LUẬN văn khoa học trở thành lực lượng sản xuất trực tiếp và vận dụng xem xét công cuộc đổi mới kinh tế việt nam - Pdf 95


LUẬN VĂN:
Khoa học trở thành lực lượng sản
xuất trực tiếp và vận dụng xem xét
công cuộc đổi mới kinh tế Việt Nam

Lời mở đầu

Trong công cuộc phát triển kinh tế- xã hội đất nước, vấn đề đổi mới được đặt ra như
một yêu cầu vô cùng cấp thiết đối với nền kinh tế Việt Nam. Công cuộc đổi mới kinh tế
của chúng ta thực sự bắt đầu diễn ra từ sau Đại hội Đảng lần thứ VI vào năm 1986. Trước
đó, nền kinh tế nước ta còn mang nặng tính tự cung, tự cấp và mặc dù đã có nhiều nỗ lực
trong xây dựng và phát triển kinh tế, nhà nước đã đầu tư lớn nhưng tốc độ tăng trưởng kinh
tế vẫn chậm, thậm chí có xu hướng giảm sút và bắt đầu rơi vào tình trạng khủng hoảng.
Đứng trước thực trạng đó, chúng ta chỉ còn một cách lựa chọn duy nhất là cải cách,
mở cửa nền kinh tế, xây dựng nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa.Sau gần
20 năm đổi mới, Việt Nam đã đạt được những thành tựu ban đầu rất quan trọng, góp phần
quyết định vào việc đưa nền kinh tế ra khỏi khủng hoảng và đạt mức tăng trưởng cao.Đây
là cơ sở để tiếp tục đẩy mạnh đổi mới trong thời gian tới Đại hội đại biểu lần thứ IX của

triển của lực lượng sản xuất nói riêng, của phương thức sản xuất và của xã hội nói
chung.Về phương diện nhận thức khoa học là giai đoạn cao của nhận thức-giai đoạn nhận
thức lí luận.
Hình thức biểu hiện chủ yếu của tri thức khoa học là phạm trù, định luật, quy định.
Nhờ tri thức khoa học, ngày càng làm chủ tự nhiên, làm chủ xã hội và làm chủ bản
thân mình.
1.2-Lực lượng sản xuất:
Lực lượng sản xuất biểu hiện quan hệ giữa con người với giới tự nhiên trong quá
trình sản xuất.Trình độ của lực lượng sản xuất thể hiện trình độ chinh phục tự nhiên của
loài người. Đó là kết quả của năng lực thực tiễn của con người trong quá trình tác động vào
tự nhiên tạo ra của cải vật chất bảo đảm cho sự tồn tại và phát triển của loài người. Như
vậy, lực lương sản xuất là tất cả những lực lượng vật chất và những tri thức, kinh nghiệm
được sử dụng vào quá trình sản xuất để tạo ra của cải vật chất cho xã hội. Lực lượng sản
xuất bao gồm: - Người lao động với những kinh nghiệm sản xuất, thói quen lao động biết sử
dụng tư liệu sản xuất dể tạo ra của cải vật chất.
- Tư liệu sản xuất do xã hội tạo ra, trước hết là công cụ lao động.Tư liệu sản
xuất bao gồm : Đối tượng lao động và tư liệu lao động.Đối tượng lao động là bộ
phận của giới tự nhiên được đưa vào trong sản xuất như:đất canh tác, nước. Ngoài ra
còn có đối tượng không có sẵn trong tự nhiên mà con người sáng tạo ra.Tư liệu lao
động là những vật thể mà con người dùng để tác động vào đối tượng lao động nhằm
tạo ra những tư liệu sinh hoạt phục vụ cho nhu cầu con người.
Trong sự phát triển của lực lượng sản xuất, khoa học đóng vai trò ngày càng to lớn.
Sự phát triển của khoa học gắn liền với sản xuất là động lực mạnh mẽ thúc đẩy sản xuất
phát triển. Ngày nay khoa học đã phát triển đến mức trở thành nguyên nhân trực tiếp của
nhiều biến đổi to lớn trong sản xuất, trong đời sống và trở thành “lực lượng sản xuất trực
tiếp’’.Những phát minh khoa học trở thành xuất phát ra đời những ngành sản xuất mới,
nguyên liệu mới, năng lượng mới.Sự thâm nhập ngày càng sâu của khoa học và sản xuất đã

