Nâng cao hiệu quả sản xuất kinh doanh tại Công ty thiết bị đo điện Hà Nội - Pdf 11

LỜI NÓI ĐẦU
Trong xu thế hội nhập về kinh tế hiện nay, sự cạnh tranh diễn ra rất gay gắt.
Các doanh nghiệp muốn tồn tại đứng vững trên thị trường, muốn sản phẩm của
mình có thể cạnh tranh được với sản phẩm của các doanh nghiệp khác thì không còn
cách nào khác phải tiến hành hoạt động sản xuất kinh doanh sao cho có hiệu quả. Do
vậy, tìm ra các biện pháp để nâng cao hiệu quả sản xuất kinh doanh là vấn đề đang
được rất nhiều các doanh nghiệp quan tâm chú trọng.
Trong nền kinh tế thị trường hiện nay, để tồn tại và phát triển, các doanh nghiệp
phải đối mặt với rất nhiều khó khăn. Là một doanh nghiệp sản xuất trực thuộc Bộ
Công nghiệp, Công ty Thiết bị đo điện Hà Nội cũng gặp phải sự cạnh tranh khốc liệt
của các doanh nghiệp cùng ngành trong và ngoài nước. Vì vậy, muốn đứng vững trên
thị trường, đòi hỏi những nhà quản lý luôn phải thường xuyên cải tiến sản phẩm, nâng
cao chất lượng và hạ giá thành sản phẩm. Nắm được vấn đề này, Ban lãnh đạo Công
ty đã có những biện pháp quản lý chặt chẽ các khâu thu mua, bảo quản, dự trữ và
các chi phí khác để nâng cao hiệu quả sản xuất kinh doanh của Công ty.
Sau một thời gian thực tập, tìm hiểu thực trạng sản xuất kinh doanh tại Công ty
Thiết bị đo điện Hà Nội, em đã nhận thấy được tầm quan trọng của việc quản lý đối
với quá trình sản xuất kinh doanh của Công ty. Do đã được sự hướng dẫn và chỉ bảo
nhiệt tình của Phó Giáo sư_Tiến sĩ Phạm Quang Huấn và các cô chú trong Công
ty em đã mạnh dạn đi sâu tìm hiểu, nghiên cứu và hoàn thành luận văn tốt nghiệp
của mình với đề tài: “Một số biện pháp nhằm nâng cao hiệu quả sản xuất kinh
doanh ở Công ty Thiết bị đo điện Hà Nội”.
Luận văn này gồm ba nội dung chính sau :
 Chương I: Cơ sở lý luận về hiệu quả sản xuất kinh doanh
 Chương II: Thực trạng hoạt động và hiệu quả sản xuất kinh doanh của
Công ty Thiết bị đo điện Hà Nội
 Chương III: Một số giải pháp và kiến nghị nhằm nâng cao hiệu quả sản
xuất kinh doanh tại Công ty Thiết bị đo điện Hà Nội
Trang 1

Trang 2

Hiệu quả là phạm trù phản ánh trình độ lợi dụng các nguồn lực sản xuất hay
phản ánh mặt chất lượng của quá trình kinh doanh. Việc xác định hiệu quả kinh
doanh cũng rất phức tạp bởi kết quả kinh doanh và hao phí nguồn lực gắn với một
thời kỳ cụ thể nào đó đều rất khó xác định một cách chính xác.
Yêu cầu của việc nâng cao hiệu quả kinh doanh là phải đạt Lợi nhuận tối đa
với chi phí tối thiểu.
II. Các nhân tố ảnh hưởng tới hiệu quả sản xuất kinh doanh của doanh
nghiệp
1. Các nhân tố bên ngoài
Hiệu quả kinh doanh của doanh nghiệp phản ánh mối quan hệ giữa kết quả đạt
được và chi phí bỏ ra để đạt được kết quả đó, nó phản ánh trình độ lợi dụng các
nguồn lực đầu vào để đạt được mục tiêu của doanh nghiệp. Các đại lượng kết quả
đạt được và chi phí bỏ ra chịu tác động rất nhiều nhân tố khác nhau với các mức độ
khác nhau. Do đó nó ảnh hưởng trực tiếp đến hiệu quả kinh doanh của các doanh
nghiệp. Các nhân tố bên ngoài bao gồm:
Môi trường khu vực và quốc tế: Môi trường kinh tế cũng như chính trị trong
khu vực và trên thế giới ổn định là cơ sở, tiền đề thuận lợi giúp các doanh nghiệp
tiến hành các hoạt động sản xuất kinh doanh của mình đạt hiệu quả cao.
Môi trường kinh tế quốc dân bao gồm môi trường chính trị, pháp luật và môi
trường kinh tế, môi trường văn hoá xã hội, điều kiện tự nhiên và cơ sở hạ tầng,
trình độ Khoa học kĩ thuật công nghệ. Đây là các nhân tố vô cùng quan trọng tác
động trực tiếp tới hoạt động kinh doanh và hiệu quả kinh doanh của doanh nghiệp
Môi trường ngành: Trong cơ chế thị trường ở nước ta hiện nay, trong hầu hết
các lĩnh vực kinh doanh, môi trường ngành là nhân tố góp phần ảnh hưởng không
nhỏ tới hiệu quả sản xuất kinh doanh, nó bao gồm các doanh nghiệp trong ngành,
khả năng gia nhập mới của các doanh nghiệp khác, các sản phẩm thay thế, người
cung ứng và khách hàng. Trong đó khách hàng là vấn đề vô cùng quan trọng và
được các doanh nghiệp đặc biệt quan tâm chú ý.
2. Các nhân tố bên trong
Trang 4

