. Cụ thể là, vào
những năm đầu của thế kỷ XX, khi chỉ có một bộ phận nhỏ của thế giới bước vào
công nghiệp hóa, khi mà sự phát triển của khoa học chưa được gắn chặt với kỹ
thuật và sản xuất, thì lao động chân tay, tính trung bình, chiếm một tỷ lệ rất cao,
tới 9/10 trong giá trị sản phẩm. Còn đến những năm 90, khi hầu hết các nước trên thế giới đã bước vào công nghiệp hóa, hiện đại hóa, và ở nhiều nước đang diễn ra
cuộc cách mạng khoa học - kỹ thuật và cuộc cách mạng khoa học - công nghệ, thì
tỷ lệ đó đã giảm xuống còn 1/5, trong khi đó, số lượng sản phẩm tăng 10 lần. Với
đà phát triển như hiện nay của khoa học và công nghệ, tỷ lệ đó còn giảm mạnh,
theo số dự đoán đến năm 2010(thế kỷ XXI) có thể chỉ còn 1/10. Trong thời đại
thống trị của công nghệ thông tin, trí năng hóa sản xuất đang là xu hướng tất yếu
và cũng là động lực mạnh mẽ của sự phát triển xã hội. Nguồn lợi do công nghệ
thông tin mang lại càng ngày tăng. Trong những năm 90, ở Nhật Bản, nguồn lợi
do tin học mang lại chiếm tới 40% tổng sản phẩm kinh tế quốc dân. Chính “sự
phát triển của công cụ lao động là chỉ số cho thấy những tri thức xã hội nói chung
– tức khoa học - đã biến thành lực lượng sản xuất trực tiếp như thế nào?”(C.Mác.
Trích “Bách Khoa Triết học - Mátxcơva”).
Hai là,khoa học cùng với quá trình giáo dục và đào tạo đã tạo ra những
người lao động mới: những con người lao động trí tuệ sáng tạo, vừa có tri thức
chuyên sâu một ngành nghề, vừa có hiểu biết rộng, tầm nhìn xa, bao quát, nhạy
bén, vững vàng trong nghề nghiệp. Tự bản thân khoa học không thể tạo ra bất kỳ
một tác động nào mà phải thông qua sử dụng và hành động thực tiễn của con
người nó mới phát huy tác dụng. Người lao động chính là lực lượng sản xuất mạnh
mẽ nhất, to lớn nhất, là nguồn lực của mọi nguồn lực, là động lực của mọi động
lực phát triển xã hội.
Ba là,khoa học còn trực tiếp tham gia vào quá trình tổ chức, quản lý, điều


