LUẬN VĂN: Hoàn thiện công tác kế toán chi phí sản xuất và tính giá thành sản phẩm xây lắp nhằm tăng cường hiệu lực quản trị chi phí tại Công ty Cổ phần Kinh doanh vật tư và Xây dựng potx - Pdf 11

LUẬN VĂN:
Hoàn thiện công tác kế toán chi phí sản
xuất và tính giá thành sản phẩm xây lắp
nhằm tăng cường hiệu lực quản trị chi phí
tại Công ty Cổ phần Kinh doanh vật tư và
Xây dựng LỜI MỞ ĐẦU Trong nền kinh tế kế hoạch hoá tập trung, các doanh nghiệp hoạt động theo chỉ tiêu
pháp lệnh, vật tư, tiền vốn do cấp trên cấp, giá thành là giá thành kế hoạch định sẵn. Vì
vậy, việc xác định hiệu quả sản xuất thông qua công tác kế toán chi phí sản xuất và tính
giá thành sản phẩm chỉ mang tính hình thức. Tuy nhiên, tới những năm đầu những năm
90, khi kinh tế nước ta từng bước chuyển mình sang nền kinh tế thị trường phát triển

Phần 3: Đánh giá thực trạng và phương hướng hoàn thiện công tác kế toán chi
phí sản xuất và tính giá thành sản phẩm xây lắp tại công ty cổ phần Kinh doanh
vật tư và xây dựng

Phần 1: TỔNG QUAN VỀ CÔNG TY CỔ PHẦN KINH DOANH VẬT TƯ VÀ
XÂY DỰNG.
1.1. Lịch sử hình thành và phát triển Công ty Cổ phần Kinh doanh vật tư và Xây
dựng
1.1.1. Đặc điểm chung
Tên công ty: CÔNG TYCỔ PHẦN KINH DOANH VẬT TƯ VÀ XÂY DỰNG
Tên giao dịch: Material trading and construction joint stock company
Tên viết tắt: CMC

vài công trình với quy mô nhỏ. Tuy nhiên sau hơn hai mươi năm xây dựng và trưởng
thành, Công ty Cổ phần Kinh doanh vật tư và Xây dựng đã ngày càng khẳng định vị thế
của mình trên thị trường trong và ngoài nước, công ty đã thực hiện cung ứng vật tư và
thi công nhiều công trình trên mọi lĩnh vực của đời sống kinh tế xã hội, đồng thời cũng
đạt được những bước tiến vượt bậc trên mọi mặt. Ban đầu công ty chỉ tập trung vào thị
trường xây dựng ở Hà Nội và một vài tỉnh lân cận, thì nay, công ty đã mở rộng thị
trường khắp cả nước. Không chỉ mở rộng quy mô sản xuất, tăng số lượng các công
trình, hạng mục công trình thi công, công ty còn không ngừng tăng chất lượng các công
trình đảm bảo đầy đủ các yêu cầu về kỹ thuật, mang tính thẩm mỹ cao, được khách hàng
tín nhiệm.
Công ty Cổ phần Kinh doanh vật tư và Xây dựng đã xây dựng được một truyền thống
vẻ vang, là một trong những đơn vị kinh doanh vật tư và xây dựng hàng đầu của thành
phố, với nhiều công trình đạt chất lượng cao, được Đảng và Nhà nước phong tặng danh
hiệu huân huy chương cao quý, cờ thi đua của Chính phủ, huy chương vàng ngành xây
dựng của Bộ Xây dựng… Với bề dầy thành tích đạt được, công ty đã khẳng định được
uy tín của một doanh nghiệp có đủ năng lực, trình độ chuyên môn kỹ thuật và quản lý,
vững vàng trong cơ chế thị trường.
1.2. Đặc điểm sản xuất kinh doanh và tổ chức bộ máy quản lý
1.2.1. Đặc điểm sản xuất kinh doanh
1.2.1.1. Ngành nghề kinh doanh
Mang đặc trưng của một doanh nghiệp xây dựng, công ty nhận cung ứng vật tư và thi
công, xây lắp các công trình dân dụng, giao thông đô thị, thủy lợi, bưu điện, thể dục thể thao, các khu vui chơi giải trí, các khu dân cư, đô thị mới…Bên cạnh đó, với mục tiêu
phát triển ổn định và bền vững, công ty thực hiện chủ trương đa ngành đa nghề trong đó
xác định việc đầu tư vào các lĩnh vực thiết yếu của nền kinh tế là chiến lược hàng đầu
cho sự phát triển. Đến nay, công ty với 1 chi nhánh và 8 xí nghiệp, xưởng cơ khí và vận
tải đã tham gia hoạt động trong nhiều lĩnh vực. Cụ thể:
- Sản xuất và kinh doanh bê tông thương phẩm, bê tông cấu kiện, vật tư và các

