Chuyên đề thực tập tốt nghiệp GVHD: Th.S. Lê Hương Lan
LỜI NÓI ĐẦU
Hoà cùng xu thế chung của nền kinh tế thế giới, nền kinh tế Việt Nam
đang có những bước phát triển đáng kinh ngạc. Các hoạt động trao đổi hàng
hoá,thương mại, dịch vụ không chỉ diễn ra trong phạm vi lãnh thổ mà còn
vươn ra tầm quốc tế. Các hoạt động này càng phát triển thì kéo theo các rủi
ro ngày càng ra tăng, khi mà các giao dịch có sự ngăn cách về không gian,
thời gian, hệ thống pháp lý cũng như các yếu tố về thị trường. Vì vậy, vấn đề
đặt ra là làm sao hạn chế được các rủi ro như trên, làm sao cho 2 người hoàn
toàn không hiểu biết về nhau, thậm trí không biết mặt nhau mà vẫn có thể trao
đổi, giao lưu hàng hoá với nhau. Có như vậy mới thúc đẩy sản xuất và lưu
thông hàng hoá giữa các quốc gia phát triển. Một trong các biện pháp hạn chế
tối thiểu khả năng xảy ra rủi ro, đó là yêu cầu bảo lãnh của ngân hàng. Với vai
trò là công cụ bảo đảm, công cụ tài trợ và công cụ đôn đốc các bên tham gia
thực hiện hợp đồng, sự xuất hiện của bảo lãnh ngân hàng góp phần thúc đẩy
thương mại quốc tế phát triển.
Hiện nay, việc sử dụng bảo lãnh ngân hàng đang bùng nổ mạnh mẽ,
đóng vai trò xúc tác cho các hợp đồng kinh tế được ký kết dễ dàng đồng thời
cũng đem lại thu nhập đáng kể cho các ngân hàng. Có thể chắc chắn rằng các
giao dịch thương mại lớn mà có yếu tố nước ngoài tham gia thì đi kèm với
các hợp đồng kinh tế bắt buộc phải có thêm hợp đồng bảo lãnh của ngân
hàng. Có như vậy mới tạo được sự tin tưởng tuyệt đối của bạn hàng. Trong
nền kinh tế thị trường luôn tiềm ẩn nhiều rủi ro, thì bảo lãnh của ngân hàng
càng trở nên bức thiết.
Nghiệp vụ bảo lãnh được thực hiện ngân hàng TMCP Bắc Á_ chi
nhánh Hàng Đậu ngay từ những năm đầu thành lập. Mặc dù đây là một
nghiệp vụ ngân hàng còn mới mẻ với các NHTM Việt nam, song với uy tín và
Nguyễn Công Sáng Lớp: Ngân hàng 46Q
1
Chuyên đề thực tập tốt nghiệp GVHD: Th.S. Lê Hương Lan
tiềm lực tài chính của mình, trong những năm qua, chi nhánh đã đáp ứng tốt
1.1.1.1.Sự cần thiết phải ra đời nghiệp vụ bảo lãnh ngân hàng
Nền kinh tế càng phát triển kéo theo sự phát triển không ngừng các
hoạt động giao lưu trao đổi hàng hoá, dịch vụ, thương mại. Các giao dịch
ngày càng gia tăng về mặt số lượng, giá trị, độ phức tạp và được mở rộng
trong phạm vi toàn thế giới. Đặc biệt,trong thương mại quốc tế, các giao dịch
diễn ra có sự ngăn cách về thời gian, không gian, hệ thống pháp luật, điều
kiện thị trường…làm cho các loại rủi ro càng gia tăng như:rủi ro không thực
hiện hợp đồng, rủi ro thanh toán, rủi ro tín dụng…Để phòng ngừa rủi ro, bên
giao hàng hoá thường yêu cầu bên nhận hàng hoá phải có bảo lãnh của bên
thứ 3 ( bên thứ 3 thường là người có uy tín, có tiềm lực tài chính…) và như
thế nghiệp vụ bảo lãnh ra đời.