2.1 Khoa học và công nghệ - lực lượng sản xuất trực tiếp trong quá trình công
nghiệp hóa - hiện đại hóa đất nước.

2.1.1Vai trò của khoa học và công nghệ đối với nền kinh tế Việt Nam
Việt Nam quá độ lên chủ nghĩa xã hội từ một nước nông nghiệp lạc
hậu, cơ sở vật chất – kỹ thuật thấp kém. Vì vậy, trong cuộc đổi mới nền kinh tế đất
nước, công nghiệp hoá hiện đại hoá là nhiệm vụ trung tâm xuyên suốt thời kỳ đi lên chủ nghĩa xã hội. Ngay từ khi bắt đầu quá trình đổi mới, Đảng và nhà nước ta
đã quan tâm hoàn thiện và đổi mới quan điểm, các chủ trương, chính sách trong
lĩnh vực khoa học và công nghệ. Nghị quyết 26 của Bộ Chính trị (khóa VI) đã nêu
rõ: "Đại hội lần thứ VI của Đảng đề ra đường lối đổi mới, coi khoa học và công
nghệ là một động lực mạnh mẽ của sự phát triển kinh tế- xã hội theo định hướng
xã hội chủ nghĩa, coi những người làm khoa học là đội ngũ đáng tin cậy, quý báu
của Đảng, Nhà nước và nhân dân ta ". Nếu khoa học và công nghệ ở các giai đoạn
phát triển trước đây là yếu tố gián tiếp của lực lượng sản xuất, đứng ngoài qua
trình sản xuất trực tiếp, theo cái nghĩa là từ khoa học và công nghệ đến sản xuất
phải trải qua một thời gian biến đổi, thì ngày nay, nhìn chung, chúng đã và đang
trở thành lực lượng sản xuất trực tiếp giữ vai trò động lực cho sự phát triển của
công cuộc đổi mới nền kinh tế Việt Nam.Vai trò động lực của khoa học và công
nghệ được thể hiện ở những mặt cụ thể sau:
Thứ nhất :khoa học và công nghệ đóng vai trò quyết định trong quá trình
trang bị và trang bị lại công nghệ hiện đại, tiên tiến cho nền sản xuất xã hội nói
riêng và cả các ngành kinh tế quốc dân nói chung.Trên thực tế, nước ta đã tiến
hành công nghiệp hoá xã hội chủ nghĩa từ đầu những năm 60 của thế kỷ XX.
Nhưng vẫn tiếp tục để cho lực lượng sản xuất trong tình trạng lạc hậu, các trang
thiết bị máy móc phần lớn là thủ công, thủ công bán cơ giới. Do vậy, mà cả năng
suất lao động và chất lượng các sản phẩm do nền sản xuất xã hội tạo ra vẫn còn rất

cơ chế tổ chức, quản lý sản xuất nhằm thúc đẩy sự nghiệp công nghiệp hoá .Trong
sản xuất nói riêng, trong mọi hoạt động xã hội nói chung nếu không có một cơ chế
tổ chức quản lý điều hành quản lý thì chắc chắn không thể mang lại kết quả tích
cực. Điều đó cũng giống như một dàn nhạc lớn, chỉ có các nhạc công mà không có
nhạc trưởng thì troóng đánh xuôi, kèn thổi ngược, không thể hoà tấu bất kỳ bản
nhạc nào.

2.1.2 Sự phát triển khoa học và công nghệ trong công cuộc đổi mới nền kinh tế
Việt Nam giai đoạn hiện nay . Trên cơ sở lý luận vai trò cơ sở và động lực của khoa học đối với quá trình
công nghiệp hoá, hiện đại hoá trong sự phát triển kinh tế xã hội Việt Nam nói
chung là rất rõ ràng. Tuy nhiên, đấy mới chỉ là về mặt nhận thức lý luận. Còn
trong thực tế thì sao? Qua việc tìm hiểu thực trạng khoa học và công nghệ trong
điều kiện nước ta hiện nay và những mâu thuẫn giữa nhu cầu rất cao về khoa học
và công nghệ cho công nghiệp hoá, hiện đại hoá với thực trạng đó sẽ phần nào trả
lời được câu hỏi này.
Nếu xem xét thực trạng của khoa học công nghệ, thì ngoài khoa học với
toàn bộ những tri thức đã có của con người về tự nhiên, xã hội và tư duy, còn phải
đề cập đến 4 yếu tố cấu thành của công nghệ: trong thiết bị máy móc (kỹ thuật), cơ
sở vật chất hạ tầng của sản xuất; nguồn lực con người; thông tin và tổ chức quản
lý. Khoa học cùng với 4 yếu tố của công nghệ tạo thành một tổ hợp khoa học và
công nghệ làm nền tảng và động lực cho cuộc cách mạng khoa học và công nghệ
hiện đại.
Yếu tố thứ nhất của công nghệ : trang thiết bị máy móc kỹ thuật. Theo
đánh giá của Bộ Khoa học Công nghệ và Môi trường trong những năm gần đây
thì, trình độ công nghệ ở nước ta nhìn chung còn thấp và lạc hậu so với khu vực và
thế giới. So với các nươc công nghiệp tiên tiến nhất, công nghệ của Việt Nam lạc
hậu khoảng 50 đến 100 năm. Xét về trang thiết bị kỹ thuật của nước ta so với mức