không tổ chức công tác hạch toán kế toán riêng. Phương thức này mở rộng quyền tự chủ
của các Xí nghiệp về hạch toán kinh doanh, tạo vốn, lựa chọn phương thức quản lý, tổ
chức lao động hợp lý và phát huy khả năng sẵn có trên các mặt. Đây là một phương
thức quản lý mới, thích hợp với cơ chế thị trường. Sau khi được giao khoán, Xí nghiệp
phải tổ chức tốt công tác ghi chép ban đầu và luân chuyển chứng từ nhằm phản ánh đầy
đủ khách quan, chính xác mọi hoạt động kinh tế phát sinh tại cơ sở, phục vụ cho công
tác kế toán trên công ty. Giám đốc Xí nghiệp cùng chủ nhiệm công trình, cán bộ kinh tế
kỹ thuật, và kỹ thuật viên do công ty cử xuống giám sát sẽ lên kế hoạch và tổ chức thi
công các công trình xây lắp được giao.
1.2.1.3. Quy trình công nghệ sản xuất
Do chức năng chủ yếu của công ty là kinh doanh vật tư và thi công các công trình xây
dựng nên quy trình công nghệ của công ty cũng chia ra làm hai lĩnh vực cụ thể là kinh
doanh vật tư và xây dựng.
Với kinh doanh vật tư

Bi
ểu 1.1: Quy trình sản xuất bê tông th
ương ph
ẩm

Phụ gia

Xi măng
Yêu c
ầu cung cấp
bê tông của KH

Mua đá, cát, xi măng,
ph
ụ gia

Nhập kho, bãi
Đá Cát Phụ gia
Xi măng,

ớcthử
nghiệm
chỉnh
cấp phối
trước
khi sản
xuất
C
ấp, b
ơm bê
tông


Với hoạt động xây dựng

Biểu 1.2: Quy trình sản xuất sản phẩm xây lắp
Công ty sẽ đại diện cho Xí nghiệp khi tham gia các quan hệ kinh tế và chịu toàn bộ
trách nhiệm với bên đối tác về chất lượng cũng như tiến độ thi công của công trình. Ban
đầu, công ty sẽ tìm hiểu nhu cầu xây lắp của các bộ, ngành, tỉnh, thành phố, tiếp nhận
các giấy mời đấu thầu. Sau đó, xem xét khả năng thực có của công ty về vốn, lao động,
thiết bị, đánh giá khả năng của các đơn vị khác cũng tham gia thầu để xác định khả năng
Tìm hiểu thị trường xây lắp
Đấu thầu và ký kết hợp đồng nhận thầu
Lập kế hoạch chuẩn bị thi công
Tổ chức thi công
Nghiệm thu bàn giao công trình cho chủ đầu tư trúng thầu. Nếu khả năng trúng thầu là cao, công ty sẽ mua hồ sơ thầu và tham gia đấu
thầu. Sau khi thắng thầu, công ty sẽ ký hợp đồng với chủ đầu tư nhận thầu công trình.
Tiếp đó, phòng Kế hoạch - Kỹ thuật cùng đội thi công sẽ lên kế hoạch và biện pháp thi
công thực tế đảm bảo tiến độ, chất lượng công trình đáp ứng yêu cầu của chủ đầu tư. Từ
đây, toàn bộ công việc đều giao cho các Xí nghiệp thực hiện. Quá trình thi công gồm ba
bước cơ bản là chuẩn bị thi công, thi công phần thô và hoàn thiện. Nếu bên chủ đầu tư
chấp nhận, công ty sẽ tiến hành nghiệm thu và bàn giao công trình theo Nghị định
17/BXD-TC của Bộ Xây dựng

