LUẬN VĂN:
Giải pháp nâng cao chất lượng tín dụng
trung và dài hạn tại Sở giao dịch ngân
hàng Đầu tư và phát triển Việt Nam
Lời mở đầu
Ngày nay các Ngân hàng thương mại đã trở thành một mắt xích quan trọng
cấu thành nên sự vận động nhịp nhàng của nền kinh tế thị trường, trong đó hoạt động
tín dụng ngân hàng trở thành một nhân tố quan trọng, là đòn bẩy kinh tế mạnh mẽ để
phát triển nền kinh tế. Đất nước ta đang trong giai đoạn đầu tiến hành công cuộc đổi
mới nền kinh tế thị trường, thực hiện công nghiệp hoá - hiện đại hoá nên nhu cầu vốn
đầu tư phát triển, mở rộng và nâng cao chất lượng sản xuất kinh doanh là rất lớn.
Theo nguyên lý chung, nhu cầu vốn lớn và dài hạn phải được đáp ứng bởi thị trường
thực hiện thanh toán hộ đã dần dần hình thành các Ngân hàng thương mại. Ngân
hàng thương mại ra đời, trở thành một cầu nối không thể thiếu giữa những người
muốn tiết kiệm và những người muốn đầu tư, trở thành động lực thúc đẩy phát triển
kinh tế.
Có rất nhiều khái niệm khác nhau về ngân hàng thương mại. Theo quan điểm
của Mỹ, "Ngân hàng thương mại là một công ty chuyên cung cấp dịch vụ tài chính và
hoạt động trong ngành công nghiệp dịch vụ tài chính". Hay một cách thận trọng có
thể xem tổ chức này trên phương diện những loại hình dịch vụ mà chúng cung cấp:
Ngân hàng thương mại là tổ chức tài chính cung cấp một danh mục các dịch vụ tài
chính đa dạng nhất - đặc biệt là tín dụng, tiết kiệm và dịch vụ thanh toán - và thực
hiện nhiều chức năng tài chính nhất so với bất kỳ một tổ chức kinh doanh nào trong
nền kinh tế.
Tại Việt Nam, sự chuyển dịch nền kinh tế từ cơ chế bao cấp sang nền kinh tế
thị trường có sự quản lý của Nhà nướcnăm 1986 tất yếu dẫn dến sự ra đời của nhiều
loại hình ngân hàng và tổ chức tín dụng. Để quản lý và hướng dẫn hoạt động cho các
ngân hàng, tổ chức tín dụng, tạo điều kiện thuận lợi cho sự phát triển kinh tế, bảo vệ
lợi ích của cá nhân và các thành phần kinh tế, theo Pháp lệnh số 38 ngày 25/5/1990:
"Ngân hàng thương mại là tổ chức kinh doanh tiền tệ mà hoạt động chủ yếu và
thường xuyên là nhận tiền gửi của khách hàng với trách nhiệm hoàn trả và sử dụng
tiền đó để cho vay, thực hiện nghiệp vụ chiết khấu các phương tiện thanh toán". Và
mới đây Luật các tổ chức tín dụng có quy định "Ngân hàng là loại hình tổ chức tín
dụng được thực hiện toàn bộ hoạt động ngân hàng và các hoạt động kinh doanh có
liên quan". Theo đó ngân hàng thương mại là doanh nghiệp được thành lập để hoạt
động kinh doanh tiền tệ, làm dịch vụ ngân hàng với nội dung nhận tiền gửi và sử
dụng nhận tiền gửi để cấp tín dụng, cung ứng các dịch vụ thanh toán vì mục tiêu lợi
nhuận, góp phần thực hiện các mục tiêu kinh tế của Nhà nước.
Tóm lại, dù định nghĩa Ngân hàng thương mại như thế nào cũng đều có chung
một nội dung và tính chất hoạt động của ngân hàng là huy động vốn để sử dụng vào
các nghiệp vụ cho vay, đầu tư và các dịch vụ kinh doanh khác của ngân hàng.
vậy, khi cung cấp dịch vụ nhận tiền gửi, ngân hàng thu "phí" gián tiếp thông qua thu
nhập của hoạt động sử dụng tiền gửi đó. Hiện nay, huy động tiền gửi trung và dài hạn
đang là một hình thức phổ biến của các ngân hàng thương mại nhằm thu hút vốn
nhàn rỗi trong thời hạn dài hơn. Các Ngân hàng thương mại tận dụng tối đa nguồn
vốn này để đầu tư các dự án trung và dài hạn.
