LUẬN VĂN: Giải pháp phát triển hoạt động huy động vốn tại Ngân hàng thương mại cổ phần quốc tế Việt nam pot - Pdf 11



z

LUẬN VĂN:
Giải pháp phát triển hoạt động huy
động vốn tại Ngân hàng thương mại cổ
phần quốc tế Việt nam
Lời mở đầu

Qua gần 15 năm đổi mới nền kinh tế nước ta đó đạt được nhiều thành tựu nổi
bật trong phát triển kinh tế,có được sự ổn định và có tốc độ tăng trưởng cao. Hệ thống
ngân hàng đó dần hội nhập vào cộng đồng tài chính quốc tế và có mối quan hệ hợp tác


Chương 1 Hoạt động huy động vốn của Ngân hàng thương mại

1.1. Ngân hàng thương mại
1.1.1. Khái niệm về Ngân hàng thương mại .
Để đưa ra được một định nghĩa về Ngân hàng thương mại , người ta thường phải
dựa vào tính chất và mục đích hoạt động của nó trên thị trường tài chính và đôi khi còn
kết hợp tính chất , mục đích và đối tượng hoạt động. Có nhiều khái niệm khác nhau về Ngân hàng thương mại như:
Tại Pháp: Ngân hàng thương mại là những xí nghiệp hay cơ sở nào thường xuyên
nhận của công chúng dưới hình thức tiền gửi hay các hình thức khác các số tiền mà họ
dùng cho chính họ vào nghiệp vụ chiết khấu , tín dụng hay dịch vụ tài chính.
Tại Mỹ: Ngân hàng thương mại là một công ty kinh doanh chuyên cung cấp dịch

thể, được thành lập bằng vốn đóng góp của các thành viên và cho các thành viên vay (ở
Việt Nam gọi là Quỹ tín dụng nhân dân).
 Theo quốc tịch :
+ Ngân hàng thương mại bản xứ: là Ngân hàng thương mại được hình thành từ
nguồn vốn trong nước.
+ Ngân hàng thương mại nước ngoài: là Ngân hàng thương mại mà vốn thành lập
là cuả các cá nhân , tổ chức ở nước ngoài.

1.1.3 Hoạt động chủ yếu của Ngân hàng thương mại .
Trong nền kinh tế thị trường , hoạt động của các Ngân hàng thương mại rất phong
phú và đa dạng. Tuy vậy, chúng ta có thể nghiên cứu các nghiệp vụ của chúng dưới 3
nghiệp vụ cơ bản là huy động vốn , sử dụng vốn và nghiệp vụ trung gian .Trong phần
này , chúng ta sẽ bàn luận một cách cơ bản về ba hoạt động này còn ở phần sau chúng
ta sẽ đi vào chi tiết hơn.
1.1.3.1 Huy động vốn :
Đây là một nghiệp vụ có vai trò hết sức quan trọng đối với các Ngân hàng thương
mại bởi vì mục đích của nghiệp vụ này là huy động vốn kinh doanh cho các Ngân hàng
thương mại .
 Huy động vốn Nợ một cách bị động:
Mở tài khoản tiền gửi thanh toán cho khách hàng ; huy động các khoản tiền gửi có
kỳ hạn , không kỳ hạn của các tổ chức kinh tế , dân cư.  Huy động vốn Nợ chủ động :
Phát hành kỳ phiếu có mục đích , trái phiếu ngân hàng ; đi vay từ các ngân hàng ,
các tổ chức tín dụng khác ; đi vay ngân hàng Trung ương.
 Vốn chủ sở hữu :
Bao gồm vốn ban đầu và vốn bổ sung trong quá trình hoạt động.
 Vốn khác: thu từ các nguồn uỷ thác , nguồn trong thanh toán …
1.1.3.2. Sử dụng vốn :