độ nào thành lực lượng sản xuất trực tiếp do đó nó cũng là chỉ số cho thấy những điều kiện
của chính quá trình sống của xã hội đã phục tùng đến mức độ nào sự kiểm soát của trí tuệ
phổ biếnvà đã được cải tạo đến mức độ nào không những dưới hình thức tri thức, mà cả
như những cơ quan thực hành xã hội trực tiếp , những cơ quan trực tiếp của quá trình sống
hiện thực”.
Như vậy theo quan điểm của C.Mac tri thức ( khoa học ) đã làm cho tư bản cố định ( nhà
máy, máy móc, công cụ, được dùng trong sản xuất) chuyển hoá đến mức cực độ thì trở
thành lực lượng sản xuất trực tiếp.Tri thức khoa học khi được con người ứng dụng, sử dụng
trong sản xuất, được “chuyển hoá”, vật chất hoá thành máy móc công cụ sản xuất thì nó trở
thành lực lượng sản xuất.Ngày nay, khi mà quá trình ứng dụng khoa học vào sản xuất diễn
ra một cách nhanh chóng, kịp thời thì rõ ràng là khoa học trở thành lực lượng sản xuất trực
tiếp.

1.3.2-Khoa học đã trở thành lực lượng sản xuất trực tiếp:
Khoa học được coi là sự thần diệu, là tinh hoa của quá trình sản xuất tiến trình phát
triển chung của lực lượng sản xuất.Khoa học và lực lượng sản xuất có mối quan hệ mật
thiết với nhau:Cùng với những sáng chế phát minh của mình, khoa học đang trở thành lực
lượng sản xuất trực tiếp.Trong thời đại ngày nay khoa học được ứng dụng, sử dụng trong
sản xuất được “chuyển hoá” vật chất hoá thành máy móc, công cụ sản xuất.
Nói khoa học trở thành lực lượng sản xuất trực tiếp có nghĩa là, sự phát triển của
khoa học đã là nguyên nhân trực tiếp của mọi biến đổi to lớn trong sản xuất, quản lí. Điều
khiển các quá trình công nghệ tạo ra những ngành sản xuất mới, hiện đại, những lĩnh vực
kĩ thuật mũi nhọn, những phương pháp sản xuất mới, những nguồn năng lượng mới với
hàng loạt vật liệu mới nhân tạo có tác dụng vô cùng to lớn, nhiều mặt mà các cuộc cách
mạng khoa học và kĩ thuật ở thế kỉ trước không thể có được.Có thể nói chưa bao giờ khoa
học được vật hoá, kết tinh, thâm nhập vào các yếu tố của lực lượng sản xuất và quan hệ sản
xuất nhanh và có hiệu quả như ngaỳ nay.Khoa học không còn là yếu tố lí thuyết đứng
ngoài qua trình sản xuất vật chất như là nhân tố “xúc tác” mà trở thành mặt bên trong của
hệ thống sản xuất vật chất.Điều này không chỉ đúng với khoa học tự nhiên mà còn đúng
với cả khoa học xã hội.

Ngay từ khi bắt đầu quá trình đổi mới Đảng và Nhà nước ta đã quan tâm hoàn thiện
và đổi mới quan điểm, các chủ trương chính sách trong lĩnh vực khoa học và công nghệ
“Đại hội lần thứ VI của Đảng đã đề ra đường lối đổi mới coi khoa học và công nghệ là hoạt
động mạnh mẽ của sự nghiệp đổi mới, ổn định tình hình và phát triển kinh tế-xã hội theo
định hướng xã hội chủ nghĩa, coi những người làm khoa học là đội ngũ cán bộ tin cậy, quý
báu của Đảng và Nhà nước”.
Nghị quyết của hội nghị lần thứ 7 Ban chấp hành TW(khoá VII) trong phần về chủ
trương phát triển khoa học và công nghệ đến năm 2000 đã nêu rõ: “Khoa học, công nghệ là
nền tảng của công nghiệp hoá, hiện đại hoá.Kết hợp công nghệ truyền thống với công nghệ
hiện đại tranh thủ đi nhanh vào hiện đại những khâu quyết định”.
Trong báo cáo chính trị đại hội VIII Đảng ta nhấn mạnh “Khơi dậy trong dân lòng
yêu nước, ý chí quật cường, phát huy tài chí của người Việt Nam quyết tâm đưa nước ta ra
khỏi nghèo nàn và lạc hậu bằng khoa học và công nghệ”.Đến đại hội IX của Đảng điều này
một lần nữa lại được khẳng định ở tầm chiến lược cao hơn-đó là gắn sự phát triển của khoa
học và công nghệ với nguồn lực con người Việt Nam- một nguồn nội lực còn tầm năng và
vô cùng quan trọng, mà thiếu nó Việt Nam không thể có được sự phát triển của khoa học
công nghệ nói riêng, sự phát triển của công nghiệp hoá, hiện đại hoá và xã hội Việt Nam
một cách động lập- tự chủ, bền vững nói chung, “Phát huy nguồn lực trí tuệ và sức mạnh
tinh thần của người Việt Nam; coi sự phát triển giáo dục và đào tạo, khoa học và công nghệ
là nền tảng và động lực của sự nghiệp công nghiệp hoá, hiện đại hoá”.
Quan điểm và chủ trương trên đây về khoa học và công nghệ trong quá trình chuyển
từ nền kinh tế tập trung bao cấp sang nền kinh tế vận hành theo cơ chế thị trường có sự
quản lí của nhà nước theo định hướng Xã Hội Chủ Nghĩa chính là căn cứ vào tình hình
thực tế của đất nước vừa ra khỏi chiến tranh ác liệt kéo dài và tiếp theo là gian đoạn trì trệ
khủng hoảng nhưng đã được những thành tựu quan trọng, bước đàu trong quá trình đổi