* Phương thức huy động thứ ba là phát hành các giấy tờ có giá như phát hành
chứng chỉ tiền gửi, kỳ phiếu, trái phiếu ngân hàng. Đây là một cách huy động vốn rất
nhanh của các ngân hàng và nó góp phần đa dạng hoá các loại hàng hoá giao dịch
trên thị trường chứng khoán, khuyến khích các tầng lớp dân cư tích luỹ vốn cho đầu
tư phát triển.
* Một phương thức huy động khác nữa của Ngân hàng thương mại là đi vay
các ngân hàng khác. Nguồn huy động theo phương thức này được dựa trên mối quan
hệ giữa Ngân hàng thương mại với Ngân hàng Nhà nướchoặc các tổ chức tín dụng
trên thị trường liên ngân hàng. Tuy nhiên hình thức huy động này chỉ mang tính tạm
thời nhằm giải quyết nhu cầu cấp bách trong chi trả và phải chịu chi phí lớn nên trong
thực tế nguồn huy động này chỉ chiếm tỷ trọng nhỏ trong tổng nguồn vốn của ngân
hàng.
Ngoài ra ngân hàng còn có thể huy động vốn nhàn rỗi từ các hoạt động uỷ
thác. Các tổ chức kinh tế xã hội có cùng mục tiêu phát triển như của ngân hàng, có
nguồn tài chính, đã sử dụng mạng lưới ngân hàng như các kênh dẫn vốn tới các mục
tiêu.Từ đó hình thành nguồn uỷ thác, làm gia tăng nguồn vốn của ngân hàng.
1.1.1.2.2. Hoạt động sử dụng vốn
Sử dụng và khai thác các nguồn vốn huy động được là hoạt động chủ yếu và
quan trọng nhất của Ngân hàng thương mại. Vốn của Ngân hàng thương mại thường
được sử dụng trong hai hoạt động lớn là tín dụng và đầu tư.
* Hoạt động tín dụng
Tín dụng là quan hệ vay mượn, gồm cả cho vay và đi vay. Trong quan hệ này,
bên cho vay chuyển giao tài sản (tiền hoặc hàng hoá) cho bên đi vay sử dụng trong
một thời hạn nhất định theo thoả thuận, bên đi vay có trách nhiệm hoàn trả vô điều
chính sách tín dụng đúng đắn, phải không ngừng đa dạng hoá các hình thức tín dụng
cho phù hợp với nhu cầu và thị hiếu của khách hàng. Tín dụng ngân hàng được phân
loại theo nhiều tiêu thức khác nhau:
* Phân loại theo hình thức tài trợ, tín dụng được chia thành cho vay, bảo lãnh,
cho thuê
Cho vay là việc ngân hàng đưa tiền cho khách hàng với cam kết khách hàng
phải hoàn trả cả gốc và lãi trong khoản thời gian xác định.
Ngân hàng cho thuê khi khách hàng không đủ điều kiện để vay. Ngân hàng có
thể mua tài sản theo yêu cầu của khách hàng để cho cho khách hàng thuê theo những
thoả thuận nhất định và cũng phải hoàn trả cả gốc và lãi khi hết hạn.
Bảo lãnh là hoạt động ngân hàng cam kết dưới hình thức thư bảo lãnh về việc
thực hiện các nghĩa vụ tài chính hộ khách hàng của mình khi khách hàng không thực
hiện đúng nghĩa vụ như cam kết. Mặc dù không phải xuất tiền ra, song ngân hàng đã
cho khách hàng sử dụng uy tín của mình để thu lợi.
* Phân loại theo mức độ tín nhiệm đối với khách hàng thì hoạt động tín dụng
gồm có tín dụng có bảo đảm và tín dụng không có bảo đảm.
Tín dụng có bảo đảm là loại cho vay được ngân hàng cung ứng, phải có tài sản
thế chấp hoặc cầm cố, hoặc phải có sự bảo lãnh của bên thứ ba. Đối với các khách
hàng không có uy tín cao đối với ngân hàng, khi vay vốn đòi hỏi phải có đảm bảo. Sự
đảm bảo này là căn cứ pháp lý để ngân hàng có thêm một nguồn thứ hai, bổ sung cho
nguồn thu nợ thứ nhất thiếu chắc chắn.