Trên thực tế, có nhiều tổ chức tài chính cũng phát hành bảo lãnh như:
chính phủ, công ty bảo hiểm. công ty tài chính, công ty chứng khoán… song
chủ yếu phát triển ở các NHTM. Tại sao lại như vậy? Nguyên nhân xuất phát
từ những đặc điểm riêng có của các NHTM đó là:
- NHTM là trung gian tài chính của nền kinh tế với vai trò chủ yếu là
nhận tiền gửi của các tổ chức, cá nhân đem cho vay và đầu tư để thu lợi
nhuận. Thông qua quá trình đó, ngân hàng nắm bắt được rất nhiều thông tin
của khách hàng. Biết được khả năng tài chính của khách hàng thông qua tài
khoản tiền gửi của họ tạo cơ sở cho việc phát hành thư bảo lãnh đúng đắn.
-NHTM thường xuyên cung cấp các dịch vụ tài chính cho nền kinh tế,
Nguyễn Công Sáng Lớp: Ngân hàng 46Q
3
Chuyên đề thực tập tốt nghiệp GVHD: Th.S. Lê Hương Lan
có tiềm lực tài chính cao( vì lĩnh vực kinh doanh là tiền tệ) nên đã xây dựng
được uy tín, cũng như mối quan hệ gắn bó tin tưởng của khách hàng với ngân
hàng. Uy tín của ngân hàng là yếu tố quan tâm hàng đầu của khách hàng khi
quyết định lựa chọn dịch vụ bảo lãnh của ngân hàng( là đối tượng yêu cầu bảo
lãnh).
Như vậy, sự ra đời của bảo lãnh là một yếu tố khách quan, giúp phòng
rất được các ngân hàng chú trọng hoàn thiện và phát triển, nhất là trong điều
kiện mua bán chịu trong giao dịch thương mại ngày càng phổ biến, tiết kiệm
vốn cho cả bên bán hàng và bên mua hàng. Đây là nghiệp vụ mang lại thu
nhập lớn cho các ngân hàng, cũng là công cụ tài trợ ngắn hạn cho các doanh
nghiệp. Ngược lại, các doanh nghiệp và các nhà kinh doanh chủ yếu sử dụng
nghiệp vụ bảo lãnh ngân hàng nhằm đáp ứng nhu cầu vốn ngắn hạn cho công
việc kinh doanh của mình, đồng thời đảm bảo an toàn trong giao dịch trong
kinh doanh.
Tại Việt Nam, từ những năm 80, bảo lãnh đã được đề cập trong các văn
bản pháp luật. Song từ năm 1980 đến năm 1990, bảo lãnh của ngân hàng chỉ
do NHNN thực hiện như một công cụ hỗ trợ kinh doanh cho các doanh
nghiệp nhà nước vay vốn nước ngoài để sản xuất kinh doanh. Sau công cuộc
đổi mới trong hệ thống ngân hàng năm 1998, các NHTM Việt Nam đã có sụ
phát triển đáng ghi nhận,là kênh cung cấp vốn quan trọng cho nền kinh tế đất
nước. Các nghiệp vụ ngân hàng cũng ngày càng phát triển phong phú và đa
dạng. Tuy nhiên, còn nhiều nghiệp vụ ngân hàng mới chỉ thực hiện ở giai
đoạn bước đầu, trong đó có nghiệp vụ bảo lãnh ngân hàng. Nghiệp vụ này hết
sức phức tạp đòi hỏi phải tuân thủ các tập quán và thông lệ quốc tế. Năm
1994, quy chế bảo lãnh và tái bảo lãnh của thống đốc NHNN được ban hành
và lần đầu tiên áp dụng cho các NHTM Việt Nam. Tuy là một nghiệp vụ ngân
hàng mới và chưa có hành lang pháp lý chặt chẽ song bảo lãnh ngân hàng đã
Nguyễn Công Sáng Lớp: Ngân hàng 46Q
5
Chuyên đề thực tập tốt nghiệp GVHD: Th.S. Lê Hương Lan
dần khẳng định vị trí không thể thiếu trong nền kinh tế thị trường hiện đại. Do
yêu cầu bức thiết của nền kinh tế về hoạt động bảo lãnh ngân hàng, các văn
bản pháp lý về nghiệp vụ mới này lần lượt ra đời như:
1Quyết định 192/QĐ-NH ngày 17/09/1992 của thống đốc NHNN về
bảo lãnh và tái bảo lãnh vay vốn nước ngoài.