chủ yếu: Trực tiếp từ người vay -qua việc mua các trái phiếu- bằng việc mua "những
khoản đóng góp" trong các khoản cho vay có nguồn gốc từ các ngân hàng khác và
bằng việc mua các phiếu từ người bán thương phiếu . Cho đến nay , những khoản cho
vay có số lượng nhiều nhất được thực hiện trực tiếp với người xin vay tại trụ sở ngân
hàng thuộc về loại này là những khoản cho vay để mua thẻ tín dụng tại ngân hàng
.nhiều ngân hàng có một tỷ lệ lớn khoản mục cho vay bằng cách mua tín phiếu từ
những người buôn các sản phẩm khác nhau .Một nguồn tiền cho vay cuối cùng kém
quan trọng hơn là việc mua các thương phiếu và các hối phiếu chấp nhận thanh toán của
ngân hàng .
* Đầu tư
Trong việc sử dụng vốn của ngân hàng thì một nghiệp vụ không kém phần quan
trọng so với nghiệp vụ cho vay là đầu tư . Các Ngân hàng thương mại có thể đầu tư
theo 2 hình thức chủ yếu dưới đây:
- Đầu tư vào mua bán kinh doanh các chứng khoán hoặc đầu tư góp vốn vào các
doanh nghiệp , các công ty khác.
- Đầu tư vào trang thiết bị tài sản cố định phục vụ cho hoạt động kinh doanh của
ngân hàng .
1.1.3.3. Các hoạt động trung gian Là hoạt động của ngân hàng thực hiện các dịch vụ cho khách hàng thông qua đó
ngân hàng sẽ thu được phí dịch vụ hay tiền hoa hồng . Hiện nay, các Ngân hàng thương
mại cung cấp cho khách hàng các dịch vụ như:
* Dịch vụ thanh toán hộ
Trên cơ sở khách hàng gửi tiền và mở tài khoản giao dịch tại ngân hàng, ngân
hàng có thể đứng ra thanh toán hộ cho khách hàng về các khoản tiền mua bán , dịch vụ
thông qua việc thu hộ , chi hộ khách hàng bằng các hình thức như ; séc , uỷ nhiệm thu ,
uỷ nhiệm chi …
Vốn tự có bao gồm
- Vốn tự có ban đầu
Đây chính là số vốn ban đầu khi ngân hàng thành lập .Trong vốn tự có thì vốn tự
có ban đầu chỉ chiếm một tỷ lệ nhỏ nhưng nó là điều kiện pháp lý bắt buộc khi bắt đầu
thành lập một ngân hàng .
Nguồn vốn này được hình thành từ
Vốn của cá nhân nếu là Ngân hàng thương mại tư nhân
Vốn do ngân sách nhà nước cấp nếu là Ngân hàng thương mại Quốc doanh
Vốn hình thành từ việc bán cổ phần , cổ phiếu nếu là Ngân hàng thương mại cổ
phần .
Nếu như là Ngân hàng thương mại liên doanh thì vốn ban đầu là do các bên góp
vốn.
- Vốn tự có bổ xung trong quá trình hoạt động
Vốn được cấp thêm , bán thêm cổ phần , cổ phiếu , góp thêm . Tuy thế , sự bổ
xung này mang tính chất không thường xuyên .
Bổ xung từ lợi nhuận. Sự bổ xung này mang tính chất thường xuyên và chiếm
lượng lớn nhất trong vốn tự có của Ngân hàng thương mại . Quỹ khen thưởng, phúc lợi, khuyến khích…
Quỹ dự phòng rủi ro: Quy mô của loại vốn tự có này giữa các ngân hàng là khác
nhau do mỗi ngân hàng có một cơ chế trích quỹ khác nhau.
Quỹ thặng dư vốn : Đây là phần vốn do chênh lệch đánh giá lại tài sản mang lại
.Do đó nó phụ thuộc vào khả năng đầu cơ của mỗi một Ngân hàng thương mại .
Qua các nguồn hình thành nên vốn tự có của một Ngân hàng thương mại đã sẽ cập
ở trên đây , chúng ta thấy vốn tự có mang những đặc điểm sau:
Không hoàn lại : Điều này là do vốn tự có của ngân hàng chủ yếu được sử dụng
để tài trợ cho TSCĐ , công nghệ của ngân hàng , thành lập chi nhánh…Chính vì vậy ,
vốn tự có giúp cho ngân hàng mở rộng quy mô hoạt động của mình
Nhỏ: Vốn tự có của ngân hàng chiếm tỷ trọng thấp trong tổng nguồn vốn . Thông