Về nguyên tắc, mọi khoản tín dụng của ngân hàng đều phải có đảm bảo.
Nhưng ngân hàng có thể cấp tín dụng không có bảo đảm cho các khách hàng có uy
tín, thường là khách hàng làm ăn thường xuyên có lãi, tình hình tài chính vững mạnh,
ít xảy ra tình trạng nợ nần dây dưa hoặc món vay tương đối nhỏ so với vốn của người
vay. Ngoài ra, các khoản cho vay theo chỉ thị của Chính phủ mà Chính phủ yêu cầu
không cần tài sản đảm bảo, các khoản cho vay đối với các tổ chức tài chính lớn
cũng có thể không cần tài sản đảm bảo.
* Phân loại theo thời gian cho vay có tín dụng ngắn hạn, trung hạn và dài hạn.
như máy móc, nhà ở, văn phòng ). Tuy nhiên trong phạm vi bài chuyên đề này, tín
dụng ngân hàng chỉ được hiểu hẹp hơn là chỉ bao gồm hoạt động cho vay.
Tín dụng trung và dài hạn của Ngân hàng thương mại là một hình thức tín
dụng ngân hàng được phân loại theo tiêu thức thời gian. Đó là những khoản cho vay
có thời hạn lớn hơn một năm nhằm phục vụ cho việc làm nhà hoặc đầu tư thực hiện
các công trình xây dựng mang tính thương mại cũng như cho các dự án đầu tư khác.
Đối với một số nước trên thế giới tín dụng dài hạn là loại cho vay có thời hạn
trên 7 năm nhưng tại Việt Nam, theo quy định hiện hành thì các khoản tín dụng trung
hạn có thời hạn từ 12 tháng đến 60 tháng (5 năm), và từ 60 tháng trở lên là tín dụng
dài hạn.
Tín dụng trung và dài hạn có các đặc điểm lớn sau:
* Mục đích và đối tượng cho vay
Trong một nền kinh tế, nhu cầu tín dụng trung và dài hạn thường xuyên phát
sinh do các doanh nghiệp luôn tìm cách phát triển mở rộng sản xuất, đổi mới công
nghệ, mua sắm trang thiết bị, xây dựng hoặc do Nhà nướcvay để đầu tư phát triển
đất nước.
Đối tượng cho vay là các doanh nghiệp đang đầu tư vào các dự án mà giá trị
vật tư, máy móc, thiết bị, công nghệ chuyển giao, chi phí nhân công, giá thuê mua
các tài sản khác, chi phí mua bảo hiểm và các chi phí khác đòi hỏi vốn lớn.
* Thời hạn và giá trị khoản vốn cho vay
Thời hạn cho vay là khoảng thời gian được tính từ khi khách hàng bắt đầu
nhận vốn vay cho đến thời điểm trả hết nợ gốc và lãi vốn vay đã được thoả thuận
trong hợp đồng tín dụng. Thời hạn cho vay do ngân hàng và khách hàng thoả thuận.
Việc thoả thuận này phải căn cứ vào chu kỳ sản xuất kinh doanh, thời hạn thu hồi
vốn của dự án đầu tư, khả năng trả nợ của khách hàng và khả năng nguồn vốn cho
vay của ngân hàng. Xuất phát từ việc tín dụng trung và dài hạn được sử dụng để mua
sắm tài sản cố định, tài trợ cho các hạng mục công trình, dự án đầu tư xây dựng do
đó thời hạn cho vay trung và dài hạn thường dài (hơn một năm) và giá trị của các
khoản cho vay trung và dài hạn thường rất lớn.
trách nhiệm của người vay đối với khoản tiền vay, ngân hàng buộc các khách hàng
phải có tài sản đảm bảo cho món vay.
Giữa rủi ro và lãi suất có mối quan hệ với nhau. Thời hạn càng dài, rủi ro càng
lớn thì lãi suất vay càng cao bởi vì ngân hàng phải trang trải những chi phí để bù đắp
rủi ro lớn và những chi phí huy động và quản lý nguồn vốn phục vụ cho hoạt động tín
dụng trung và dài hạn. Lãi suất cho vay được xác định tuỳ thuộc vào lãi suất huy
động, tỷ lệ lạm phát, lãi suất trên thị trường liên ngân hàng và ở Việt Nam còn phụ
thuộc vào lãi suất cơ bản do Ngân hàng Nhà nướcquy định.
