LUẬN VĂN: Đánh giá thực trạng tài chính của công ty VIRASIMEX - Pdf 11



LUẬN VĂN:

Đánh giá thực trạng tài chính của
công ty VIRASIMEX

Lời mở đầu
* * * * * * * *

Xu hướng quốc tế hoá nền kinh tế đã mở ra cho nhân loại cánh cửa giao
lưu đầy triển vọng. Lịch sử đã chứng minh rằng không một quốc gia nào có thể phát
triển trong sự tách biệt với thế giới bên ngoài, các nước xích lại gần nhau thông qua
chiếc cầu nối thương maị quốc tế. Vượt qua không gian và thời gian những luồng
dịch chuyển hàng hoá và tiền tệ đã tạo ra sự gắn kết vững bền giữa cung và cầu ở
những trình độ kinh tế khác nhau và ngày càng trở nên phong phú, đa dạng kéo theo

nghiệp. Sau một thời gian thực tập tại công ty VIRASIMEX em đã chọn đề tài
“Đánh giá thực trạng tài chính của công ty VIRASIMEX” làm đề tài chính thức
cho chuyên đề thực tập của mình.

Chuyên đề gồm 3 phần chính:
Chương 1: Cơ sở lý luận về phân tích tình hình tài chính doanh nghiệp.
Chương 2: Phân tích tình hình tài chính của công ty VIRASIMEX.
Chương 3: Các giải pháp tài chính và kiến nghị nhằm nâng cao hiệu quả hoạt động
của công ty. Chương I: Cơ sở lý luận về phân tích tài chính doanh nghiệp

1.1. Sự cần thiết phải phân tích tài chính doanh nghiệp:
1.1.1. Khái niệm phân tích tài chính doanh nghiệp:
Phân tích tài chính doanh nghiệp là tổng thể các phương pháp và công cụ cho
phép thu thập, xử lý các thông tin khác nhau trong quản lý doanh nghiệp, nhằm đánh
giá tình hình tài chính, khả năng và triển vọng của doanh nghiệp, giúp người sử
dụng thông tin đưa ra các quyết định phù hợp.

1.1.2. Sự cần thiết và ý nghĩa của việc phân tích tình hình tài chính doanh nghiệp:
Trong quá trình quản lý hoạt động sản xuất kinh doanh, các nhà quản lý phải
đưa ra rất nhiều các quyết định khác nhau như: quyết định đầu tư, quyết định về
mặt hàng, về trang thiết bị, về nhân sự, về chi phí, về giá bán, về tổ chức huy động
và sử dụng vốn Các quyết định của các nhà quản lý có ý nghĩa rất quan trọng, liên
quan đến sự tồn tại và phát triển của doanh nghiệp nói riêng và của cả toàn bộ nền
kinh tế nói chung. Đặc biệt là các quyết định quản trị tài chính doanh nghiệp, hầu
hết các quyết định khác đều dựa trên kết quả rút ra từ những đánh giá về mặt tài
chính trong quản trị tài chính doanh nghiệp. Nói một cách khác, tất cả các hoạt động
sản xuất kinh doanh đều ảnh hưởng đến tình hình tài chính của doanh nghiệp, và

không. Đồng thời thông qua việc phân tích tình hình tài chính doanh nghiệp còn
giúp cho các cơ quan này hoạch định chính sách, cơ chế tài chính phù hợp, tạo hành
lang pháp lý lành mạnh cho các doanh nghiệp, hướng dẫn và trợ giúp các doanh
nghiệp phát huy những lợi thế, hạn chế những điểm yếu, tăng tích luỹ cho nền kinh
tế quốc dân, giải quyết các vấn đề xã hội
Như vậy, xuất phát từ mục đích sử dụng thông tin của các đối tượng trên cùng
với vai trò quan trọng của các thông tin về tình hình tài chính của doanh nghiệp đối
với việc ra quyết định tài chính, phân tích và đánh giá tình hình tài chính của doanh
nghiệp là một yêu cầu tất yếu và cần thiết trong nền kinh tế thị trường. Xu hướng hội
nhập kinh tế quốc tế, đặc biệt là sắp tới Việt Nam chính thức gia nhập khu vực mậu
dịch tự do Đông Nam á (AFTA) và chuẩn bị tham gia vào WTO (năm 2005), cùng
với sự cạnh tranh mạnh mẽ và những biến động của nền kinh tế thị trường, sẽ là

những tác nhân thúc đẩy việc phân tích tình hình tài chính của doanh nghiệp ngày
càng trở nên quan trọng.