nó tham gia vào mọi hoạt động, mọi quá trình sản xuất kinh doanh của doanh
Trang 5
nghiệp. Do đó nó ảnh hưởng trực tiếp đến quá trình sản xuất kinh doanh. Bên canh
đó tiền lương và thu nhập của người lao động cũng ảnh hưởng trực tiếp tới hiệu quả
kinh doanh của doanh nghiệp vì tiền lương là một bộ phần cấu thành lên chi phí sản
xuất kinh doanh của doanh nghiệp đồng thời nó còn tác động tới tâm lý của người
lao động trong doanh nghiệp.
Môi trường làm việc: Bao gồm môi trường văn hoá và môi trường thông tin,
hai yếu tố này cũng trực tiếp ảnh hưởng đến hiệu quả sản xuất kinh doanh trong
doanh nghiệp.
III. Hệ thống các chỉ tiêu về hiệu quả sản xuất kinh doanh của doanh
nghiệp
1. Hiệu quả kinh doanh tổng hợp .
Để đánh giá Hiệu quả sản xuất kinh doanh tổng hợp của toàn doanh nghiệp
người ta thường dùng các chỉ tiêu sau:
Chỉ tiêu Doanh thu một đồng chi phí trên cho biết với một đồng Chi phí bỏ ra,
doanh nghiệp tạo ra được mấy đồng Doanh thu.
Doanh thu trên
một đồng chi phí
=
Doanh thu tiêu thụ sản phẩm trong kỳ
Tổng chi phí sản xuất và tiêu thụ trong kỳ
Chỉ tiêu Doanh thu trên một đồng vốn kinh doanh phản ánh một đồng Vốn
kinh doanh đem lại bao nhiêu đồng Doanh thu.
Doanh thu trên một
đồng vốn kinh doanh
=
Doanh thu tiêu thụ sản phẩm trong kỳ
Vốn kinh doanh bình quân trong kỳ
Chỉ tiêu doanh lợi theo chi phí cho biết bỏ ra một đồng Chi phí đem lại bao

nhiêu giá trị sản lượng cho doanh nghiệp.
Năng suất lao động =
Giá trị sản xuất
Tổng số lao động bình quân trong kỳ
Chỉ tiêu sức sản xuất của lao động cho biết bình quân một lao động trong một
kỳ kinh doanh làm ra bao nhiêu đồng lợi nhuận.
Sức sản xuất của
lao động
=
Doanh thu tiêu thụ sản xuất trong kỳ
Tổng số lao động bình quân trong kỳ
3. Các chỉ tiêu đánh giá hiệu quả sử dụng Tài sản cố định (TSCĐ)
Để đánh giá hiệu quả sử dụng TSCĐ, người ta thường sử dụng các chỉ tiêu như
: Sức sản suất của TSCĐ (Hiệu suất sử dụng TSCĐ trong một kỳ), Sức sinh lợi của
TSCĐ và Suất hao phí từ TSCĐ.
Chỉ tiêu Sức sản xuất của TSCĐ phản ánh một đồng nguyên giá bình quân
TSCĐ đem lại mấy đồng Doanh thu thuần.
Sức sản xuất của
TSCĐ
=
Tổng số Doanh thu thuần
Nguyên giá bình quân TSCĐ
Chỉ tiêu sức sinh lợi TSCĐ cho biết một đồng nguyên giá bình quân TSCĐ
đem lại mấy đồng lợi nhuận thuần (hay lãi gộp).
Sức sinh lợi của TSCĐ =
Lợi nhuận trong kỳ
Nguyên giá bình quân TSCĐ
Chỉ tiêu Suất hao phí từ TSCĐ cho thấy để có một đồng Doanh thu thuần hay
Lợi nhuận thuần phải hao phí bao nhiêu đồng Nguyên giá TSCĐ.
Suất hao phí từ