* Nguyên tắc cho vay trung và dài hạn
Hoạt động tín dụng trung và dài hạn của Ngân hàng thương mại phải dựa trên
một số nguyên tắc nhằm đảm bảo tính an toàn và sinh lời.
- Vốn trung và dài hạn phải được sử dụng đúng mục đích đã cam kết trong
hợp đồng tín dụng. Muốn vay vốn trung và dài hạn, người vay phải soạn thảo dự án,
chương trình sản xuất kinh doanh, trong đó chi tiết việc sử dụng vốn theo các mục
đích cụ thể. Trên cơ sở đó, ngân hàng thẩm định và phê duyệt. Ngân hàng cho vay
căn cứ vào nhiều chỉ tiêu và yêu cầu khách hàng phải cam kết sử dụng vốn đúng mục
đích đã đưa ra trong phương án vay vốn, không trái với pháp luật và cương lĩnh của
ngân hàng, phù hợp với đường lối chính sách phát triển kinh tế của đất nước.
- Việc sử dụng vốn trung và dài hạn phải có hiệu quả kinh tế - xã hội cao.
Hiệu quả kinh tế - xã hội của một món vay trung và dài hạn được thể hiện qua các chỉ
tiêu của dự án (phương án) như chỉ tiêu phản ánh hiệu quả, chỉ tiêu phản ánh khả
năng thanh toán, chỉ tiêu phản ánh khả năng sinh lời Một dự án, chương trình sản
xuất có hiệu quả sẽ dẫn đến việc hoàn trả vốn đúng hạn.
- Vốn vay phải được hoàn trả nợ gốc và lãi đúng thời hạn. Nguồn vốn ngân
hàng cho vay trung và dài hạn là nguồn ngân hàng nhận tiền gửi hoặc đi vay mượn.
Ngân hàng cũng có trách nhiệm hoàn trả cả gốc và lãi như đã thực hiện như đã cam kết.
Do đó ngân hàng yêu cầu người vay phải hoàn trả nợ gốc và lãi đúng thời hạn - đây
là điều kiện để ngân hàng tồn tại và phát triển
1.1.2.3.Quy trình tín dụng trung và dài hạn
hàng, mà còn ảnh hưởng đến cả uy tín của ngân hàng. Kết thúc bước này được đánh
dấu bởi các văn bản thể hiện kết quả ra quyết định là từ chối cho vay (ngân hàng phải
nêu rõ lý do) hay chấp thuận thông qua việc ký hợp đồng tín dụng.
* Bước 4: Giải ngân
Sau khi hợp đồng tín dụng trung và dài hạn được ký kết, ngân hàng thực hiện
nghiệp vụ cấp tiền trên cơ sở mức tín dụng đã cam kết theo hợp đồng. Cán bộ tín
dụng có nhiệm vụ theo dõi tiến trình giải ngân đúng theo những điều kiện và số
lượng như trong hợp đồng. Khi phát hiện khách hàng không thực hiện những điều
kiện giải ngân, ngân hàng có thể tạm ngừng giải ngân tiếp hoặc chấm dứt hợp đồng
do khách hàng vi phạm hợp đồng.
* Bước 5: Giám sát và thanh lý tín dụng
Ngân hàng phải giám sát tín dụng nhằm theo dõi, đánh giá mức độ chấp hành
hợp đồng tín dụng của khách hàng và kịp thời có các ứng xử thích hợp. Các cán bộ
tín dụng phải tiến hành giám sát hoạt động của khách hàng, tình hình sử dụng vốn
vay, giám sát tài sản đảm bảo Sau đó người giám sát phải lập báo cáo về kết quả
giám sát trình các cấp quản trị để có xử lý kịp thời.
Đến kỳ hạn trả nợ ngân hàng sẽ tiến hành thu vốn gốc và lãi. Nếu việc thanh
toán không đúng hạn đòi hỏi ngân hàng phải xử lý, đưa ra các phán quyết tín dụng
mới.