1.1.3. Mục tiêu của phân tích tài chính doanh nghiệp:
Phân tích tình hình tài chính của doanh nghiệp nhằm cung cấp thông tin có tác
dụng hữu ích trong việc tạo ra các quyết định kinh doanh. Vì vậy, phân tích hoạt
động tài chính phải đạt được các mục tiêu chủ yếu sau:
 Phân tích tình hình tài chính phải cung cấp được đầy đủ các thông tin hữu
ích cho các nhà đầu tư và người sử dụng thông tin tài chính khác để giúp cho họ có
quyết định đúng đắn khi có các quyết định đầu tư, quyết định cho vay, quyết định thu
hồi nợ Ngoài ra còn giúp họ có những thông tin để đánh giá khả năng và tính chắc
chắn của dòng tiền vào, ra và tình hình sử dụng vốn kinh doanh có hiệu quả hay
không, cũng như khả năng thanh toán của doanh nghiệp.
 Phân tích tình hình tài chính của doanh nghiệp phải cung cấp thông tin về
nguồn vốn chủ sở hữu, các khoản vay nợ và tình hình biến động của chúng. Hơn nữa,
phân tích tình hình tài chính cung cấp thông tin về việc thực hiện chức năng quản lý
của người quản lý đối với doanh nghiệp. Người quản lý không chỉ có trách nhiệm về

tiến hành phân tích ta phải đảm bảo các nội dung phân tích cơ bản sau:
- Phân tích đánh giá khái quát tình hình tài chính của doanh nghiệp.
- Phân tích các hệ số tài chính đặc trưng.
- Phân tích diễn biến nguồn vốn và sử dụng vốn.

1.2.3. Cơ sở số liệu:
Để thực hiện phân tích tài chính của doanh nghiệp cần sử dụng các tài liệu
sau:
- Báo cáo 01 doanh nghiệp (B01- DN): Bảng cân đối kế toán.
- Báo cáo 02 doanh nghiệp (B02- DN): Báo cáo kết quả hoạt động
kinh doanh.
- Báo cáo 03 doanh nghiệp (B03- DN): Báo cáo ngân quỹ.
- Báo cáo 09 doanh nghiệp (B09- DN): Thuyết minh báo cáo tài
chính.

- Báo cáo tình hình công nợ, các khoản vay và các tài liệu liên quan.
Tuy chỉ có một số chỉ tiêu phân tích ta không thể sử dụng được ngay các số
liệu trong các báo cáo mà cần thiết có sự điều chỉnh và xử lý số liệu. Căn cứ vào ý
nghĩa của từng chỉ tiêu, có thể phải xử lý các số liệu để có được ý nghĩa của từng chỉ
tiêu đó.

1.2.4. Phương pháp phân tích:
Phương pháp phân tích tài chính doanh nghiệp bao gồm một hệ thống các
công cụ và biện pháp nhằm tiếp cận và nghiên cứu các sự kiện, hiện tượng, các mối
quan hệ bên trong và bên ngoài doanh nghiệp, các luồng dịch chuyển và biến đổi tài
chính, các chỉ tiêu tài chính tổng hợp và chỉ tiêu nhằm đánh giá tình hình tài chính
doanh nghiệp.
Thông thường người ta sử dụng 2 phương pháp sau:
1.2.4.1. Phương pháp so sánh:
Đây là phương pháp được sử dụng rộng rãi, phổ biến trong phân tích kinh tế

và số tương đối trên cùng một hàng (cùng một chỉ tiêu) trên các báo
cáo tài chình. Qua đó thấy được sự biến động của từng chỉ tiêu.
+ Phân tích theo chiều dọc: Là việc xem xét, xác định tỷ trọng
của từng chỉ tiêu trong tổng thể, quy mô chung. Qua đó thấy được mức
độ quan trọng của từng chỉ tiêu trong tổng thể.