Hội đồng
quản trị

Ban kiểm
soát

Phó giám
đốc

Giám đốc
Phó giám
đốc

Kế toán
trưởng

Ban dự án

Phòng Tổ chức
hành chính
-
TTBV

Phòng Kế hoạch
-

Kỹ thuật

Phòng Kế toán tài
chính


Xí nghiệp sản
xuất VLXD số
1
Hội đồng quản trị: Là cơ quan quản lý công ty, có quyền nhân danh công ty để quyết
định mọi việc liên quan đến mục đích, quyền lợi như chiến lược phát triển, phương án
đầu tư kinh doanh cũng như việc sắp xếp nhân sự của công ty.
Ban kiểm soát: Kiểm tra tính hợp lý, hợp pháp trong quản lý, điều hành các hoạt động
kinh doanh của đơn vị, có mối liên hệ tham vấn thường xuyên với Hội đồng quản trị và
thẩm định các báo cáo tài chính trước khi thuyết minh lên cấp trên
Giám đốc: Do Hội đồng quản trị bổ nhiệm, trực tiếp điều hành hoạt động hàng ngày
của công ty, là đại diện pháp nhân của công ty trước pháp luật, chịu trách nhiệm trước
Nhà nước và cấp trên về việc điều hành hoạt động của đơn vị mình đi đôi với đại diện
cho quyền lợi của cán bộ công nhân viên trong công ty
Phó giám đốc: Công ty có hai phó giám đốc, một Phó giám đốc xe máy thiết bị và một
Phó giám đốc kỹ thuật thi công. Các Phó giám đốc trợ giúp Giám đốc điều hành công ty
theo sự phân công, ủy nhiệm của Giám đốc, đồng thời giúp Giám đốc định hướng,
hoạch định các chiến lược phát triển công ty
Bộ máy quản lý bao gồm 4 phòng ban, mỗi phòng có chức năng nhiệm vụ riêng biệt
Phòng Tổ chức hành chính - Thanh tra bảo vệ: Là phòng tổng hợp có chức năng tham
mưu, giúp việc cho Giám đốc trong các lĩnh vực như tổ chức bộ máy sản xuất kinh
doanh, bố trí nhân sự, quản lý hồ sơ lý lịch cán bộ công nhân viên, quản lý lao động tiền
lương, quản lý công văn giấy tờ, sổ sách hành chính và con dấu, thực hiện công tác bảo
vệ.
Phòng Kế hoạch - Kỹ thuật: Là bộ phận tham mưu giúp việc trực tiếp cho Ban giám
đốc công ty trong việc chỉ đạo điều hành toàn bộ hoạt động sản xuất kinh doanh trong
công ty có kế hoạch và hiệu quả, đồng thời theo dõi việc thực hiện các hợp đồng kinh