2Quyết định 196/QĐ-NH14 ngày 19/09/1994 của thống đốc NHNN về
như sau: “Bảo lãnh ngân hàng là cam kết bằng văn bản của TCTD( bên bảo
lãnh) với bên có quyền( bên nhận bảo lãnh) về việc thực hiện nghĩa vụ thay
cho khách hàng( bên được bảo lãnh) khi khách hàng không thực hiện hoặc
thực hiện không đúng nghĩa vụ đã cam kết với bên nhận bảo lãnh. Khách hàng
phải nhận nợ và hoàn trả cho TCTD số tiền đã được trả thay “.
Theo luật các TCTD điều 20 có định nghĩa cụ thể về bảo lãnh của ngân
hàng như sau: “ Bảo lãnh ngân hàng là cam kết bằng văn bản của TCTD với
bên có quyền về việc thực hiện nghĩa vụ tài chính thay cho khách hàng khi
khách hàng không thực hiên đúng nghĩa vụ cam kết; khách hàng phải nhận nợ
và hoàn trả cho các TCTD số tiền đã được trả thay”.
Bộ luật dân sự nước cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam điều 366 có
định nghĩa về bảo lãnh như sau:” Bảo lãnh là việc người thứ ba (gọi là người
bảo lãnh) cam kết với bên có quyền (gọi là người nhận bảo lãnh) sẽ thực hiện
nghĩa vụ thay cho bên có nghĩa vụ ( gọi là bên được bảo lãnh) nếu khi đến thời
hạn mà bên được bảo lãnh không thực hiện hoặc thực hiện không đúng nghĩa
vụ “ .
Hình thức của bảo lãnh ngân hàng là hợp đồng bảo lãnh, hay còn gọi là
thư bảo lãnh. Thư bảo lãnh là văn bản cam kết giữa ngân hàng với khách hàng
về quyền lợi và nghĩa vụ của các bên trong việc bảo lãnh và hoàn trả.
Như vậy, bảo lãnh của ngân hàng là cam kết bằng văn bản, là hình thức
Nguyễn Công Sáng Lớp: Ngân hàng 46Q
7
Chuyên đề thực tập tốt nghiệp GVHD: Th.S. Lê Hương Lan
cấp tín dụng bằng chữ ký. tại thời điểm tham gia bảo lãnh, ngân hàng không
trực tiép xuất vốn mà chỉ dùng khả năng tài chính và uy tín của mình để đảm
bảo thực hiện nghĩa vụ đã cam kết từ trước.
Từ những định nghĩa trên, ta thấy tham gia vào hoạt động bảo lãnh có ít
nhất là ba chủ thể, đó là:
1Bên bảo lãnh: là các TCTD, là bên đứng ra phát hành thư bảo lãnh
cam kết sẽ thực hiện nghĩa vụ thay cho bên được bảo lãnh khi bên này
gia vào hoạt động này có ít nhất ba chủ thể, đó là: bên phát hành bảo lãnh
( ngân hàng), bên được bảo lãnh, bên nhận bảo lãnh. Các chủ thể tham gia có
mối quan hệ với nhau thông qua các hợp đồng: Hợp đồng kinh tế, hợp đồng
bảo lãnh, thư bảo lãnh. Cụ thể như sau:
Trước hết, hoạt động bảo lãnh được phát sinh trong mối quan hệ kinh tế
giữa bên nhận bảo lãnh và bên được bảo lãnh. Hai chủ thể này thoả thuận và
ký kết hợp đồng kinh tế. Trong đó, bên nhận bảo lãnh yêu cầu phải có bảo
lãnh của ngân hàng. Theo đó, bên được bảo lãnh tới ngân hàng yêu cầu ngân
hàng bảo lãnh và chỉ khi bên được bảo lãnh đáp ứng được yêu cầu của của
ngân hàng thì bảo lãnh mới được xác lập. Lúc này, phát sinh những mối quan
hệ sau:
+ Quan hệ giữa ngân hàng và bên được bảo lãnh thông qua hợp đồng
bảo lãnh ( HĐ2). Đó là mối quan hệ giữa ngân hàng cấp tín dụng và bên
hưởng tín dụng.