mới, cần phải tranh thủ mọi thời cơ, trong đó có thời cơ về tiếp thu khoa học và công nghệ
để tăng nhanh lực lượng sản xuất, vươn lên phía trước theo hướng công nghiệp hoá, hiện
đại hoá.
2.1.2-Vai trò động lực của khoa học-công nghệ đối với công nghệ đổi mới kinh tế ở

Hai là, khoa học và công nghệ đóng vai trò vô cùng quan trọng trong việc đào tạo,
bồi dưỡng, khai thác và huy nguồn lực con người, đặc biệt là nguồn lực trí tuệ-một nguồn
lực to lớn, có tính chất quyết định đối với sự nghiệp công nghiệp hoá, hiện đại hoá ở nước
ta.
Bằng nhiều con đường, nhiều cách thức khác nhau, chúng ta đang thực hiện quá
trình trang bị và trang bị lại công nghệ hiện đại cho các nghành kinh tế quốc dân. Đó có thể
là sự chuyển giao công nghệ tiên tiến đã có sẵn từ các nước phát triển về nước ta, từ đó có
thể dựa vào sử dụng ngay, như ta đã và đang làm trong một số lĩnh vực như công nghệ
thông tin, điện tử viễn thông,v.v Cũng có thể bằng con đường tự nghiên cứu, sáng những
công nghệ mới hoặc cải tiến,biến đổi, nâng cấpnhững trang thiết bị hiện có lên một trình độ
cao hơn, phù hợp hơn. Điều này đang diễn ra trong nhiều lĩnh vực sản xuất: nông nghiệp,
vật liệu xây dựng, giao thông vận tải, và cuối cùng là bằng cách kết hợp giữa nghiên cứu và
chuyển giao. Tuy nhiên, dù bằng cách thức nào đi chăng nữa, điều quan trọng và có tính
chất quyết định bậc nhất ở đây là cần phải có những con người có tri thức và năng lực đủ
để có thể khai thác, sử dụng một cách hiệu quả nhất các trang thiết bị kĩ thuật hiện đại.Vấn
đề này chỉ có dựa trên cơ sở của một nền khoa học học và công nghệ tiên tiến mới làm
được.
Con người là chủ thể sáng tạo ra khoa học và công nghệ. Đến lượt mình, khoa học
và công nghệ trở thành phương, công cụ và đồng thời cũng là cơ sở để con người vươn lên
hoạt thiện mình về mọi mặt, đặc biệt là mặt năng lực trí tuệ.Trước hết, thông qua quá trình
giáo dục và đào tạo, khoa học và công nghệ sẽ trang bị cho con người tri thức khoa học và
công nghệ cần thiết để cho con người có thể hiểu và sử dụng những trang thiết bị kĩ thuật,
máy móc tiên tiến hiện đại.Từ chỗ có tri thức về khoa học công nghệ con người và xã hội
Việt Nam sẽ chuyển dần từ chỗ chủ yếu là lao động cơ bắp, thủ công với những thiết bị kĩ

thuật cũ kĩ, thô sơ, lạc hậu sang lao động trí tuệ, lao động công nghiệp với những máy móc,
trang thiết bị kĩ thuật hiện đại.
2.2 Tình hình ứng dụng khoa học công nghệ vào đổi mới kinh tế Việt Nam
hiện nay:
Đối với Việt Nam, khoa học và công nghệ đang giữ một vai trò cực kì quan trọng và