TSLĐ bình quân trong kỳ
Doanh thu thuần
5. Các chỉ tiêu đánh giá hiệu quả Kinh tế - Xã hội.
5.1. Nộp ngân sách
Mọi Doanh nghiệp khi tiến hành hoạt động sản xuất kinh doanh thì phải có
nhiệm vụ nộp ngân sách nhà nước dưới hình thức là các loại thuế như thuế Doanh
thu, thuế đất, thuế lợi tức, thuế xuất khẩu (với các đơn vị xuất nhập khẩu), thuế tiêu
thụ đặc biệt ...nhà nước sẽ sử dụng những khoản thu này để đầu tư cho sự phát triển
của nền kinh tế quốc dân và các lĩnh vực phi sản xuất, góp phần phân phối lại thu
nhập quốc dân.
5.2. Việc làm
Nước ta cũng giống như các nước đang phát triển, hầu hết là các nước nghèo,
tình trạng yếu kém về kỹ thuật sản xuất và nạn thất nghiệp còn phổ biến. Để tạo
nhiều công ăn việc làm cho người lao động và nhanh chóng thoát khỏi nghèo nàn,
lạc hậu đòi hỏi các doanh nghiệp phải tự tìm tòi đưa ra những biện pháp nâng cao
Trang 8
hoạt động sản xuất kinh doanh, mở rộng quy mô sản xuất, tạo công ăn việc làm cho
người lao động.
5.3. Thu nhập
Ngoài việc tạo công ăn việc làm cho người lao động đòi hỏi các doanh nghiệp
phải làm ăn có hiệu quả để góp phần nâng cao mức sống của người lao động. Xét
trên phương diện kinh tế, việc nâng cao mức sống của người dân được thể hiện qua
các chỉ tiêu như gia tăng thu nhập quốc dân bình quân trên đầu người, gia tăng đầu
tư xã hội, mức tăng trưởng phúc lợi xã hội...
Trang 9
6. Các biện pháp nâng cao hiệu quả sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp
Để đánh giá hiệu quả sản xuất kinh doanh, người ta thường so sánh kết quả
đầu ra so với chi phí đầu vào trong một quá trình. Do vậy, muốn nâng cao hiệu quả
sản xuất kinh doanh, các doanh nghiệp cần phải hiểu rõ về chi phí đầu vào của quá
trình sản xuất và làm sao phải giảm chi phí đầu vào xuống mức thấp nhất có thể. Có

1. Sơ lược về quá trình hình thành và phát triển của Công ty Thiết bị đo điện
Tên gọi: Công ty Thiết bị đo điện
Tên giao dịch quốc tế: EMIC ( Electric Measuring Intrument Company)
Địa chỉ: Số 10 Trần Nguyên Hãn, Phường Lý Thái Tổ, Quận Hoàn Kiếm, Hà Nội
Công ty Thiết bị Đo điện được thành lập ngày 1/4 /1983 theo quyết định số
317 /CK - CB ngày 24/12 /1982 của Bộ cơ khí luyện kim tách ra từ một phân
xưởng của nhà máy chế tạo biến thế cũ. Công ty là một doanh nghiệp nhà nước trực
thuộc Tổng Công ty Thiết bị kỹ thuật điện, Bộ Công nghiệp.
Ngày 1/6/1994, Thực hiện quyết định số 173 QĐ / TCBĐT của Bộ trưởng Bộ
Công nghiệp nặng, tên mới của nhà máy là Công ty Thiết bị đo điện, tên giao dịch
quốc tế là EMIC. Công ty là một doanh nghiệp nhà nước hạch toán kinh tế độc lập,
tự chủ về Tài chính và có tư cách pháp nhân, trực thuộc Tổng Công ty Thiết bị kỹ
thuật điện Bộ Công Nghiệp. Ngành nghề kinh doanh chính của Công ty là sản xuất,
bán buôn, bán lẻ các loại Thiết bị đo và đếm điện.
Cho tới nay, Công ty đã đạt được nhiều thành công rực rỡ. Không những đứng
vững trước khó khăn do cơ chế thị trường, mà còn tận dụng được những lợi thế của
nó để phát triển. Công ty đã trở thành một trong số những Công ty dẫn đầu trong
ngành chế tạo Thiết bị điện ở Việt Nam và luôn hoàn thành vượt mức kế hoạch
được giao với quy mô năm sau cao hơn năm trước.
2. Chức năng nhiệm vụ của Công ty
Qua hơn 20 năm xây dựng và phát triển, Công ty Thiết bị đo điện Hà Nội đã
luôn phấn đấu, đầu tư mở rộng sản xuất, không ngừng nâng cao chất lượng sản
phẩm. Để có thể đứng vững trong nền kinh tế đang có nhiều biến động và cạnh
tranh gay gắt hiện nay, Ban lãnh đạo Công ty đã đề ra những chức năng và nhiệm vụ
chính sau:
Trang 11
− Xây dựng và thực hiện kế hoạch nhằm đạt được mục tiêu và nhiệm vụ sản
xuất kinh doanh.
− Thực hiện chế độ hạch toán độc lập.
− Chấp hành đúng các chính sách, chế độ của nhà nước