+ Quan hệ giữa bên bảo lãnh và bên nhận bảo lãnh thông qua cam kết
bảo lãnh( hay thư bảo lãnh). Thư bảo lãnh do ngân hàng phát hành trao cho
bên nhận bảo lãnh trong đó quy định những điều kiện để bên nhận bảo lãnh có
thể nhận được thanh toán của ngân hàng trong trường hợp bên được bảo lãnh
vi phạm nghĩa vụ đã cam kết.
Như vậy, các chủ thể tham gia trong hoạt động bảo lãnh có mối quan
Nguyễn Công Sáng Lớp: Ngân hàng 46Q
9
Chuyên đề thực tập tốt nghiệp GVHD: Th.S. Lê Hương Lan
hệ chặt chẽ với nhau trên cơ sở quyền lợi và nghĩa vụ. Ba hợp đồng trên tuy
độc lập với nhau song nó vẫn có ảnh hường qua lại với nhau. Đó chính là đặc
điểm rất khác biệt của hoạt động bảo lãnh ngân hàng.
1.1.3.2. Bảo lãnh ngân hàng mang tính độc lập.
Mặc dù quan hệ trong bảo lãnh là mối quan hệ đa phương, tuy nhiên
quyền lợi và nghĩa vụ của các chủ thể tham gia lại mang tính độc lập tương
đối. Đây chính là một đặc điểm nổi bật của bảo lãnh. Điều này có nghĩa là
được coi như là một hoạt động ngoại bảng vì hoạt động của nó không làm
thay đổi bảng cân đối kế toán. Tuy nhiên, khi rủi ro xảy ra ( khi khách hàng
không thực hiện hoặc thực hiện không đúng hợp đồng kinh tế đã ký kết với
bên nhânj bảo lãnh) thì ngân hàng phải thực hiện nghĩa vụ thanh toán thay
cho bên nhận bảo lãnh. Đó cũng chính là lúc ngân hàng phải thực sự xuất quỹ
tiền mặt, điều này làm ảnh hưởng đến bảng cân đối kế toán của ngân hàng.
Khoản chi này được xếp vào khoản tín dung “xấu” , cấu thành nợ quá hạn.
Khi đó, hoạt động bảo lãnh đã được chuyển từ tài sản ngoại bảng vào tài sản
nội bảng.
Như vậy, nếu hoạt động bảo lãnh có chất lượng kém không những có
ảnh hưởng xấu tới uy tín của ngân hàng mà còn ảnh hưởng trực tiếp tới tài sản
của ngân hàng. Vì vậy, cần phải cân nhắc kỹ trước khi đưa ra quyết định bảo
lãnh nhằm tránh những khoản tài trợ “ xấu” này.
Luật các tổ chức tín dụng Việt Nam ghi nhận bảo lãnh là một nghiệp vụ
tín dụng của ngân hàng, nhưng từ việc phân tích đặc điểm trên, ta thấy bảo
lãnh không phản ánh đúng bản chất của tín dụng là chuyển lượng giá trị (tài
sản) của chủ thể này cho chủ thể khác. Bảo lãnh chỉ trở thành một hoạt động
tín dụng khi ngân hàng phải xuất tiền ra thanh toán thay cho khách hàng. Khi
đó, bảo lãnh là một khoản cho vay bắt buộc. Ngoài ra, thu nhập từ hoạt động
tín dụng được hạch toán vào thu nhập từ dịch vụ ngân hàng chứ không dựa
Nguyễn Công Sáng Lớp: Ngân hàng 46Q
11
Chuyên đề thực tập tốt nghiệp GVHD: Th.S. Lê Hương Lan
vào chênh lệch lãi suất như hoạt động tín dụng.
1.1.3.4. Bảo lãnh tiến hành trên cơ sở chứng từ.
Tất cả các hoạt động của ngân hàng đều dựa trên cơ sở chứng từ và
hoạt động bảo lãnh cũng không phải là ngoại lệ. Cam kết bảo lãnh của ngân
hàng cũng là một văn bản mà việc thực hiện nghĩa vụ bảo lãnh của ngân hàng
dựa trên văn bản đó. Khi bên được bảo lãnh vi phạm hợp đồng đã ký kết,
muốn được ngân hàng thanh toán, bên nhận bảo lãnh cũng phải mang đến
lợi của cả hai bên, phí phát hành thư tín dụng được phân bổ đều cho cả hai
bên.