88.887.553.016

126.932.850.983

3. Tài sản cố định 9.594.762.762

7.225.833.519

11.835.824.250

4. Vốn chủ sở hữu 11.712.101.421

13.783.403.872

16.461.247.765

5. L
ợi nhuận tr
ư
ớc thuế

2.358.766.001

3.383.223.974

4.395.909.421

6. Lợi nhuận sau thuế 2.358.766.001

2.931.103.498

sau thuế năm 2006 tăng so với năm 2005 là 572.337.497 (tương ứng với 24,26%), năm 2007 tăng so với năm 2006 là 881.190.399 (tương ứng với 30.06%). Tốc độ tăng của lợi
nhuận sau thuế năm 2006 giảm sút nhiều so với tốc độ tăng của lợi nhuận trước thuế
năm 2006 là do cuối tháng 12/2003 công ty chuyển đổi sang mô hình công ty cổ phần,
vì vậy theo quyết định thành lập công ty cổ phần mới, 2 năm đầu hoạt động sản xuất
(năm 2004 và 2005) công ty không phải nộp thuế thu nhập doanh nghiệp, 2 năm tiếp
theo (năm 2006 và 2007) nộp 50% thuế thu nhập doanh nghiệp, điều này được thể hiện
trong Báo cáo kết quả hoạt động kinh doanh năm 2005, 2006, 2007
Đây là những dấu hiệu tốt chứng tỏ tình hình tài chính của công ty là rất khả quan,
trong những năm tới, công ty cần cố gắng duy trì sự ổn định về kinh tế đạt được trong
các năm qua, đồng thời phát huy hơn nữa tiềm năng sẵn có cả về vật lực lẫn nhân lực,
kết hợp các điều kiện khách quan để đưa hình ảnh của công ty vượt ra khỏi thị trường
trong nước vươn tới thị trường quốc tế trong một tương lai gần.
Phương hướng phát triển của công ty trong thời gian tới
 Lĩnh vực kinh doanh vật tư chủ yếu của công ty là cung cấp bê tông thương
phẩm, với hai sản phẩm là bê tông ORU và bê tông C45. Trong những năm tới, công ty
sẽ tăng cường đầu tư về cơ sở sản xuất và nguồn lực cho lĩnh vực này: Đầu tư thêm các
trạm trộn hiện đại với công suất từ 90m
3
/h đến 120m
3
/h, mua sắm thêm xe bơm bê tông,
xe vận chuyển bê tông, máy phát điện và các thiết bị phụ trợ khác để nâng sản lượng
hàng năm từ 100.000m
3
đến 150.000m
3


Do đặc điểm của công ty là kinh doanh vật tư và xây dựng có quy mô tương đối lớn,
địa bàn hoạt động rộng nên bộ máy kế toán được tổ chức theo hình thức tập trung, có
nghĩa là một phòng kế toán trung tâm tại công ty và các kế toán viên ở các Xí nghiệp
phụ thuộc không tổ chức công tác kế toán riêng
Phòng kế toán trung tâm thực hiện hạch toán kế toán có tính chất toàn công ty, tổng
hợp tài liệu kế toán từ các Xí nghiệp cơ sở và của toàn công ty, lập báo cáo tài chính,
hướng dẫn việc kiểm tra toàn bộ công tác kế toán toàn công ty đồng thời có nhiệm vụ
báo cáo tình hình thực hiện các chỉ tiêu kinh tế tài chính với Ban giám đốc và các cơ
quan chức năng
Các Xí nghiệp phụ thuộc không tổ chức bộ máy kế toán đầy đủ như ở công ty mà chỉ
có các kế toán viên. Các kế toán viên Xí nghiệp thực hiên công tác kế toán thuộc phạm vi hoạt động của đơn vị mình theo sự phân công của phòng kế toán trung tâm, thực hiện
ghi chép ban đầu, thu thập, tổng hợp, kiểm tra xử lý sơ bộ chứng từ, số liệu kế toán. Sau
đó, định kỳ các chứng từ kế toán đó sẽ được chuyển về phòng kế toán công ty để tổng
hợp hạch toán và lên báo cáo kế toán của toàn công ty.
 Phân công lao động kế toán trong đơn vị

Biểu 1.5: Bộ máy kế toán
Phòng kế toán có 7 người giữ các chức năng và nhiệm vụ cụ thể sau
Đứng đầu là Kế toán trưởng, là người được đào tạo về chuyên ngành kế toán tài chính,
có kinh ngiệm công tác và được bồi dưỡng chương trình kế toán trưởng. Kế toán trưởng
có nhiệm vụ chỉ đạo thực hiện toàn bộ công tác kế toán của công ty, chịu trách nhiệm
tham mưu cho các bộ phận chức năng và cho Ban giám đốc về công tác tài chính, các
biện pháp nhằm năng cao hiệu quả sản xuất kinh doanh
Kế toán tổng hợp: Là người chịu trách nhiệm về công tách hạch toán của công ty, trực
tiếp kiểm tra và giám sát quá trình thu nhận, xử lý và cung cấp thông tin cho đối tượng
liên quan. Kế toán tổng hợp tập hợp chi phí sản xuất và tính giá thành sản phẩm hoàn
Trưởng phòng