máy tính các thế hệ về sau này, sử dụng Intẻnet toàn cầu, điện thoại,điện báo,v.v ,một số
các máy móc sử dụng trong lĩnh vực y tế…trong khi đó Trong khi đó chúng ta vẫn còn sử
dụng rất rộng rãi, phổ biến các công cụ sản xuất thô sơ, lạc hậu.Đặc biệt là trong lĩnh vực
sản xuất công nghiệp, tiểu thủ công nghiệp
Sự không đồng bộ, chắp vá. cũ nát của các trang thiết bị do lâu ngày không được
thay thế, đổi mới, và do cả sự nhập nội các thiết bị cũ đã bị thải từ nước ngoài trong những
năm gần đây nguyên nhân dẫn đến sự lãng phí quá lớn các nguồn tài nguyên thiên nhiên,
gây ô nhiễm môi trường, năng suất và chất lượng sản phẩm thấp,.v.v
Yếu tố thứ hai của công nghệ là con người-là nguồn nhân lực.Đó là những lao động
có nghề nghiệp được đào tạo khoa học kĩ thuật.Yếu tố này của công nghệ có thể coi là một
thế mạnh của ta. Chúng ta sẽ xem xét nguồn lực con người trên các bình diện:số lượng,
chất lượng và chủ yếu là chất lượng.
Về mặt số lượng:Hiện nay nước ta đứng hàng thứ 13 về quy mô dân số trong hơn
200 nước trên thế giới, đứng thứ 7 trong số 42 nước thuộc khu vực Châu á Thái Bình
Dương, thứ 2 trong khối ASEAN.
Tốc độ tăng trưởng dân số nước ta cho đến nay vẫn còn khá cao. Số người bổ xung
thêm vào lực lượng xã hội hàng năm thường vào khoảng hơn 1 triệu người , trong khi đó số
người hết tuổi lao động chỉ băng 1/3.Như vậy, tốc độ tăng dân số cũng như tốc độ tăng của
lực lượng lao động trong thời gian qua đều khá cao 2,0%- 2,3% trên năm và liên tục, lực
lượng lao động bổ xung vào đội ngũ lao động xã hội cũng rất lớn bình quân 3% / năm.
Trên thực tế thì nguồn lao động nước ta còn cao hơn nguồn lao động bổ xung hàng năm,
bởi vì số người đã ra khỏi tuổi lao động hàng năm còn rất thấp và phần lớn họ vẫn còn tiếp
tục làm việc. Đây là thuận lợi cũng là khó khăn của chúng ta.

Về mặt lí thuyết thì quy mô dân số đông, nguồn lao động dồi dào chính là sức mạnh
của quốc gia, là yếu tố cơ bản để mở rộng và phát triển sản xuất.Tuy nhiên trong điều kiện
của nước ta hiện nay, do nguồn vốn còn hạn hẹp, công cụ sản xuất còn thô sơ, lạc hậu, khả
năng mở rộng sản xuất còn hạn chế thì nguồn lao động tăng nhanh trở thành sức ép lớn đối
với sự phát triển kinh tế-xã hội.
Về đội ngũ cán bộ khoa học và công nghệ tính đến tháng12 năm 2000 nước ta đã có

của nước ta cần và có thể rút ngắn thời gian, vừa có những bước tuần tự vừa có những
bước nhảy vọt”. Để thực hiện được điều này phải phát huy những lợi thế của đất nước tận
dụng mọi khả năng để đạt trình độ công nghệ tiên tiến đặc biệt là công nghệ thông tin và
công nghệ sinh học, tranh thủ ứng ngày càng nhiều hơn, ở mức độ cao hơn và sâu hơn
những thành tựu mới về khoc học và công nghệ.
Trước hết chúng ta phải tập trung đầu tư, phát triển cơ sở vật chất kĩ thuật, thay thế
và nhập khẩu lại các trang thiết bị hiện đại tiên tiến phục vụ cho sản xuất.
Là một nước còn nghèo, việc đầu tư vốn vào chuyển giao công nghệ của chúng ta
gặp rất nhiều hạn chế. Mặt khác chuyển giao công nghệ ngày nay không đơn giản chút nào.
Trong chuyển giao công nghệ , nếu chúng ta không tính toán kĩ càng, hay vì lợi ích nhỏ
nhen trước mắt của những nhóm người nào đó thì rất dễ biến nước ta thành bãi thải chứa
các công nghệ cũ kĩ, lạc hậu của các nước phát triển. Chuyển giao công nghệ là con đường
nhanh nhất có thể cho phép chúng ta nhanh chóng tiếp cận với công nghệ hiện đại trên thế
giới, nhất là công nghệ mũi nhọn. Tuy nhiên, điều đó chỉ trở thành hiện thực khi chúng ta
có một chính sách chuyển giao công nghệ rõ ràng, nghiêm ngặt và đặc biệt là có được
những con người được đào tạo chuyên môn giỏi, có hiểu biết về lĩnh vực công nghệ được
chuyển giao, có tâm huyết và có trách nhiệm cao. Có như vậy chúng ta mới tránh bớt
những rủi ro, những hậu quả xấu trong quá trình chuyển giao công nghệ
Con đường bền lâu và vững chắc nhất để tiếp thu và phát triển công nghệ là con
đường dựa vào khả năng của mình hay nói theo cách thông thường là phát huy nội lực-
nguồn lực con người. Con người Việt Nam vốn giàu truyền thống nhân ái, thông minh và