- Bảo lãnh và thư tín dụng chịu sự điều chỉnh của các hệ thống pháp
luật khác nhau, kể cả hệ thống pháp luật quốc gia và hệ thống pháp luật quốc
tế.
Tóm lại, điểm khác nhau căn bản giữa thư tín dụng (L/C) và bảo lãnh
là: bảo lãnh là một công cụ bảo đảm còn thư tín dụng là một công cụ thanh
toán.
Nguyễn Công Sáng Lớp: Ngân hàng 46Q
13
Chuyên đề thực tập tốt nghiệp GVHD: Th.S. Lê Hương Lan
1.1.5.2.Phân biệt bảo lãnh với bảo hiểm.
Bảo lãnh ngân hàng Bảo hiểm
- Do ngân hàng thực hiện
- Phí trả một lần khi ký kết hợp đồng
bảo lãnh
- Khách hàng phải ký quỹ hoặc có tài
sản đảm bảo
- Thông thường là ngắn hạn
- Khi rủi ro xảy ra, ngân hàng thanh
toán cho bên thụ hưởng, đồng thời
truy đòi bên được bảo lãnh
- Ngân hàng trả tiền ngay khi bên thụ
hưởng có đầy đủ chứng từ chứng
minh sự vi phạm hợp đồng của bên
được bảo lãnh.
- Do công ty bảo hiểm thực hịên
- Phí trả nhiều lần, tuỳ từng loại hình
bảo hiểm
- Khách hàng không cần ký quỹ, không
Trong bảo lãnh trực tiếp, thường có ba chủ thể tham gia, đó là: ngân
hàng bảo lãnh, bên được bảo lãnh và bên nhận bảo lãnh. Trường hợp bên
nhận bảo lãnh là người nước ngoài, có thể còn có sự tham gia của ngân hàng
thông báo ở cùng quốc gia đó.
Người được bảo lãnh và người nhận bảo lãnh ký kết hợp đồng cơ sở
( hợp đồng kinh tế), làm phát sinh nghĩa vụ cần được bảo lãnh.
Người được bảo lãnh yêu cầu ngân hàng phát hành thư bảo lãnh
(3.1) Ngân hàng phát hành bảo lãnh phát hành thư bảo lãnh gửi tới
người nhận bảo lãnh
(3.2) Trường hợp người nhận bảo lãnh ở nước ngoài, ngân hàng phát
hành sẽ đề nghị ngân hàng đại lý của mình có trụ sở tại nước của người nhận
bảo lãnh, thông báo và chuyển nội dung thư bảo lãnh tới người thụ hưởng.
Ngân hàng này được gọi là ngân hàng thông báo ( Advising bank).
(4) Ngân hàng thông báo thực hiện việc thông báo và chuyển nội dung
thư bảo lãnh tới người nhận bảo lãnh.
Ngân hàng thông báo sẽ chịu trách nhiệm về tính chính xác, tính chân
thực của bảo lãnh như: chữ ký, mã SWIFT, mã Telex…và không chịu trách
nhiệm về nội dung thư bảo lãnh, trách nhiệm thanh toán và những tranh chấp
phát sinh nếu có.
Bảo lãnh gián tiếp
Đây là loại bảo lãnh mà trong đó, ngân hàng bảo lãnh phát hành bảo
Nguyễn Công Sáng Lớp: Ngân hàng 46Q
15
Chuyên đề thực tập tốt nghiệp GVHD: Th.S. Lê Hương Lan
lãnh theo chỉ thị của một ngân hàng trung gian phục vụ cho người được bảo
lãnh dựa trên yêu cầu của người nhận bảo lãnh.
Khi rủi ro xảy ra, ngân hàng phát hành bảo lãnh sẽ thanh toán theo cam
kết bảo lãnh đã phát hành, sau đó yêu cầu ngân hàng chỉ thị trả khoản tiền mà
mình đã thanh toán thay. Như vậy, trong bảo lãnh gián tiếp, người được bảo
lãnh không bồi hoàn trực tiếp cho ngân hàng phát hành bảo lãnh mà chỉ bồi
người thụ hưởng.