Kế toán viên tại các xí nghiệp thành, hạch toán một số phần hành như đầu tư tài chính, thuế… Định kỳ, kế toán tổng
hợp lập báo cáo tài chính và các báo cáo đột xuất theo yêu cầu quản trị
Kế toán tiền mặt, tiền gửi ngân hàng: Có nhiệm vụ lập các Phiếu thu, Phiếu chi, ghi sổ
theo dõi số tiền mặt tại quỹ của công ty trên cơ sở các Lệnh thu, chi tiền mặt và các Hóa
đơn liên quan, đồng thời thực hiện theo dõi các khoản tiền gửi. Khi nhận được các
chứng từ của ngân hàng như Giấy báo Có, Giấy báo Nợ hoặc các Bản sao kê, kế toán
phải đối chiếu với chứng từ gốc đính kèm, thông báo với ngân hàng để đối chiếu xác
minh và xử lý các khoản chênh lệch nếu có
Kế toán tiền lương và vật tư: Căn cứ vào các Phiếu nhập xuất vật tư, Bảng phân bổ vật
tư do kế toán Xí nghiệp gửi lên để theo dõi, đối chiếu với định mức dự toán của từng
công trình và lập Bảng phân bổ nguyên vật liệu, công cụ dụng cụ toàn công ty. Đồng
thời, kế toán căn cứ vào Bảng chấm công, Biên bản nghiệm thu khối lượng công việc
hoàn thành, Bảng thanh toán khối lượng thuê ngoài… của các Xí nghiệp, phòng ban tiến
hành tính và thanh toán lương cho công nhân và cán bộ trong, ngoài công ty, tính toán
các khoản tiền trích theo lương cho lao động thuộc biên chế công ty theo chế độ Nhà
nước quy định
Kế toán tài sản cố định (TSCĐ): Phản ánh số hiện có, tình hình biến động tăng, giảm
của TSCĐ, tình hình sử dụng, sửa chữa TSCĐ của công ty.
Kế toán thanh toán: Có nhiệm vụ theo dõi tình hình công nợ, thanh toán của công ty
với các đơn vị khác, theo dõi các khoản tiền vay Ngân hàng, viết Ủy nhiệm chi, Ủy
nhiệm thu… để thực hiện các khoản thanh toán với khách nợ và chủ nợ.
Thủ quỹ: Có nhiệm vụ theo dõi, quản lý tiền mặt, kịp thời cáo cáo tình hình thu chi và
xác định số tiền còn tồn quỹ cuối ngày
1.3.2. Hình thức kế toán và đặc điểm các phần hành
1.3.2.1. Hình thức kế toán
Công ty cổ phần Kinh doanh vật tư và xây dựng hiện nay đang thực hiện chế độ kế
toán theo quyết định số 15/2006/QĐ-BTC ban hành ngày 20/3/2006 và theo quyết định

Sổ tổng hợp: Nhật ký chung và sổ cái các tài khoản
Sổ chi tiết: Tùy theo từng loại sổ mà có các cách chi tiết khác nhau, nó phụ thuộc vào
yêu cầu quản lý của công ty,
Biểu 1.6: Ghi sổ theo hình thức Nhật ký chung
Ghi chú:
: ghi hàng ngày
: ghi cuối tháng
: đối chiếu
Hiện tại ở công ty có sử dụng phần mềm New Accounting hỗ trợ hạch toán kế toán
.
Biểu 1.7: Quy trình phần mềm kế toán
Chứng từ ban đầu