của tiền gửi tiết kiệm là loại tiền gửi tiết kiệm có sổ. Ngoài ra , còn có những loại hình
tiền gửi tiết kiệm phổ biến khác chẳng hạn như: chứng chỉ tiết kiệm , trái phiếu tiết
kiệm…
- Vay của NHTƯ và của các tổ chức tín dụng khác
Bất kỳ Ngân hàng thương mại nào khi được NHTƯ cho phép thành lập và hoạt
động đều được hưởng quyền vay tiền tại NHTƯ trong trường hợp thiếu hụt dự trữ bắt
buộc hoặc là thiếu tiền mặt đáp ứng nhu cầu thanh toán . Hình thức này đựoc gọi là vay
qua “ của sổ chiết khấu”.
Ngân hàng thương mại cũng có thể huy động vốn bằng cách vay của các tổ chức
tín dụng khác. Cụ thể là có thể vay ngắn hạn dự trữ bắt buộc của các Ngân hàng thương
mại khác tại NHTƯ. Ngoài ra , Ngân hàng thương mại cũng có thể vay vốn từ các ngân
hàng khác bằng việc mời họ tham gia hình thức cho vay đồng tài trợ cho các dự án phục
vụ đời sống , sản xuất kinh doanh .
- Phát hành kỳ phiếu có mục đích , trái phiếu và các loại giấy tờ có giá khác
Kỳ phiếu có mục đích được hiểu là một loại giấy nhận nợ do ngân hàng phát hành
nhằm huy động vốn có mục đích , có kỳ hạn rõ ràng. Trái phiếu là một loại giấy nhận
nợ của ngân hàng với những khách hàng của mình. Trái phiếu khác với kỳ phiếu có mục đích ở chỗ : kỳ phiếu có mục đích thường được sử dụng linh hoạt còn trái phiéu
thường được phát hành với quy mô lớn và đồng loạt hơn trong cả hệ thống ngân hàng .
Các nguồn vốn khác: Uỷ thác , nguồn trong thanh toán , khoản phải trả khác, tạm
giữ , ký quỹ…
Như vậy , qua sự tìm hiểu về các loại nguồn vốn của Ngân hàng thương mại nói
trên , chúng ta có thể thấy được rõ ràng rằng vốn huy động chiếm một vị trí rất lớn
trong tổng nguồn vốn cuả một Ngân hàng thương mại .

1.2.2. Chính sách huy động vốn của Ngân hàng thưong mại
1.2.2.1 Nội dung chính sách huy động vốn
* Chớnh sỏch lói suất cạnh tranh

dịch vụ, đặc biệt các dịch vụ về chuyên môn ngân hàng sẽ không được đa dạng, được
đổi để ngày càng tốt hơn, trừ khi ngân hàng luôn áp dụng những công nghệ ngân hàng
tiên tiến. * Chính sách cán bộ
Ngày nay, khụng một ai cú thể phủ nhận vai trũ to lớn của ngành quảng
cỏo.Trong hoạt động ngân hàng hiện đại, quảng cáo được đề cao và cần một chi phí
ngân hàng.
* Chính sách quảng cáo
Ngày nay, không một ai có thể phủ nhận vai trò to lớn của ngành quảng cáo.
Trong hoạt động ngân hàng hiện đại, quảng cáo được đề cao và cần một chi phí ngân
hàng.
* Chính sách về cho vay
Cho vay có hiệu quả, tạo khả năng bảo toàn vốn và phát triển vốn đồng thời tạo
khả năng huy động vốn trong tương lai. Tuy nhiên việc mở rộng cho vay cần phải có
nhiều biện pháp nhằm hạn chế tối đa mức rủi ro tín dụng. 1.2.2.2 Cỏc hỡnh thức huy động vốn của ngân hàng thương mại trong nền kinh
tế thị trường
Bộ phận chủ yếu nhất trong tổng nguồn vốn của Ngân hàng là vốn huy động.
Căn cứ vào một số tiêu thức, người ta chia nghiệp vụ huy động vốn thành các hỡnh
thức huy động theo sơ đồ sau:

có kỳ
hạn
ti
ền
gửi
tiết
kiệm
phát
hành
kỳ
phiếu
ngân
hàng
phát
hành
trái
phiếu
ngân
hàng
Vay
ngân
hàng
Vay
các
tài
chính
tín
dụng
khác
không