1.2.4.2. Phương pháp tỷ lệ:
Phương pháp này được dựa trên ý nghĩa, chuẩn mực của các tỷ lệ đại lượng tài
chính trong các mối quan hệ tài chính. Về nguyên tắc, phương pháp tỷ lệ yêu cầu
phải xác định được các ngưỡng (định mức) để nhận xét, đánh giá tình hình tài chính
dựa trên cơ sở so sánh các tỷ lệ của doanh nghiệp với giá trị lỷ lệ tham chiếu.
Như vậy, để đưa ra nhận xét, đánh giá một cách chính xác về tình hình tài
chính thì phải phân tích với việc kết hợp hài hoà hai phương pháp trên. Sự kết hợp
hai phương pháp này cho phép người phân tích đi sâu xem xét các kía cạnh khác
nhau, thấy rõ được thực chất hoạt động tài chính cũng như xu hướng biến động của
từng chỉ tiêu tài chính trong doanh nghiệp qua các giai đoạn khác nhau, đồng thời
vẫn đảm bảo tính đồng nhất trong khi tính toán. 1.3. Nội dung phân tích tình hình tài chính của doanh nghiệp:
Nội dung của phân tích tình hình tài chính bao gồm:
 Đánh giá khái quát tình hình tài chính của doanh nghiệp:
- Qua bảng cân đối kế toán (Bảng CĐKT) để phân tích cơ cấu và diễn
biến nguồn vốn, sử dụng vốn của doanh nghiệp.
- Phân tích tình hình đảm bảo nguồn vốn cho hoạt động của doanh
nghiệp.
- Qua báo cáo kết quả hoạt động sản xuất kinh doanh (Báo cáo
KQHĐSXKD) để phân tích các chỉ tiêu tài chính trung gian và cuố
cùng của doanh nghiệp.
 Phân tích các hệ số tài chính đặc trưng của doanh nghiệp:

sản xuất kinh doanh.
- Xét về mặt pháp lý: Đây là các chỉ tiêu thể hiện trách nhiệm pháp
lý về mặt vật chất của doanh nghiệp đối với các đối tượng cấp vốn
cho doanh nghiệp.
 Phương pháp phân tích:
*Sử dụng phương pháp so sánh, đối chiếu tình hình biến động cả về số
tương đối lẫn số tuyệt đối của từng chỉ tiêu trên bảng CĐKT. Phép so sánh ngang
này cho phép đánh giá được quy mô vốn và khả năng huy động vốn mà doanh
nghiệp sử dụng trong kỳ. Tuy nhiên, sự so sánh này chưa thể hiện được đầy đủ tình
hình tài chính của doanh nghiệp bởi vì nó còn chịu ảnh hưởng của nhiều nhân tố
khác nhau.
*So sánh theo chiều dọc để thấy được tỷ trọng của từng loại trong tổng số.
Qua đó chỉ ra ý nghĩa tương đối của các loại, các mục, các khoản mục.
* Ngoài ra có thể so sánh giữa số thực hiện kỳ này với số thực hiện kỳ
trước, từ đó thấy được xu hướng biến động về tài chính doanh nghiệp là tốt hay xấu,
đề ra các biện pháp khắc phục trong kỳ tới. Hoặc có thể so sánh số thực hiện với số
kế hoạch để thấy được mức độ phấn đấu của doanh nghiệp.
 Kết luận đánh giá: Chỉ ra sự biến động về tài sản và nguồn vốn hình thành
tài sản một cách khách quan tại thời điểm phân tích, từ đó đưa ra những nhận định về
khả năng thay đổi trong tương lai.

Tuy nhiên, thông qua bảng CĐKT chúng ta mới chỉ biết được một cách khái
quát về cơ cấu vốn và nguồn hình thành vốn của doanh nghiệp. để tìm hiểu một cách
sâu sắc hơn chúng ta đi phân tích, đánh giá khái quát tình hình tài chính của doanh
nghiệp thông qua Báo cáo KQKD.

1.3.1.2. Phân tích diễn biến nguồn vốn và sử dụng vốn:
Để lập được bảng kê diễn biến nguồn vốn và tình hình sử dụng vốn của doanh
nghiệp, ta phải thực hiện theo các quy trình sau:
 Tổng hợp sự thay đổi của các khoản mục trên Bảng CĐKT giữa hai thời