Nhập dữ liệu vào máy tính
Xử lý tự động theo ch
ươ
ng trì
nh

Sổ

nh
ật ký
chung
Sổ

kế

Hiện nay, công ty lập 3 loại báo cáo: Bảng cân đối kế toán, Báo cáo kết quả hoạt động
kinh doanh và Thuyết minh báo cáo tài chính. Vì thời gian thi công một công trình
tương đối dài nên các báo cáo này được kế toán tổng hợp và lập một năm một lần. Các
báo cáo đều được phòng Kế toán tài chính tổng hợp lại trình lên Ban giám đốc công ty
và gửi tới các cơ quan hữu quan
Bảng cân đối kế toán phản ánh tổng quát tình hình tài sản của công ty theo giá trị tài
sản và nguồn hình thành tài sản tại thời điểm cuối năm, được lập căn cứ vào số dư trên
các sổ kế toán tổng hợp, sổ kế toán chi tiết, Bảng cân đối tài khoản, Bảng cân đối kế
toán cuối kỳ trước.
Báo cáo kết quả hoạt động kinh doanh: Phản ánh tóm lược các khoản thu, chi phí và
kết quả kinh doanh của công ty trong một kỳ kinh doanh, bao gồm kết quả hoạt động
kinh doanh (hoạt động sản xuất kinh doanh và hoạt động tài chính) và hoạt động khác,
được lập dựa trên Báo cáo kết quả hoạt động kinh doanh kỳ trước và sổ kế toán trong kỳ
của các tài khoản từ loại 5 đến loại 9 kỳ này
Thuyết minh báo cáo tài chính: Dùng để thuyết minh và giải trình bằng lời, bằng số
liệu một số chỉ tiêu kinh tế tài chính chưa được thể hiện trên báo cáo tài chính, cung cấp
thông tin bổ sung cần thiết cho việc đánh giá kết quả kinh doanh của công ty trong năm
báo cáo được chính xác. Thuyết minh báo cáo tài chính được lập trên căn cứ là các sổ
kế toán kỳ báo cáo, Bảng cân đối kế toán, Báo cáo kết quả hoạt động kinh doanh kỳ báo
cáo và Thuyết minh báo cáo tài chính kỳ trước.
Tất cả các loại báo cáo này đều được máy tính tự động chuyển số liệu và lên báo cáo
khi có yêu cầu
Ngoài ra, công ty còn lập thêm một số báo cáo chi tiết khác nhằm phục vụ cho việc
quản trị nội bộ như Báo cáo quản trị về công nợ, về tài chính, về chi phí sản xuất…Các
báo cáo này sẽ được lập khi có đề nghị của Ban giám đốc. Nhìn chung, mọi đặc điểm tổ chức công tác kế toán của công ty đều tuân thủ theo quy
định chế độ kế toán hiện nay, chỉ trừ một vài điểm khác biệt để phù hợp với tình hình cụ
thể của công ty.

 Hạch toán vật liệu và công cụ
Căn cứ vào vai trò và tác dụng của vật liệu trong sản xuất, công ty chia vật liệu thành
hai loại chính là nguyên vật liệu chính (gồm nguyên vật liệu mà sau quá trình sản xuất
sẽ cấu thành nên thực thể vật chất chủ yếu của sản phẩm) và vật liệu phụ (gồm những
vật liệu còn lại, có tác dụng phụ trợ trong sản xuất, phục vụ lao động quản lý, hoặc để
cung cấp nhiệt lượng)
Việc hạch toán qua kho nguyên vật liệu chỉ được sử dụng cho công tác sản xuất bê
tông thương phẩm còn với sản phẩm xây lắp vật liệu sử dụng thường được cung cấp
theo hình thức mua vận chuyển thẳng. Khi hạch toán vật liệu kế toán tiền lương và vật
tư sử dụng TK 152, chi tiết thành TK 1521: Nguyên vật liệu chính và TK 1522: Vật liệu
phụ
Công cụ, dụng cụ của công ty cũng bao gồm nhiều loại khác nhau, được sử dụng cho
mục đích sản xuất, chế tạo sản phẩm, gồm: Giàn giáo, ván khuôn…Tuy nhiên khi hạch
toán công ty chỉ sử dụng TK 153 mà không thực hiện chi tiết riêng cho từng loại
Chứng từ sử dụng trong hạch toán vật liệu bao gồm: Hóa đơn bán hàng, Giấy đề nghị
tạm ứng, Phiếu chi, Phiếu nhập kho, Phiếu xuất kho, Biên bản kiểm nghiệm vật tư, công
cụ, sản phẩm, hàng hóa, Biên bản kiểm kê vật tư, công cụ, sản phẩm, hàng hóa….
Khi mua ngoài vật liệu, dụng cụ, giá ghi sổ là giá thực tế, còn khi tính giá xuất kho
cho sản xuất bê tông thương phẩm, công ty sử dụng nhất quán theo phương pháp giá
thực tế đích danh, do hoạt động sản xuất bê tông không nhiều và loại vật liệu có tính
tách biệt và nhận diện được
Phương pháp hạch toán chi tiết vật liệu dụng cụ là phương pháp sổ số dư, từ Phiếu
nhập kho, xuất kho, Thủ kho tiến hành ghi Thẻ kho, đồng thời lập Phiếu giao nhận
chứng từ và nộp cho kế toán kèm theo các chứng từ nhập, xuất. Ngoài ra, Thủ kho còn
phải ghi số lượng vật liệu, dụng cụ tồn kho cuối tháng theo từng danh điểm vào sổ số
dư. Khi nhận được chứng từ, kế toán kiểm tra chứng từ, tổng cộng số tiền và ghi vào cột
số tiền trên Phiếu giao nhận chứng từ. Đồng thời, ghi số tiền vừa tính vào Bảng lũy kế nhập, xuất, tồn. Tiếp đó, cộng số tiền nhập, xuất trong tháng và dựa vào số dư đầu tháng