Có hai loại tài khoản tiền gửi của khách hàng ở Ngân hàng là: Tài khoản tiền gửi
giữ hộ và tài khoản đảm bảo khả năng thanh toán.
- Nguồn vốn huy động qua tài khoản tiền giữ hộ là nguồn vốn trên tài khoản tiền
gửi của khách hàng ở Ngân hàng, đó là những khoản tiền tạm thời nhàn rỗi của khách
hàng, được giải phóng khỏi quá trỡnh sản xuất lưu thông và được quản lí trên tài khoản
tiền gửi ở Ngân hàng.
- Nguồn vốn huy động qua tài khoản tiền gửi đảm bảo khả năng thanh toán: đây là
những tài khoản mà người mở được quyền sử dụng những công cụ thanh toán của Ngân
hàng để phục vụ cho hoạt động của mỡnh như uỷ nhiệm chi, séc, thư chuyển tiền…
Người ta cũn gọi đây là những khoản tiền gửi có thể phát séc, tài khoản tiền gửi có thể
được thanh toán theo yêu cầu. Nhỡn chung, những khoản tiền gửi và tiền bảo đảm
thanh toán của khách hàng là nguồn vốn có chi phí thấp đối với Ngân hàng. Những chi
phí về nguồn vốn này chỉ bao gồm chi phí cho việc duy trỡ tài khoản và phục vụ khỏch
hàng như: Chi phí in ấn, phát hành séc và một số chi phí nhỏ khác. Những bất lợi trong
việc sử dụng nguồn vốn này đối với Ngân hàng là tính ổn định thấp, nó hoàn toàn phụ
thuộc vào đặc điểm kinh doanh cũng như tiêu dùng của khách hàng.Do đó Ngân hàng
kém chủ động trong việc sử dụng nguồn vốn này so với các nguồn vốn khác.
Nguồn vốn huy động từ những tài khoản này nhiều hay ít phụ thuộc vào số lượng
khách hàng mở tài khoản tại Ngân hàng, quy mô hoạt động của từng khách hàng và
quan trọng nhất là lói suất, chất lượng dịch vụ của Ngân hàng. Do đó, việc huy động
tiền gửi có ý nghĩa rất lón trong hoạt động kinh doanh của Ngân hàng.
* Tạo vốn qua thị trường vốn
+ Các công cụ tạo vốn của Ngân hàng trên thị trường vốn
Công cụ nợ của Ngân hàng là những giấy nhận nợ mà Ngân hàng trao cho những
người cho Ngân hàng vay tiền, xác nhận khoản tiền mà ngân hàng đó vay của khỏch
hàng với mức lói suất và ngày hoàn trả nhất định. Những giấy nhận nợ này gồm có:  Kỳ phiếu ngân hàng
 Trái phiếu ngân hàng

Các Ngân hàng Thương mại có thể vay Ngân hàng Trung ương khi có nhu cầu, nhưng ở
hầu hết các nước Ngân hàng Trung ương đều không cho phép các Ngân hàng Thương
mại lạm dụng khả năng đó bằng các công cụ như hạn mức tái chiết suất hay lói suất tỏi
chiết khấu. Song dự sao, đây cũng là điểm tựa quan trọng đối với hoạt động huy động
vốn của Ngân hang Thương mại.
 Vay từ các tổ chức tín dụng khác
Đó là các khoản vay thông thường mà Ngân hàng Thương mại vay lẫn nhau trên thị
trương liên Ngân hàng hay thị trường tiền tệ.
Tuy nhiên, các Ngân hàng Thương mại thường sử dụng tới 2 giải pháp
trên trong các trường hợp sau:
Thứ nhất: Các Ngân hàng thường chỉ đi vay từ Ngân hàng Trung ương khi không
cũn giải phỏp nào khỏc trỏnh việc sử dụng tối đa hạn mức tái chiết khấu, mà qua đó có
thể gây sự chú ý của Ngõn hàng Trung ương.
Thứ hai: Khi một khách hàng tới trả một khoản nợ cũ và yêu cầu vay tiếp một
khoản nợ khỏc mà bị từ chối vỡ Ngõn hàng đang có khó khăn về vốn, thỡ cú thể ngõn
hàng sẽ mất vĩnh viễn khỏch hàng đó vào tay các đối thủ cạnh tranh.
+ Các lĩnh vực tạo vốn khác
Ngoài cỏc hỡnh thức huy động trên, nếu ngân hàng có uy tín trên thị trường trong
và ngoài nước thỡ họ cú thể nhận được các nguồn vốn như: vốn tài trợ, vốn uỷ thác đầu
tư phát triển, vốn lên doanh liên kết, và các nguồn vốn khác được hỡnh thành trong quỏ
trỡnh hoạt động.
Tớch cực hỡnh thành thị trường chứng khoán để tạo điều kiện cho thị trường vốn
hoạt động. Trong điều kiện hiện nay thị trường chứng khoán có thể vừa là tiền đề cơ sở,
vừa là nơi hậu thuẫn chắc chắn việc tỡm kiếm vốn cho nền kinh tế.
1.3 Các nhân tố ảnh hưởng tới hoạt động huy động vốn của NHTM.
1.3.1 Lãi suất huy động:
Lãi suất huy động là mối quan tâm hàng đầu chủ yếu nhất khi một cá nhân hay
một tổ chức kinh tế nào đó muốn gửi tiền vào ngân hàng . Điều này hoàn toàn hợp lý ,