Trong nhiều trường hợp, nếu ngân hàng phát hành bảo lãnh và người
thụ hưởng bảo lãnh cũng có sự ngăn cách về vị trí địa lý, gây khó khăn cho
việc gửi thư bảo lãnh đến người thụ hưởng, lúc đó trong bảo lãnh gián tiếp
còn xuất hiện thêm ngân hàng thông báo có trách nhiệm thông báo nội dung
thư bảo lãnh cho người thụ hưởng.
Đồng bảo lãnh.
Đồng bảo lãnh là việc nhiều TCTD cùng bảo lãnh cho một nghiệp vụ
bảo lãnh thông qua một TCTD đầu mối. Đồng bảo lãnh thường áp dụng đối
với những thương vụ lớn, khả năng rủi ro cao hoặc do hạn chế trong quy định
của chính phủ mà một ngân hàng riêng lẻ không thực hiện , lúc đó, họ sẽ kêu
gọi các ngân hàng khác cùng tham gia bảo lãnh với mình. Các ngân hàng
trong quan hệ đồng bảo lãnh thường cử ra một ngân hàng đầu mối có trách
nhiệm phát hành thư bảo lãnh, quản lý tài khoản ký quỹ hoặc tài sản đảm bảo
của khách hàng. Ngân hàng đầu mối cũng có nhiệm vụ thu phí bảo lãnh từ
khách hàng sau đó chia cho từng ngân hàng thành viên tuỳ theo tỷ lệ bảo lãnh
của từng ngân hàng. Khi rủi ro xảy ra, người thụ hưởng đến ngân hàng đầu
mối đòi tiền, ngân hàng này sẽ trả tiền ngay cho người thụ hưởng sau đó truy
đòi các ngân hàng thành viên theo tỷ lệ mà các ngân hàng này cam kết. Các
ngân hàng thành viên phải có trách nhiệm thanh toán với ngân hàng đầu mối,
sau đó mới truy đòi từ người được bảo lãnh.
Nguyễn Công Sáng Lớp: Ngân hàng 46Q
17
Chuyên đề thực tập tốt nghiệp GVHD: Th.S. Lê Hương Lan
Người được bảo lãnh và người thụ hưởng ký kết hợp đồng cơ sở, người
thụ hưởng yêu cầu có bảo lãnh của ngân hàng.
Người được bảo lãnh làm đơn xin được bảo lãnh gửi tới ngân hàng.
Sau khi phân tích khách hàng, xác định mức độ rủi ro. Ngân hàng đầu
mối tiến hành dàn xếp đồng bảo lãnh với các ngân hàng thành viên, xác định
tỷ lệ tham gia đồng bảo lãnh của từng ngân hàng và ký hợp đồng đồng bảo
kiếm các nhà thầu có năng lực và hạn chế những rủi ro khi nhà thầu vi phạm
các điều khoản tham gia dự thầu như: trúng thầu song không thực hiện hợp
đồng, không kê khai đúng các yêu cầu của chủ thầu… Để tránh những rủi ro
như trên, chủ đầu tư thường yêu cầu các bên dự thầu phải ký quỹ (đặt cọc) dự
thầu. Nếu vi phạm, bên dự thầu sẽ mất tiền đặt cọc. Do ký quỹ gây nên nhiều
phiền phức cho cả hai bên, đặc biệt là làm cho một lượng vốn ứ đọng trong
quỹ, không có khả năng sinh lời. Mặt khác, tiền ký quỹ thường có giá trị
không lớn do đó nhiều nhà thầu sau khi ký kết hợp đồng nếu họ tìm được dự
án mới sinh lời cao, họ vẫn “ bỏ” dự án của chủ đầu tư và chấp nhận mất
khoản tiền đã ký quỹ. Như vậy, mặc dù đã ký quỹ nhưng rủi ro vẫn xảy ra,
nhà đầu tư lại tốn kém hơn khi đi tìm nhà thầu mới. Do có những hạn chế khi
xử dụng phương pháp ký quỹ, nhiều chủ đầu tư đã quay sang yêu cầu phải có
cam kết bảo lãnh của ngân hàng. Bằng phương thức này, nhà thầu không cần
ký quỹ mà vẫn có một sự đảm bảo chắc chắn cho các chủ đầu tư.