 Như vậy, thông qua việc phân tích Báo cáo KQHĐKD để:
* Kiểm tra, phân tích và đánh giá tình hình thực hiện kế hoạch, dự toán chi
phí sản xuất, giá vốn, doanh thu tiêu thụ, tình hình chi phí, thu nhập của
hoạt động khác và kết quả của doanh nghiệp sau một kỳ kế toán.
* Kiểm tra tình hình thực hiện trách nhiệm, nghĩa vụ của doanh nghiệp về
các khoản thuế và các khoản phải nộp khác.
* Đánh giá xu hướng phát triển của doanh nghiệp qua các kỳ khác nhau.
Nội dung của báo cáo KQHKD có thể thay đổi theo từng thời kỳ, tuỳ theo yêu
cầu quản lý, nhưng phải đảm bảo được 5 nội dung cơ bản là:
- Doanh thu thuần từ hoạt động kinh doanh.
- Giá vốn hàng bán
- Chi phí bán hàng
- Chi phí quản lý doanh nghiệp
- Lợi nhuận thuần từ hoạt động kinh doanh.
Giữa các chỉ tiêu này có mối quan hệ với nhau, thể hiện:
Lợi
nhuận
thuần
từ hoạt
đ
ộng
Doanh
thu
thuần


Doanh thu thuần

x 100%

Tỷ suất này cho ta biết để có được một doanh thu thuần, doanh nghiệp đã phải
bỏ ra bao nhiêu đồng giá vốn hàng bán, tỷ suất này càng thấp thì càng tốt vì nó chứng
tỏ việc quản lý các khoản chi phí trong giá vốn hàng bán càng tốt và ngược lại.

Tỷ suất chi phí
bán hàng trên
doanh thu thuần

=
Chi phí bán hàng

Doanh thu thuần

x 100% Tỷ suất chi phí
quản lý DN trên
doanh thu thuần

=
Chi phí quản lý DN

Doanh thu thuần Mức độ an toàn của tài sản ngắn hạn phụ thuộc vào mức độ của VLĐ thường
xuyên. Phân tích tình hình đảm bảo nguồn vốn cho hoạt động kinh doanh, ta cần tính
toán và so sánh giữa nguồn vốn với tài sản.
* Khi nguồn vốn dài hạn < TSCĐ hoặc TSLĐ < nguồn vốn ngắn hạn.
Có nghĩa là nguồn vốn thường xuyên < 0. Nguồn vốn dài hạn không đủ đầu
tư cho TSCĐ. Doanh nghiệp phải đầu tư vào TSCĐ một phần nguồn vốn ngắn hạn,
TSLĐ không đáp ứng đủ nhu cầu thanh toán nợ ngắn hạn, cán cân thanh toán của
doanh nghiệp mất thăng bằng, doanh nghiệp phải dùng 1 phần TSCĐ để thanh toán
nợ ngắn hạn đến hạn trả. Trong trường hợp như vạy giải pháp của doanh nghiệp là
tăng cường huy động vốn ngắn hạn hợp pháp hoặc giảm quy mô đầu tư dài hạn hoặc
thực hiện đồng thời các 2 giải pháp đó.
VLĐ
thường
xuyên

Nguồn
vốn dài
h
ạn

TSLĐ

TSC
Đ
Nguồn
vốn ngắn
h

ngắn hạn. Tại đây các sử dụng ngắn hạn của doanh nghiệp lớn hơn các nguồn vốn
ngắn hạn mà doanh nghiệp có được từ bên ngoài, doanh nghiệp phải dùng nguồn vốn
dài hạn để tài trợ vào phần chênh lệch.
Giải pháp trong trường hợp này là nhanh chóng giải phóng hàng tồn kho và
giảm các khoản phải thu ở khách hàng.
Nợ ngắn
h
ạn * Nhu cầu VLĐ thường xuyên < 0 có nghĩa là các nguồn vốn ngắn hạn của
doanh nghiệp. Doanh nghiệp không cần nhận vốn ngắn hạn để tài trợ cho chu kỳ kinh
doanh.
Mối liên hệ giữa VLĐ thường xuyên với nhu cầu VLĐ thường xuyên:

Vốn bằng tiền = VLĐ thường xuyên - Nhu cầu VLĐ thường xuyên

Nguồn vốn dài hạn > TSCĐ => VLĐ thường xuyên > 0 và ngược lại
TSLĐ > Nguồn vốn ngắn hạn => Nhu cầu VLĐ thường xuyên > 0
và ngược lại.
Dựa vào các chỉ tiêu trong BCĐKT ta thấy các mối liên hệ trên được biểu hiểu
nhu sau:
- Nếu hàng tồn kho và khoản phải thu > nợ ngắn hạn, nghĩa là sử
dụng ngắn hạn > nợ ngắn hạn mà doanh nghiệp huy động được => nhu cầu VLĐ
thường xuyên dương. Để tài trợ phần chênh lệch này doanh nghiệp cần tới VLĐ
thường xuyên. Nếu VLĐ thường xuyên > nhu cầu VLĐ thường xuyên => vốn bằng
tiền dương và ngược lại.
- Nếu tồn kho và các khoản phải thu < nợ ngắn hạn, có nghĩa là
VLĐ từ bên ngoài thừa trang trải các sử dụng ngắn hạn; nhu cầu VLĐ thường xuyên
< 0; nếu VLĐ thường xuyên dương => vốn bằng tiền dương lớn hơn; nếu VLĐ

1.3.2.1. Các hệ số về khả năng thanh toán:
Đối với các đối tượng sử dụng thông tin, đặc biệt là đối với các nhà đầu tư, thì
vấn đề được họ quan tâm nhiều nhất là khoản lợi nhuận từ hoạt động đầu tư đem lại
và khả năng rủi ro của các khoản đầu tư đó là cao hay thấp. Họ luôn đặt ra câu hỏi
liệu doanh nghiệp mà họ đầu tư có đủ khả năng trả các khoản nợ tới hạn hay không?
Việc phân tích một số chỉ tiêu dưới đây sẽ giúp họ trả lời được câu hỏi này:
Hệ số khả năng thanh toán tổng quát:
 Hệ số khả năng thanh toán tổng quát phản ánh mối quan hệ giữa tổng tài
sản mà hiện doanh nghiệp đang quản lý và sử dụng với tổng số nợ phải trả (bao gồm
nợ ngắn hạn và nợ dài hạn).

Hệ số khả năng
thanh toán tổng

=
Tổng tài sản quát Nợ ngắn hạn và dài hạn

*ý nghĩa: Hệ số này đánh giá khả năng đáp ứng nghĩa vụ thanh toán các
khoản nợ tại một thời điểm nhất định của doanh nghiệp.Nhìn chung hệ số này càng
lớn hơn 1 thì càng tốt.
Hệ số khả năng thanh toán hiện thời:
*Hệ số khả năng thanh toán hiện thời phản ánh mức độ đảm bảo cảu tài
sản lưu động và các khoản đầu tư ngắn hạn (TSLĐ và ĐTNH) với nợ ngắn hạn.

Hệ số khả năng
thanh toán hiện
thời

nghiệp có thể phải sử dụng các biện pháp bất lợi như bán các tài sản
với giá thấp để trả nợ.
- Nhìn chung, hệ số này càng cao thì càng tốt, nhưng nếu quá cao thì
doanh nghiệp cần phải xem xét lại vì có thể trong TSLĐ thì bộ phận
tài sản không có khả năng sinh lợi thấp đang chiếm một tỷ trọng khá
lớn.
Như vậy, thông qua việc phân tích các hệ số trên, các đối tượng có liên quan
sẽ phần nào đánh giá được khả năng thanh toán của doanh nghiệp và xu hướng biến
động của nó trong tương lai, từ đó đưa ra những quyết định phù hợp với mục đích
của mình.
Các nhà quản trị tài chính doanh nghiệp luôn thay đổi tỷ trọng các loại vốn
nhằm tiến tới kết cấu vốn tối ưu để đạt được mục tiêu chi phí sử dụng vốn là thấp
nhất. Tuy nhiên, do những thay đổi trong kỳ kinh doanh, trong hoạt động đầu tư của
doanh nghiệp làm cho kết cấu này luôn bị phá vỡ. Phân tích cơ cấu nguồn vốn là tình
hình tự tài trợ dưới đây sẽ giúp chúng ta đánh giá cơ cấu nguồn vốn và tình hình tự
tài trợ của công ty có hợp lý hay không?

Các hệ số phản ánh cơ cấu nguồn vốn và tỷ suất tự tài trợ:
Cơ cấu nguồn vốn:
*Cơ cấu nguồn vốn phản ánh bình quân trong một đồng vốn kinh doanh hiện
nay của doanh nghiệp đang sử dụng có mấy đồng vay nợ hoặc mấy đồng từ vốn chủ
sở hữu.
*Hệ số nợ và hệ số vốn chủ sở hữu (VCSH) là hai tỷ số quan trọng nhất phản
ánh cơ cấu nguồn vốn của doanh nghiệp.