nhập-
xuất-
tồn
Kế
toán
tổng
hợp TSCĐ vô hình: là TSCĐ không mang hình thái vật chất cụ thể, gồm: Quyền sử dụng
đất, thương hiệu, bản quyền, bằng sáng chế…
Khi hạch toán TSCĐ, công ty thực hiện thông qua TK 211 với TSCĐ hữu hình, và TK
213 với TSCĐ vô hình. TK 211, 213 được chi tiết tới tài khoản cấp 3. Ví dụ: TK 2112-
TEKA: xe bơm bê tông TEKA, đồng thời công ty sử dụng TK 214 để hạch toán hao
mòn TSCĐ, tài khoản này cũng được chi tiết tới tài khoản cấp 3 để tương ứng với các
tài khoản chi tiết của TK 211, 213
TSCĐ của công ty chủ yếu hình thành do 2 nguồn là do Tổng công ty Xây dựng Hà
Nội cấp và do mua sắm. Khi hạch toán TSCĐ, công ty sử dụng các chứng từ sau: Biên
bản giao nhận TSCĐ, Biên bản thanh lý TSCĐ, Biên bản kiểm kê TSCĐ, Bảng tính và
phân bổ khấu hao TSCĐ…
Trên phòng kế toán công ty, mỗi khi có TSCĐ tăng thêm, công ty đều thành lập Hội
đồng giao nhận, trong đó có đại diện bên giao, đại diện bên nhận và một số ủy viên để
thực hiện nghiệm thu, kiểm nhận TSCĐ, đồng thời lập Biên bản giao nhận TSCĐ. Với
mỗi đối tượng TSCĐ, phòng Kế toán tài chính đều lập một hồ sơ riêng. Hồ sơ bao gồm:
Biên bản giao nhận TSCĐ, các bản sao tài liệu kỹ thuật, các hóa đơn, Giấy vận chuyển
bốc dỡ. Căn cứ vào hồ sơ, kế toán TSCĐ mở Thẻ TSCĐ để theo dõi chi tiết TSCĐ của
đơn vị. Thẻ này được lập cho từng đối tượng TSCĐ phản ánh các chỉ tiêu chung,
nguyên giá, phụ tùng kèm theo. Thẻ TSCĐ được xếp theo nhóm TSCĐ, theo đơn vị sử
dụng, và theo số hiệu tài sản. Khi thực hiện thanh lý TSCĐ, công ty cũng thành lập Hội
đồng thanh lý, thực hiện đánh giá lại giá trị của TSCĐ, lập Biên bản thanh lý TSCĐ. Kế

Thẻ TSCĐ hoặc
hủy thẻ TSCĐ
Sổ chi tiết TSCĐ

Sổ tổng hợp chi tiết TSCĐ
Chứng từ tăng
,
giảm TSCĐ


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status