Trong thời gian vừa qua, các dự án trong các lĩnh vực giao thông, nhà
ở, cơ sở hạ tầng khu công nghiệp, khu chế xuất, bến cảng, sân bay, dầu khí,
bưu điện…được triển khai rộng khắp từ trung ương đến địa phương, từ quy
mô nhỏ đến quy mô lớn. Do vậy, nhu cầu bảo lãnh ngân hàng trong ngành
xây dựng ngày càng cao. Do đó loại bảo lãnh này ngày càng chiếm vị trí quan
trọng trong hoạt động bảo lãnh của ngân hàng cũng như là một loại bảo lãnh
chứa đựng nhiều rủi ro nhất đòi hỏi ngân hàng phải phân tích kĩ khách hàng
Nguyễn Công Sáng Lớp: Ngân hàng 46Q
19
Chuyên đề thực tập tốt nghiệp GVHD: Th.S. Lê Hương Lan
trước khi ra quyết định bảo lãnh.
Bảo lãnh dự thầu sẽ tự động mất hiệu lực trong trường hợp người được
bảo lãnh không trúng thầu.
Bảo lãnh thực hiện hợp đồng.
Là cam kết của ngân hàng về việc chi trả tổn thất thay cho khách hàng
nếu khách hàng không thực hiện đầy đủ hợp đồng như đã cam kết, gây tổn
Giá trị bảo lãnh thường tương đương với toàn bộ số tiền đã ứng trước.
Bảo lãnh vay vốn ( bảo lãnh đảm bảo hoàn trả vốn).
Bảo lãnh vay vốn chính là cam kết của ngân hàng đối với người cho
vay ( tổ chức tín dụng, các cá nhân..) về việc hoàn trả gốc và lãi đúng hạn nếu
khách hàng ( người đi vay) không trả được.
loại bảo lãnh này thường phát sinh trong trường hợp các doanh nghiệp,
tổ chức tín dụng có nhu cầu vay vốn bằng cách phát hành trái phiếu ( thời hạn
vay dài, quy mô khoản vay lớn) song uy tín của người vay trên thị trường
không cao nên việc phát hành sẽ gặp khó khăn ( khó bán ). Do đó để có thể
vay vốn trên thị trường, gạt bỏ những khó khăn khi phát hành trái phiếu, tổ
chức phát hành thường yêu cầu ngân hàng bảo lãnh cho mình khi vay vốn trên
thị trường. Mặt khác, nhu cầu bảo lãnh vay vốn của ngân hàng còn phát sinh
đối với những khoản vay nợ nước ngoài. Lúc đó bên cho vay nước ngoài yêu
cầu phải có bảo lãnh của ngân hàng.
Bảo lãnh đảm bảo thanh toán.
Là cam kết của ngân hàng về việc sẽ thanh toán tiền đúng hợp đồng
thanh toán cho người thụ hưởng nếu khách hàng của ngân hàng không thanh
toán đủ.
Mục đích của loại bảo lãnh này là để bảo vệ người bán trước rủi ro
không thanh toán đầy đủ và đúng hạn của người mua.
Bảo lãnh đảm bảo chất lượng sản phẩm (performance guarantee).
Nguyễn Công Sáng Lớp: Ngân hàng 46Q
21
Chuyên đề thực tập tốt nghiệp GVHD: Th.S. Lê Hương Lan
Đây là một bảo lãnh ngân hàng do TCTD phát hàng cho bên nhận bảo
lãnh với việc đảm bảo cho khách hàng thực hiện đúng các thoả thuận về chất
lượng sản phẩm theo hợp đồng đã ký kết với bên nhận bảo lãnh. Trường hợp
khách hàng bị phạt tiền do không thực hiện đúng các thoả thuận trong hợp
đồng về chất lượng sản phẩm mà không nộp hoặc nộp không đầy đủ tiền phạt
cho bên nhận bảo lãnh, TCTD sẽ thực hiện nghĩa vụ đã cam kết.
Bảo lãnh cam kết chắc chắn (firm commitment underwriting): Đó là
phương thức bảo lãnh trong đó tổ chức bảo lãnh cam kết sẽ mua toàn bộ số
chứng khoán phát hành cho dù có phân phối hết hay không. Đối với loại bảo
lãnh này, tổ chức bảo lãnh se mua chứng khoán của tổ chức phát hành với giá
chiết khấu và bán chứng khoán theo giá chào bán ra công chúng và hưởng
chênh lệch giá. Hoặc, tổ chức bảo lãnh sẽ trả toàn bộ số chứng khoán theo giá
chào bán sau khi trừ đi phần phí và hoa hồng. Tổ chức bảo lãnh sẽ chịu toàn
bộ rủi ro chênh lệch giá trên thị trường.