Nợ phải trả
Hệ số nợ = = 1 - Hệ số vốn chủ sở hữu
Tổng nguồn vốn

Hệ số này phản ánh trong 1đ vốn kinh doanh có bao nhiêu được hình thành từ

khác nhau. Bao gồm:
Số vòng quay hàng tồn kho:

 Khái niệm: Số vòng quay hàng tồn kho là số lần mà hàng hoá tồn kho bình
quân luân chuyển trong kỳ. Số vòng quay hàng tồn kho =
Giá vốn hàng bàn

Hàng tồn kho bình quân

Trong đó hàng tốn kho bình quân là số dư hàng tồn kho tình bình quân ở các
thời điểm trong kỳ. Kỳ phân tích có thể là tháng, quý, năm. Thông thường là năm. Số ngày vòng quay hàng tồn kho =
360

Số vòng quay hàng tồn kho

*ý nghĩa: Hai hệ số trên là những đại lượng nghịch đảo của nhau, nó cùng
phản ánh tốc độ luân chuyển của hàng tồn kho. Nếu số vòng quay nhỏ tức là số ngày
của một vòng quay lớn, nó thường là biểu hiện của tình trạng hàng tồn kho nhiều.
Vốn bị tồn động dưới dạng hàng tồn kho là lớn, sẽ làm cho hiệu quả sử dụng VLĐ
giảm, năng lực quản trị hàng tồn kho của doanh nghiệp còn yếu kém. Và ngược lại,
số vòng quay lớn đồng nghĩa với số ngày của một vòng quay là nhỏ, chứng tỏ năng
lực quản trị hàng tồn kho của doanh nghiệp là tốt vì lượng hàng tồn kho của doanh
nghiệp đã bị giảm đi.
Vòng quay các khoản phải thu:
Vòng quay VLĐ =
Doanh thu thuần

VLĐ bình quân

Trong đó, VLĐ bình quân = (VLĐ đầu kỳ + VLĐ cuối kỳ) / 2.
*ý nghĩa: Chỉ tiêu này phản ánh trong kỳ VLĐ luân chuyển được bao nhiêu
vòng, nhằm đo lường hiệu quả sử dụng VLĐ của doanh nghiệp. Vòng quay này càng
cao thì càng tốt vì với cùng một lượng VLĐ bỏ ra nếu vòng quay VLĐ nhanh hơn thì
sẽ tạo ra mức doanh thu lớn hơn, và ngược lại. Kỳ luân chuyển VLĐ =
Số ngày trong kỳ

Vòng quay VLĐ

Chỉ tiêu này cho biết từ khi doanh nghiệp bỏ tiền ra để hình thành nên các
TSLĐ cho đến khi bán, thu tiền về thì mất bao nhiêu ngày. Nếu chỉ tiêu này càng cao

chứng tỏ có thể hàng hoá tiêu thụ chậm, tiền mặt hoặc vật tư tồn kho nhiều, số lượng
các khoản phải thu là lớn tức là VLĐ bị ứ đọng.
Nhìn chung, vòng quay VLĐ và kỳ luân chuyển VLĐ cho biết sử dụng VLĐ
của doanh nghiệp là có tiết kiệm và hợp lý không?
Hiệu suất sử dụng vốn cố định (VCĐ):
Tỷ suất lợi nhuận doanh thu =
Lợi nhuận sau thuế

Doanh thu thuần

*ý nghĩa: Chỉ tiêu này phản ánh trong 100đ doanh thu thực hiện có bao nhiêu
đồng lợi nhuận sau thuế.
Tỷ suất lợi nhuận Tài sản: (ROA) Tỷ suất lợi nhuận Tài Sản =
Lợi nhuận sau thuế & lãi

Tổng tài sản

*ý nghĩa: Đây là chỉ tiêu tổng hợp nhất được dùng để đánh giá khả năng sinh
lời của một đồng vốn đầu tư. Tuỳ thuộc vào tình hình cụ thể của doanh nghiệp được
phân tích và phạm vi so sánh mà người ta lựa chọn thu trước thuế hoặc thu nhập sau
thuế để so sánh với tổng tài sản. Chỉ
Tỷ suất lợi nhuận trên VCSH: (ROE) ROE =
Lợi nhuận sau thuế

Vốn chủ sở hữu

*ý nghĩa: Đây là chỉ tiêu được chủ sở hữu doanh nghiệp mong đợi nhiều nhất,


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status