công tác dịch vụ kèm theo hình thức huy động của mình sẽ có khả năng thu hút được
nhiều khách hàng hơn và ngược lại, ngân hàng nào làm không tốt công tác này thì
khách hàng sẽ cảm thấy họ bị ngân hàng đánh giá thấp và họ sẽ chuyển sang với các
ngân hàng khác có dịch vụ tốt hơn. Như vậy, một ngân hàng có dịch vụ tốt và đa dạng
sẽ có nhiều lợi thế hơn các ngân hàng có dịch vụ hạn chế.
Khác với cạnh tranh trên các lĩnh vực khác, cạnh tranh về dịch vụ ngân hàng hầu
như không bị hạn chế bởi các luật lệ. Ngày nay, các ngân hàng hiện đại thường xuyên
cải tiến, mở rộng các dịch vụ cung ứng nhằm thu hút khách hàng. Như vậy, việc tổ chức
cung cấp các dịch vụ kèm theo được xem như biện pháp mở rộng, nâng cao hiệu quả
hoạt động huy động vốn nhất là dưới sự cạnh tranh mạnh mẽ trong nền kinh tế thị
trường.
1.3.4 Mức độ an toàn tiền gửi trong ngân hàng.
Trong kinh doanh, một điều quan trọng đối với bất kỳ một doanh nghiệp nào là
uy tín. Đối với ngân hàng, uy tín đối với người gửi tiền thể hiện ở việc đáp ứng mọi nhu
cầu của dân chúng đảm bảo trả vốn lẫn lãi đúng thời hạnvà bảo chi trả thanh toán khi
có yêu cầu. Các ngân hàng đều rất chú trọng đến công tác an toàn vốn và ngân quỹ. Tuy
nhiên, mức dộ an toàn vốn của các ngân hàng rất khác nhau và đây cũng là đặc điểm để
các ngân hàng cạnh tranh với nhau trong việc huy động vốn.
1.3.5 ảnh hưởng của yếu tố tâm lý tập quán của người gửi tiền
Tiết kiệm và tiêu dùng là hai yếu tố đối nghịch nhau và có tác động mạnh mẽ tới
việc huy động vốn. Thông thường , tích luỹ mà cao thì sẽ có khối lượng tiền lớn đưa
vào ngân hàng dưới dạng tiết kiệm hoặc bảo quản hộ.
Một điều nữa là thói quen sử sụng tiền mặt trong dân cư ở nước ta còn rất cao,
chiếm tới hơn 50% phương tiện thanh toán. chính điều này đã ảnh hưởng lớn tới việc
huy động vốn của ngân hàng thương mại.
1.3.6 ảnh hưởng của các nhân tố khác.
Ngoài các nhân tố kể trên, hoạt động huy động vốn của ngân hàng thương mại còn
chịu ảnh hưởng của nhiều yếu tố khác như: môi trường pháp lý, ảnh hưởng bởi việc sử