Các bước trên mang tính chất liên hoàn, theo một trật tự nhất định, đồng thời
có quan hệ chặt chẽ và gắn bó với nhau. Việc các cán bộ tín dụng thực hiện theo quy
trình trên sẽ có ảnh hưởng rất lớn đến chất lượng tín dụng trung và dài hạn.
1.2. Chất lượng tín dụng trung và dài hạn của Ngân hàng thương mại
1.2.1.Quan niệm về chất lượng tín dụng trung và dài hạn
Là một doanh nghiệp kinh doanh trên lĩnh vực tiền tệ trong một môi trường
cạnh tranh khá gay gắt nên việc ngân hàng thương mại quan tâm đến chất lượng hoạt
động, trong đó có chất lượng hoạt động tín dụng, là tất yếu vì khi chất lượng được
tăng lên sẽ đảm bảo thoả mãn mọi yêu cầu ngày càng cao của khách hàng đồng thời
tạo điều kiện cho ngân hàng nâng cao tỷ lệ chiếm lĩnh thị trường.
và dài hạn phải phục vụ sản xuất và lưu thông hàng hoá; góp phần giải quyết công ăn
việc làm, khai thác khả năng tiềm tàng trong nền kinh tế, thúc đẩy quá trình tích tụ và
tập trung sản xuất, giải quyết tốt mối quan hệ giữa tăng trưởng tín dụng và tăng
trưởng kinh tế.
1.2.2.Các chỉ tiêu đánh giá chất lượng tín dụng trung và dài hạn
Như đã nói ở trên, chất lượng tín dụng trung và dài hạn được xác định bằng
tổng thể các chỉ tiêu vừa trừu tượng vừa cụ thể. Các chỉ tiêu trừu tượng như chỉ tiêu
phản ánh mức độ thoả mãn của khách hàng không thể lượng hoá được mà chỉ có
thể kết luận chất lượng qua một thời gian dài, qua số lượng khách hàng đến với ngân
hàng hay qua những lời nhận xét của khách hàng. Và để đánh giá chất lượng tín dụng
trung và dài hạn một cách chính xác chúng ta phải sử dụng một hệ thống các chỉ tiêu
cụ thể sau.
1.2.2.1. Nhóm chỉ tiêu về tăng trưởng tín dụng
Doanh số cho vay trung và dài hạn là lượng vốn mà ngân hàng đã giải ngân
cho khách hàng theo hợp đồng tín dụng trung và dài hạn trong một niên độ kế toán,
thường là một năm. Chỉ tiêu này là một số tuyệt đối phản ánh xu hướng hoạt động tín dụng
trung và dài hạn là thu hẹp hay mở rộng.
Dư nợ tín dụng trung và dài hạn là số dư cuối kỳ trên bảng cân đối kế toán của
ngân hàng, phản ánh lượng vốn ngân hàng đã giải ngân cho các khoản tín dụng trung
và dài hạn mà khách hàng đang còn nợ ngân hàng tại một thời điểm cụ thể.
Doanh số thu nợ tín dụng trung và dài hạn là tổng các khoản thu nợ, phản ánh
lượng vốn cho vay trung và dài hạn được hoàn trả trong một thời kỳ.
Tỷ lệ tăng trưởng tín dụng trung và dài hạn được tính bằng cách lấy dư nợ cho
vay cuối kỳ trừ số dư nợ đầu kỳ, chia cho số dư nợ đầu kỳ.
Nhóm chỉ tiêu về tăng trưởng tín dụng cho thấy khả năng của ngân hàng trong
việc đáp ứng nhu cầu vốn trung và dài hạn, khả năng cạnh tranh thu hút khách hàng,
do vậy phần nào thể hiện chất lượng tín dụng. Tuy nhiên không thể chỉ nhìn vào việc
mở rộng tín dụng để đánh giá chất lượng mà phải xem xét đến tính an toàn và lành
mạnh của các khoản tín dụng đó.
quá hạn thấp thông qua việc cho vay đảo nợ, không chuyển nợ quá hạn theo đúng
quy định thì lúc này chỉ tiêu nợ quá hạn không phản ánh được chất lượng tín dụng.
Bên cạnh đó cũng có khoản nợ quá hạn vẫn còn khả năng thanh toán cho ngân hàng,
làm giảm khả năng mất vốn của ngân hàng nên cũng cần quan tâm những khoản nợ
quá hạn có khả năng thu hồi này khi đánh giá chất lượng tín dụng của ngân hàng.