vực nông – lâm – ngư nghiệp chiếm tới hơn 70% số lao động cả nước nhưng số
người được đào tạo chỉ chiếm 24% trong số lao động được đào tạo. Đội ngũ cán
bộ khoa học và công nghệ tính đến năm 2000, nước ta đã có khoảng 2 triệu công
nhân kỹ thuật; trên 1.300.000 người có trình độ đại học, cao đẳng, trên 10.0000
thạc sĩ và tiến sĩ khoa học, trong đó tiến sĩ khoa học là 610 người. Như vậy là đã
có 190 cán bộ khoa học và công nghệ trên 10.000 dân. Tuy nhiên số liệu này vẫn
còn thấp so với các nước trong vùng, các nước công nghiệp phát triển và nhu cầu
của sự nghiệp CNH, HĐH của đất nước. Vi
ệt
Hàn Qu
ốc

Đài Loan

Nh
ật Bản

Hoa Nam Kỳ
Số sinh viên 1992

(trong 100.000
dân)
250 4.000 2.110 2.200 5.600


triển nhanh trong tương lai.
Yếu tố thứ tư của công nghệ là tổ chức quản lý. Từ ngày đất nước bước vào
đổi mới (1986) trong lĩnh vực tổ chức, quản lý ở tầm vĩ mô toàn xã hội ở nước ta
đã đang có những chuyển đổi cơ chế quản lý đặc biệt là trong lĩnh vực kinh tế. Đó
là bước chuyển từ cơ chế quản lý tập trung hành chính, quan liêu, bao cấp sang cơ
chế thị trường theo định hướng xã hội chủ nghĩa. Thực tế những năm vừa qua, về
mặt tổ chức quản lý các doanh nghiệp trong lĩnh vực sản xuất, kinh doanh, chúng ta gặp rất nhiều khó khăn, đặc biệt là về cơ chế quản lý cả ở tầm vi mô lẫn vĩ mô.
Chúng ta chưa có một cơ chế quản lý thông thoáng, đồng bộ, nhất quán; trong khi
đó luật pháp lại chưa hoàn thiện như luật doanh nghiệp, luật đầu tư nước ngoài,
luật chuyển giao công nghệ… việc thi hành pháp luật và những quy định dưới luật
chưa nghiêm, chưa công bằng. Điều đó cản trở chúng ta trong công tác tổ chức,
quản lý, điều hành xã hội nói chung, trong việc phát triển sản xuất, phát triển kinh
doanh và dịch vụ nói riêng. Bộ máy quản lý của Nhà nước, của cơ sở kinh doanh,
sản xuất dịch vụ của Nhà nước, của các cấp bộ, ngành cũng như từng địa phương
còn rất cồng kềnh, số những người trong biên chế đông, hiệu suất làm việc thấp
mặc dù chúng ta đã ban hành chính sách cải cách hành chính, tinh giảm biên chế.
Vấn đề tổ chức quản lý vẫn đang là một trong những vấn đề phức tạp, nan giải
nhất.
Thông qua việc xem xét bốn yếu tố của công nghệ ,chúng ta thấy rằng, nến
sản xuất của nước ta bộc lộ những mặt yếu như phần cứng của công nghệ (máy
móc, trang thiết bị kỹ thuật, giao thông ,thông tin liên lạc, cơ sở hạ tầng…), về tổ
chức kỹ thuật quản lý đây là vấn đề nan giải nhất ,đòi hỏi chúng ta phải thực hiện
sủă đổi một cách nhanh chóng và có hiệu quả nhất. Song cũng có những mặt đang
còn tiềm năng lớn như yếu tố con người ,con người Việt Nam với đức tính cần cù
chịu khó ,nhưng thực tế thì nguồn nhân lực của Việt Nam chỉ đáp ứng được về số
lượng ,về trình độ thì chưa được đảm bảo về mặt trình độ Để có thể đẩy mạnh
quá trình công nghiệp hoá hiện đại hoá chúng ta phải đồng thời phát triển đồng bộ