hàng gửi tiền vào ngân hàng. Tuy nhiên, nếu lãi suất đầu vào đã cao thì sẽ tác động
không tốt đến lãi suất đầu ra và do đó ảnh hưởng tới lợi nhuận của ngân hàng. Chính vì
vậy, cái khó của ngân hàng là tìm ra lãi suất hợp lý để vẫn có thể huy động được vốn
vào và vẫn cho vay được, thu được lợi nhuận. Để giảm chi phí huy động thì ngân hàng
không nhất thiết phải giảm lãi suất của từng nguồn mà có thể chỉ cần thay đổi cơ cấu
huy động một cách hợp lý.

1.4.3. Khả năng đáp ứng nhu cầu hoạt động kinh doanh của ngân hàng
Đây là một chỉ tiêu rất khó đánh giá một cách chính xác tuyệt đối, tuy nhiên chúng
ta có thể đánh giá nó thông qua việc so sánh nguồn vốn huy động được với các nhu cầu
tín dụng, thanh toán và các nhu cầu khác. Để khả năng đáp ứng nhu cầu đạt kết quả cao
thì ngân hàng phải có cơ cấu vốn hợp lý. Cơ cấu vốn huy động bao gồm cơ cấu vốn
ngắn hạn, trung và dài hạn, cơ cấu vốn theo nội tệ và ngoại tệ, cơ cấu vốn theo tiền gửi
dân cư, tiền gửi các tổ chức kinh tế.
1.4.4. Các chỉ tiêu khác
Ngoài các chỉ tiêu chính ở trên, hiệu quả hoạt động huy động vốn của ngân hàng
thương mại còn được đánh giá qua một số chỉ tiêu như:
- Thời hạn huy động vốn hợp lý
- Hệ số sử dụng vốn
- Mức độ thuận tiện cho khách hàng khi gửi và rút tiền
Trên đây là những vấn đề lý luận chung về ngân hàng thương mại nói chung và
nghiệp vụ huy động vốn của ngân hàng thương mại nói riêng. Việc nghiên cứu những
vấn đề lý luận này giúp chúng ta có một hướng đi đúng đắn trong việc phát triển hoạt
động huy động vốn của các ngân hàng thương mại. Tuy nhiên, việc áp dụng biện pháp
gì, vận dụng ra sao, tổ chức như thế nào để thu được hiệu quả cao nhất còn tuỳ thuộc
vào điều kiện, đặc điểm của từng ngân hàng, từng khu vực kinh tế và từng thời kỳ cũng
như chiến lược phát triển kinh tế của đất nước. Để hiểu rõ hơn thực tế hoạt động này ở
Việt Nam, chúng ta hãy đi sâu vào tìm hiểu hoạt động huy động vốn cụ thể tại một ngân

Phần vốn cũn lại do cỏc cổ đông người Việt Nam hiện đang hoạt động ở Việt Nam và ở
nước ngoài tham gia đóng góp
NHTMCPQTVN là một doanh nghiệp cổ phần hoạt động kinh doanh tiền tệ và dịch vụ
ngân hàng trong tất cả các lĩnh vực kinh tế. Các hoạt động cơ bản của VIB là :
-Huy động tiền gửi ngắn hạn, trung hạn và dài hạn từ các tổ chức và cá nhân -Cho vay ngắn, trung và dài hạn
-Làm dịch vụ thanh toán cả trong và ngoài nước
-Một số các dịch vụ Ngân hàng khác như: Chiết khấu trái phiếu, thương phiếu,
các giấy tờ có giá trị khác, hùn vốn đầu tư , bảo lónh….
2.1.2 Cơ cấu tổ chức
2.1.2.1 Mụ hỡnh cơ cấu tổ chức quản lý hiện tại của NHTMCPQTVN bao gồm
cỏc phũng ban sau (sơ đồ)
2.1.2.2 Chức năng nhiệm vụ các phũng ban
* Phũng hành chớnh
- Chức năng: Phũng hành chớnh cú chức năng tham mưu cho Tổng giám đốc
trong lĩnh vực giao tiếp với các cơ quan hữu quan; đảm bảo an ninh trật tự; quản lý tài
sản; nhân sự ….
- Nhiệm vụ:


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status