Tỷ lệ nợ quá hạn trung và dài hạn là tỷ lệ phần trăm giữa nợ quá hạn tín dụng
trung và dài hạn và tổng dư nợ tương ứng ở một thời điểm nhất định. Tỷ lệ này càng
cao thể hiện ngân hàng có nhiều khoản nợ trung và dài hạn quá hạn hay chất lượng
tín dụng trung và dài hạn là thấp. Ngược lại, chất lượng tín dụng là cao khi tỷ lệ này
càng thấp.
Tuy nhiên khoản vay như thế nào được coi là quá hạn? Theo thông lệ quốc tế,
khi một khoản vay không được trả đúng hạn như đã cam kết thì bị chuyển ngay thành
nợ quá hạn với lãi suất cao hơn lãi suất bình thường. Trước đây ở Việt Nam, theo
Quyết định 284/2000/QĐ-NHNN, chỉ những khoản nợ gốc hoặc nợ lãi không được
trả đúng hạn và không được điều chỉnh kỳ hạn hay gia hạn nợ thì mới chuyển sang
nợ quá hạn, còn số dư nợ còn lại vẫn được coi là trong hạn. Quy định này không
phản ánh đúng thực chất chất lượng tín dụng vì những khoản cho vay trong hạn, nhất
là khoản vay trung và dài hạn có thời gian trong hạn dài, có nguy cơ tiềm ẩn là khó
thu hồi nhưng vẫn được coi là khoản vay hiệu quả. Và câu hỏi đặt ra là liệu tỷ lệ nợ
xấu (nợ khó đòi, nợ chờ xử lý ) trong toàn hệ thống ngân hàng có vượt quá tỷ lệ 9-
10% như đã tổng kết. Nhìn nhận được hạn chế của quy định này, đặc biệt trong điều
kiện hội nhập quốc tế như nước ta hiện nay, Ngân hàng Nhà nướcđã đưa ra quy định
mới. Quy chế cho vay của tổ chức tín dụng ban hành theo Quyết định
1627/2001/QĐ-NHNN có quy định "Khi đến kỳ hạn trả nợ gốc hoặc lãi, nếu khách
hàng không trả nợ đúng hạn và không được điều chỉnh kỳ hạn nợ gốc hoặc lãi hoặc
không được gia hạn nợ gốc hoặc lãi, thì tổ chức tín dụng chuyển toàn bộ số dư nợ
sang nợ quá hạn". Và mới đây trong văn bản chỉnh sửa, bổ sung Quyết định
1627_Quyết định 127/2005/QĐ-NHNN có nhiều thay đổi: " Đối với khoản nợ vay
không trả nợ đúng hạn, được tổ chức tín dụng đánh giá là không có khả năng trả nợ
thu được lãi, đảm bảo được an toàn cho đồng vốn cho vay và cũng góp phần đánh giá
chất lượng tín dụng trung và dài hạn.
* Lãi treo là thuật ngữ dùng để chỉ số tiền đáng lẽ là lãi thu được của ngân
hàng từ hoạt động cho vay trung và dài hạn mà khách hàng chưa trả. Thực tế có thể
hiểu lãi treo ở đây là số tiền lãi của nợ quá hạn trung và dài hạn mà ngân hàng chưa
thu được từ khách hàng. Nó phản ánh mặt trái của chất lượng tín dụng. Số lượng và
tốc độ tăng của lãi treo là một trong những dấu hiệu tiềm ẩn sự giảm sút của chất
lượng tín dụng trung và dài hạn.
1.2.3.Sự cần thiết phải nâng cao chất lượng tín dụng trung và dài hạn
* Đối với ngân hàng
Nâng cao chất lượng tín dụng là nhiệm vụ quan trọng hàng đầu mang tính chất
sống còn đối với hoạt động của ngân hàng vì hoạt động tín dụng là hoạt động chủ yếu
của ngân hàng, đem lại nhiều thu nhập nhất cho ngân hàng nhưng cũng chứa đựng
nhiều rủi ro nhất. Đặc biệt, tín dụng trung và dài hạn với thời hạn dài và khối lượng
lớn thì nếu rủi ro xảy ra thì sẽ gây thiệt hại rất lớn cho ngân hàng.