Bảo lãnh thuế quan: Trong trường hợp hàng hoá được nhập khẩu
vào một nước nào đó nhằm mục đích trưng bày triển lãm, hay tham dự hội trợ
trong một khoảng thời gian xác định rồi sẽ tái xuất hay trong trường hợp một
công ty thi công cần nhập khẩu máy móc vào một nước nào đó để thi công
nhưng sau khi thi công xong lại xuất máy móc đó về nước. Những hàng hoá,
máy móc đó không phải nộp thuế nhập khẩu. Do vậy hải quan của nước mà
hàng hoá tạm nhập sẽ yêu cầu chủ hàng phải có bảo lãnh của ngân hàng để
đảm bảo rằng số hàng hoá đó sẽ được tái xuất. Nếu hàng hoá, thiết bị thực tế
không tái xuất thì hải quan sẽ rút tiền thanh toán từ thư bảo lãnh coi như một
khoản nộp tiền thuế nhập khẩu và tiền phạt.
Bảo lãnh hối phiếu: Đây là cam kết của ngân hàng trả tiền cho
bên thụ hưởng khi hối phiếu đến hạn thanh toán đến hạn thanh toán mà bên
được bảo lãnh không thực hiện đúng trách nhiệm tài chính như đã định. Với
Nguyễn Công Sáng Lớp: Ngân hàng 46Q
23
Chuyên đề thực tập tốt nghiệp GVHD: Th.S. Lê Hương Lan
hình thức bảo lãnh này, bên bảo lãnh phải ghi rõ nội dung kèm theo chữ ký
của người đại diện bên đứng ra bảo lãnh. Ngân hàng chịu trách nhiệm tương
ứng với trách nhiệm của người được bảo lãnh đối với bên thụ hưởng trừ khi
ngân hàng có quy định trên hối phiếu.
Tóm lại, nếu phân loại bảo lãnh theo mục đích, thì bảo lãnh có thể phân
thành rất nhiều loại khác nhau, trong đó mỗi loại bảo lãnh nhằm đối phó với
toán của người này sẽ bị dừng lại nếu bên được bảo lãnh xuất trình những
chứng từ chứng minh họ hoàn thành đúng hợp đồng. Những chứng từ này
cũng phải do bên thứ ba có tư cách độc lập phát hành.
Loại bảo lãnh này đã bảo vệ tốt hơn quyền lợi của người được bảo lãnh
do đòi hỏi điều kiện thanh toán thắt chặt hơn. Về phía ngân hàng, loại bảo
lãnh này yêu cầu ngân hàng phải kiểm tra chứng từ rất phức tạp.
1.1.6.4.Theo bản chất của bảo lãnh.
Bảo lãnh đồng nghĩa vụ.
Là nghiệp vụ bảo lãnh xuất hiện đầu tiên, trong đó bên được bảo lãnh
và ngân hàng được coi là đồng nghĩa vụ. Tuy nhiên, nghĩa vụ của ngân hàng
được coi là nghĩa vụ bổ xung, nghĩa vụ của bên được bảo lãnh được coi là
nghĩa vụ đầu tiên. Nghĩa vụ bổ xung chỉ được thực hiện khi có bằng chứng cụ
thể chứng minh nghĩa vụ đầu tiên bị vi phạm.
Bảo lãnh độc lập
Được coi là một loại bảo lãnh ngân hàng hiện đại, ra đời từ yêu cầu
thực tiễn, bảo lãnh độc lập hoạt động dựa trên hai nguyên tắc:
+ Nguyên tắc độc lập: nghĩa vụ của ngân hàng hoàn toàn tách rời với
nghĩa vụ của người được bảo lãnh.
+ Nguyên tắc phù hợp: Việc thực hiện thanh toán chỉ căn cứ vào điều
kiện đã quy định trong nội dung của thư bảo lãnh.
Khác với bảo lãnh đồng nghĩa vụ đòi hỏi rất nhiều ràng buộc giữa các
Nguyễn Công Sáng Lớp: Ngân hàng 46Q
25