hơn là khó có thể tương hợp với môi trường kinh tế thế giới và khu vực đang biến
dổi rất năng động trong những thập kỷ tới.
Tuy nhiên, trong điều kiện giàu nguồn lao động, thiếu vốn, cơ sở hạ tầng hạ
tầng chưa phát triển… không phải mọi công nghệ tiên tiến đều phù hợp với hoàn
cảnh nước ta. Bởi vậy, khi lựa chọn các giải pháp công nghệ cần xem xét đầy đủ
tính phù hợp và tính hiệu quả của chúng.
Về chuẩn cứ lựa chọn ưu tiên đầu tư công nghệ tiên tiến. Do nguồn lực hạn
chế, nền kinh tế quốc dân chỉ có thể đầu tư có chọn lọc, có trọng điểm, được xem
xét trên những tiêu chuẩn sau đây:  Nâng cao chất lượng sản và dịch vụ đáp ứng đòi hỏi của thị trường quốc tế
và đẩy lui hàng ngoại trên thị trường trong nước.
 Cải tiến trang thiết bị, công cụ, hệ thống thông tin, liên lạc…
 Đảm bảo yêu cầu tương hợp với quốc tế.
 Thúc đẩy việc hình thành một số ngành công nghệ có hàm lượng cao.
 Tư tưởng chọn lọc không chỉ vận dụng để xem xét giữa các ngành, các sản
phẩm mà còn phải cân nhắc giữa các khâu, giữa các công đoạn của dây
chuyền sản xuất.
Về nguồn công nghệ. Để nhanh chóng đáp ứng được yêu cầu của nền kinh
tế quốc dân, cần mạnh dạn thực hiện chiến lược chuyển giao công nghệ có chọn
lọc. Yêu cầu “chọn lọc” ở đây cần được lưu ý trên một số phương diện sau:
 “Chọn lọc” về mặt công nghệ cần được xem xét một cách đầy đủ, không
nên chỉ thuần tuý xem xét về mặt kinh tế.
 Mặt khác, không phải tất cả những gì tiên tiến đều phù hợp với hoàn cảnh
cụ thể nước ta và có thể đưa lại hậu quả mong muốn. Hơn thế nữa, tuỳ theo
yêu cầu sử dụng, trong một giai đoạn sử dụng nhất định, nhiều loại công
nghệ không thuộc các thế hệ nới nhất lại có thể thích hợp với trình độ phát
triển của ta trong giai đoạn trước mắt.
Từ phân tích ở trên, có thể khẳng định rằng việc xây dựng một năng lực

kỷ nguyên công nghiệp đã làm đảo lộn hoàn toàn mọi phương diện chính trị, kinh
tế, văn hoá, xã hội… của đời sống xã hội loài người và nền kinh tế công nghiệp.
Trong thế kỷ XXI, sự phát triển tiếp diễn như vũ bão của cuộc cách mạng khoa
học và công nghệ hiện đại, đang mở đường cho nhân loại tiến lên kỷ nguyên trí
tuệ, dưới những xu thế phát triển lớn. Các nước phát triển đang chuyển sang nền
kinh tế tri thức với đặc điểm là nền kinh tế biết khai thác, phát huy triệt để tiềm
năng của chất xám , của những ý tưởng sáng tạo và tri thức, về khoa học và công
nghệ phục vụ mục tiêu phát triển. Xu thế này thực sự đang mở ra cơ hội mới cho
nền kinh tế đang phát triển với điểm xuất phát thấp, cơ sở vật chất nghèo nàn, nhưng quyết tâm đổi mới phương thức phát triển theo hướng thu hút và sử dụng tri
thức khoa học và công nghệ để tiến hành CNH, HĐH.