Chất lượng tín dụng trung và dài hạn được tăng cường sẽ làm gia tăng sinh lợi
của các sản phẩm, dịch vụ ngân hàng do giảm được sự chậm trễ, giảm chi phí nghiệp
vụ, chi phí quản lý, các chi phí thiệt hại do không thu hồi được vốn đã cho vay. Bên
cạnh đó, chất lượng tín dụng trung và dài hạn tạo thuận lợi cho sự tồn tại lâu dài của
ngân hàng bởi chất lượng tín dụng cho phép ngân hàng có những khách hàng trung
thành và những khoản lợi nhuận để bổ sung vốn đầu tư, cải thiện tình hình tài chính
của ngân hàng, tạo thế mạnh cho ngân hàng trong quá trình cạnh tranh.
* Đối với nền kinh tế
Đối với bất kỳ một nền kinh tế nào, vốn trung và dài hạn là rất quan trọng và
cần thiết. Với điều kiện thị trường chứng khoán chưa phát triển thì nguồn vốn trung
và dài hạn do Ngân hàng thương mại cung cấp giữ vai trò đặc biệt quan trọng.
Sự tham gia của nguồn vốn tín dụng trung và dài hạn ngân hàng sẽ góp phần
giảm nhẹ gánh nặng cho Ngân sách Nhà nước, kiềm chế lạm phát, ổn định tiền tệ và
mang lại hiệu quả kinh tế cao. Tín dụng trung và dài hạn thường dùng để đầu tư mở
dụng, đảm bảo khả năng sinh lời của hoạt động tín dụng, từ đó chất lượng tín dụng sẽ
được nâng lên.
* Quy trình tín dụng trung và dài hạn
Một quy trình tín dụng không phù hợp do thiếu các bước hoặc đủ nhưng
không tốt sẽ có thể dẫn ngay đến một khoản vay xấu, hoặc một quy trình chặt chẽ
quá mức cũng bị coi là không hợp lý, không cần thiết, gây tốn kém mất thời gian và
có thể dẫn đến bỏ lỡ cơ hội. Chất lượng tín dụng có được đảm bảo hay không phụ
thuộc vào việc thực hiện tốt các quy định của từng bước và sự phối hợp chặt chẽ,
nhịp nhàng giữa các bước trong quy trình tín dụng.
Trong quy trình tín dụng trung và dài hạn, bước thẩm định rất quan trọng, là
cơ sở để lượng định rủi ro trong quá trình cho vay. Chất lượng tín dụng trung và dài
hạn sẽ phụ thuộc vào kết quả của công tác thẩm định về năng lực, uy tín, tình hình tài
chính và sản xuất của khách hàng, thẩm định dự án đầu tư cũng như những quy định
về điều kiện và thủ tục cho vay của mỗi ngân hàng. Làm tốt công tác thẩm định, ngân
hàng sẽ lựa chọn được những khách hàng tốt và dự án đầu tư có hiệu quả, là điều
kiện để nâng cao chất lượng tín dụng của ngân hàng.
Tuy nhiên, đó chưa phải là sự bảo đảm chắc chắn để có được chất lượng tín
dụng cao, nhất là với tín dụng trung và dài hạn. Bởi lẽ hoạt động sản xuất kinh doanh
của doanh nghiệp trong một thời gian dài luôn chứa đựng những rủi ro tiềm ẩn không
lường trước được. Chính vì vậy, công tác kiểm tra giám sát khoản vay là rất quan
trọng. Công tác kiểm tra, giám sát khoản vay giúp cho ngân hàng nắm được nguyên
nhân diễn biến của khoản tín dụng trung và dài hạn đã cấp để có những hành động
điều chỉnh hay can thiệp khi cần thiết, sớm ngăn ngừa những rủi ro có thể xảy ra.
Việc lựa chọn và áp dụng có hiệu quả các hình thức kiểm tra sẽ thiết lập được một hệ
thống phòng ngừa hữu hiệu, góp phần nâng cao chất lượng tín dụng trung và dài hạn.