cuối
cùng
Hiệu
chuẩn
kỹ
thuật
Sản
xuất
chi tiết
Bao
gói
nhập
kho
- Phân xưởng 5: Là phân xưởng lắp ráp 2 chuyên lắp ráp các sản phẩm công tơ 3
pha, các loại đồng hồ vôn - ampe.
- Phân xưởng 6: Là phân xưởng sản xuất phụ chuyên sản xuất các loại dụng cụ
phục vụ cho các phân xưởng sản xuất khác, sửa chữa các hệ thống Thiết bị cho
toàn Công ty.
Về đặc điểm dây chuyền công nghệ: Toàn bộ dây chuyền sản xuất của Công
ty được chuyển giao công nghệ bởi landis (thụy sỹ) từ A Tới Z các máy móc Thiết
bị sản xuất và các Thiết bị kiểm tra có cấp chính xác cao với hệ thống mới nhất của
thụy sỹ, Đức, Nhật. Các Thiết bị cần bổ xung, thay thế, sửa chữa Công ty sẽ có
quyền mua và có quyền lựa chọn. Sản lượng của EMIC khi mới được chuyển giao
công nghệ với mức sản xuất là 750. 000 sản phẩm năm. Sau khi nghiên cứu tìm tòi,
nâng cấp và bổ xung máy móc trang Thiết bị cho đến năm 2001 sản phẩm của Công
ty sản xuất ra đạt 1.600.000 sản phẩm năm.
3. 2. Đặc điểm tổ chức bộ máy quản lý của Công ty Thiết bị đo điện.
3.2.1 Sơ đồ tổ chức bộ máy quản lý
Là doanh nghiệp nhà nước, cơ cấu tổ chức bộ máy quản lý của Công ty Thiết
bị đo điện được tổ chức theo mô hình trực tuyến: mối quan hệ giữa cấp trên và cấp

và cơ quan nhà nước có thẩm quyền phê duyệt. Báo cáo kết quả hoạt động sản xuất
kinh doanh của Công ty với Tổng Công ty và các cơ quan nhà nước có thẩm quyền.
Phó giám đốc: Xây dựng kế hoạch dài hạn, ngắn hạn và điều hành sản xuất để
thực hiện kế hoạch đề ra. Soạn thảo và kiểm tra các hợp đồng kinh tế đảm bảo
quyền lợi của Công ty và thực hiện đúng tiến độ của các hợp đồng đã ký. Giải quyết
mọi công việc khi được giám đốc ủy quyền.
Phòng tổ chức :Sắp xếp bố trí lực lượng cán bộ khoa học kỹ thuật trong Công
ty, phối hợp với phòng lao động bố trí lực lượng công nhân sản xuất.
Phòng kế hoạch: Xây dựng chỉ đạo và thực hiện kế hoạch sản xuất kinh doanh
của Công ty. Viết báo cáo hoàn thành kế hoạch 6 tháng, cả năm theo yêu cầu của
giám đốc đồng thời kiểm tra việc lưu trữ hồ sơ chất lượng, tạo điều kiện để đánh giá
nội bộ đơn vị mình.
Phòng kỹ thuật: Nghiên cứu thiết kế sản phẩm(sản phẩm mới), cải tiến sản
phẩm theo yêu cầu của khách hàng, xây dựng và thực hiện các bước công nghệ, thiết
kế chế tạo và gá lắp, dụng cụ khuôn mẫu. Cấp cho phòng kế hoạch, kế toán thống
kê, vật tư những định mức tiêu hao Nguyên vật liệu về tình hình sử dụng Thiết bị
máy móc.
Phòng quản lý chất lượng sản phẩm: Kiểm tra chất lượng các bán thành phẩm,
từ khâu đầu tiên cho tới khâu cuối cùng nhiên Nguyên vật liệu. Quản lý hệ thống
mẫu chuẩn, quản lý các dụng cụ đo kiểm, đảm bảo thống nhất các đơn vị đo lường
trong toàn Công ty, tìm tòi các phương pháp và phương tiện kiểm tra mới. Tham gia
giải quyết những khiếu nại của khách hàng về chất lượng sản phẩm và tổ chức thực
hiện kiểm định nhà nước.
Trang 15


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status