có một lòng yêu nước nồng nàn. Đội ngũ cán bộ khoa học và công nghệ của chúng ta đến
nay tuy so với một số nước trong khu vực và trên thế giới chúng ta chưa có nhiều, trình độ
chưa cao, song đó là một lực lượng không nhỏ, tiềm năng còn dồi dào. Nhận thức rõ được
điều này Đảng và Nước ta đã xác định để có thể khai thác, sử dụng có hiệu quả nguồn lực
con người trước tiên phải tập trung đầu tư cho giáo dục. Coi sự nghiệp giáo dục và đào tạo
là quốc sách hang đầu.
Việc giáo dục và đào tạo một cách căn bản có hệ thống trong nhà trường là vô cùng
quan trọng, việc giáo dục, đào tạo chuyên sâu, đào tạo lại trong quá trình hoạt động thực

kiểm tra quá trình sản xuất: khoa học cho phép hoàn thiện hơn các phương pháp sản xuất,
hoàn thiện quản lí kinh tế. Khoa học đã thực sự trở thành lực lượng sản xuất trực tiếp
Không chỉ có khoa học tự nhiên mà khoa học xã hội cũng trở thành lực lượng sản
xuất trực tiếp. Việc áp dụng các công trình nghiên cứu khoa học xã hội vào thực tiễn giữ
vai trò quan trọng không kém. Những công trình nghiên cứu kinh tế và xã hội học đã giúp
cho việc sử dụng vật lực và nhân lực một cách hợp lí nhất, chọn lựa những phương pháp
tiến bộ nhất trong sự phát triến sản xuất và hoàn thiện tổ chức lao động.
Sứ mệnh lịch sử của khoa học là làm cho cuộc sống và lao động con người trở nên
đỡ vất vả, tăng thêm quyền lực trí tuệ của con người đối với tự nhiên, góp phần hoàn thiện
các quan hệ xã hội, hoàn thiện nhân cách của con người và trở nên phát triển hài hoà làm
cho cuộc sống và hoạt động của con người trở nên dễ dàng hơn, đem lại hạnh phúc cho con
người. Sự thâm nhập ngày càng sâu của khoa học vào sản xuất, trở thành một yếu tố không
thể thiếu được của sản xuất đã làm cho lự lượng sản xuất có bước phát triển nhảy vọt, tạo
thành cuộc càch mạng khoa học và công nghệ hiện đại.Yếu tố trí lực trong sức lao động
đặc trưng cho lao động hiện nay không còn là kinh nghiệm và thói quen của họ mà là tri
thức khoa học. Có thể: khoa học và công nghệ hiện đại là đặc trưng cho lực lượng sản xuất
hiện đại.
Tài liệu tham khảo

1.Giáo trình Kinh tế chính trị Mác- Lênin, NXB Chính trị quốc gia, Hà Nội,
2004.

2.Giáo trình Triết học Mác- Lênin, NXB Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2002
3.Lê Văn Giang: “ Khoa học cơ bản thế kỉ XX đối với một số vấn đề lớn của
Triết học” , NXB Chính trị quốc gia, Hà Nội.
4.Vũ Đình Cự : “ Khoa học và công nghệ lực lượng sản xuất hàng đầu”,
NXB Chính trị quốc gia, Hà Nội.

ệm về khoa học.

3

1.2 L
ực l
ư
ợng sản xuất.

3

1.3 Khoa h
ọc trở t
hành lư
ợng sản xuất tr
ưc ti
ếp

4

1.3.1 M
ột số quan
đi
ểm khác nhau về vấn
đ
ề “ Khoa học trở thành
lực lượng sản xuất trực tiếp”.
4

1.3.2 Khoa h

ối

với công cuộc đổi mới kinh tế ở Việt Nam.
8

2.1.1 Các quan đi
ểm của
Đ
ảng ta.

8

2.1.2 Vai trò
đ
ộng lực của khoa
h
ọc
-

công ngh

đ
ối với công cuộc
đổi mới kinh tế.
9

2.2 Tình hình
ứng dụng khoa học



Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status