Thu nợ và xử lý phát sinh là khâu quan trọng có tính quyết định đến sự tồn tại
của ngân hàng. Do đó ngân hàng phải tích cực trong công tác này. Sự nhạy bén của
ngân hàng trong việc phát hiện kịp thời những điều kiện bất lợi xảy ra đối với khách
hàng cùng những biện pháp xử lý chính xác, đúng lúc sẽ giảm thiểu các khoản nợ quá
cách hợp lý, đề xuất các biện pháp khắc phục nếu dự án không đem lại hiệu quả như
mong muốn nhằm giảm thiểu rủi ro xảy ra cho ngân hàng.
* Công tác tổ chức ngân hàng
Công tác tổ chức tác động một phần không nhỏ đến chất lượng tín dụng. Công
tác này thực hiện tốt được thể hiện bằng việc tổ chức khoa học trong việc phối hợp
nhịp nhàng giữa các phòng ban, có sự thống nhất đoàn kết nhất chí từ ban lãnh đạo
đến cán bộ nhân viên sẽ đáp ứng kịp thời nhu cầu của khách hàng, giúp ngân hàng
quản lý sát sao các khoản cho vay. Đây là cơ sở để tiến hành các nghiệp vụ tín dụng
lành mạnh, nâng cao chất lượng tín dụng.
1.3.2.Nhân tố thuộc về phía khách hàng
Chất lượng tín dụng trung và dài hạn của ngân hàng không chỉ phụ thuộc vào
các hoạt động của bản thân ngân hàng mà còn phụ thuộc vào hoạt động của khách
hàng vay vốn.
* Tính khả thi của dự án vay vốn
Dự án khả thi là các dự án đáp ứng được nhu cầu của thị trường, phù hợp với
phương hướng phát triển kinh tế của ngành, vùng và của Nhà nướcvà có hiệu quả
kinh tế. Dự án vay vốn có khả thi thì cán bộ ngân hàng sẽ dựa vào đó để quyết định
cho vay, quy mô tín dụng sẽ được mở rộng, chất lượng tín dụng trung và dài hạn sẽ
được tăng lên do dự án có khả năng sinh lãi và khả năng trả nợ cho ngân hàng.
* Năng lực tài chính của doanh nghiệp
Năng lực tài chính của doanh nghiệp thể hiện ở khối lượng vốn tự có, hệ số
nợ, khả năng thanh toán, khả năng sinh lãi Tỷ trọng vốn tự có của doanh nghiệp
tham gia vào dự án còn có tác dụng kích thích doanh nghiệp nâng cao trách nhiệm
trong việc thực hiện dự án nhằm tránh rủi ro cho chính doanh nghiệp và cho cả ngân
hàng. Tiềm lực của doanh nghiệp càng cao thì khả năng trả nợ của doanh nghiệp
càng lớn, từ đó nâng cao chất lượng tín dụng. Tuy nhiên, để các ngân hàng có thể
đánh giá được khả năng tài chính của doanh nghiệp thì các báo cáo tài chính của
doanh nghiệp phải đầy đủ, chính xác và tốt nhất phải qua kiểm toán để tránh sự
không trung thực của khách hàng.
lý cho mọi hoạt động sản xuất kinh doanh diễn ra thuận lợi và đạt hiệu quả cao, là cơ
sở pháp lý để giải quyết các tranh chấp xảy ra. Trong hoạt động tín dụng, việc tuân
thủ đúng những quy định trong các văn bản quy phạm pháp luật là rất quan trọng và
sẽ ảnh hưởng đến chất lượng tín dụng. Môi trường pháp lý không chỉ tác động đến
hoạt động của ngân hàng mà còn ảnh hưởng đến hoạt động của doanh nghiệp, từ đó
ảnh hưởng đến chất lượng khoản vay mà ngân hàng cấp cho doanh nghiệp. Chỉ có
trong điều kiện các chủ thể tham gia quan hệ tín dụng tuân thủ một cách nghiêm túc
thì quan hệ tín dụng mới đem lại lợi ích cho cả hai phía, chất lượng tín dụng trung và
dài hạn mới được đảm bảo.
*Môi trường chính trị - xã hội
Đất nước ổn định về chính trị xã hội giúp các doanh nghiệp yên tâm thực hiện
đầu tư phát triển, Ngân hàng thương mại mạnh dạn đầu tư vào các dự án trung và dài
hạn. Sự mất ổn định chính trị - xã hội làm suy thoái đất nước, việc sản xuất kinh
doanh của doanh nghiệp cũng như ngân hàng bị ngưng trệ, có khi phá sản. Vì vậy sự