2.3.2. Mặt trái của phát triển khoa học và công nghệ
Bên cạnh những mặt tích cực của sự phát triển như vũ bão của khoa học và
công nghệ hiện nay, chúng ta cũng không thể không đề cập đến tác hại to lớn của
sự phát triển đó đối với nhân loại:
Nền văn minh hậu công nghiệp – với sự phổ biến rộng rãi của hệ thống tin
học- đã đem lại tính mong manh dễ đổ vỡ của hệ thống kỹ thuật áp dụng tin học.
Những sự cố kỹ thuật có thể xảy ra như vi-rút máy tính, sự cố Y2Kđe doạ toàn bộ
bộ máy và sự vận hành hệ thống kỹ thuật áp dụng tin học. Không ai phủ nhận tác
dụng tích cực của khoa học và công nghệ, công nghệ thông tin, công nghệ sinh
học đối với đời sống, nhưng làm sao sử dụng công nghệ sinh học an toàn, có ích là
mối quan tâm nhiều năm qua của nhân loại tiến bộ. Liệu con người có can thiệp
quá sâu vào tự nhiên không? Việc tạo ra một con người hoàn chỉnh bằng phương
pháp nhân bản vô tính có phù hợp đạo đức? Việc giải mã bản đồ gen người lợi hay
hại? Loài người có thể tránh được nguy cơ một cuộc tiến công khủng bố huỷ diệt
bằng sử dụng công nghệ sinh học? Đó là những vấn đề luôn gây tranh cãi, liên
quan tới đạo đức của giới khoa học và thành quả của khoa học và công nghệ có thể

nhiều. Nồng độ ôzôn trong khí quyển bị suy giảm, gây ra mưa axít; nhiệt độ trái
đất nóng lên; mực nước biển trung bình tăng cao. Thực trạng về môi trường sống
của ngôi nhà chung thế giới hiện nay là vấn đề nan giải. Nó đã đem đến bao nỗi
nguy hiểm cho con người và sinh vật. Các bệnh hiểm nghèo chưa có cách chữa
như ung thư, đe doạ cuộc sống của con người. Đặc biệt là sự lan tràn các bệnh xã
hội, nhất là bệnh AIDS ngày càng tăng nhanh mà cả nhân loại đang quan tâm lo
ngại. Toàn bộ tình trạng đó đang là những hiểm hoạ đối với loài người, là nguy cơ
đe doạ hành tinh chúng ta.
Nước ta đang trong quá trình chuyển sang nền kinh tế thị trường và dựa vào
khoa học và công nghệ hiện đại để đẩy mạnh công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất
nước. Bởi vậy, vấn đề đặt ra đối với chúng ta không phải chỉ là nhận diện những tác động của khoa học và công nghệ hiện đại đối với công cuộc đổi mới nền kinh
tế. Điều quan trọng là làm sao để có phát huy tối đa mặt tích cực, giảm thiểu tiêu
cực của sự tác động đó. Nói cách khác, làm thế nào để khoa học và công nghệ hiện
đại, trong điều kiện kinh tế thị trường, phục vụ đắc lực cho sự nghiệp xây dựng
một xã hội mới, trong đó không những “dân giàu, nước mạnh”, mà còn là “xã hội
công bằng, dân chủ, văn minh”.
Kết luận

Công cuộc đổi mới nền kinh tế Việt Nam đã và đang đi vào chiều sâu ,cùng với xu
thế hoà nhập với thế giới, đòi hỏi chúng ta phải đẩy nhanh quá trình công nghiệp
hoá hiện đại hoá ,trong đó việc tiếp thu có chọn lọc ,và đẩy mạnh nghiên cứu
khoa học ,và vận dụng nó vào trong công cuộc đổi mới nền kinh tế sao cho có hiệu
quả là vấn đề cấp bách nhất .Trong xu hướng hiện nay nên cố gắng đẩy mạnh phát
huy nguồn nội lực , tránh hiện tưọng mua lại những kỹ thuật của nước ngoài



Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status