Luận văn tốt nghiệp GVHD: PGS.TS. Nguyễn Thị Bất
LỜI NÓI ĐẦU
Hoà cùng xu thế chung của nền kinh tế thế giới, nền kinh tế Việt Nam đang có
những bước phát triển đáng kinh ngạc. Các hoạt động trao đổi hàng hoá,thương mại,
dịch vụ không chỉ diễn ra trong phạm vi lãnh thổ mà còn vươn ra tầm quốc tế. Các hoạt
động này càng phát triển thì kéo theo các rủi ro ngày càng ra tăng, khi mà các giao dịch
có sự ngăn cách về không gian, thời gian, hệ thống pháp lý cũng như các yếu tố về thị
trường. Vì vậy, vấn đề đặt ra là làm sao hạn chế được các rủi ro như trên, làm sao cho 2
người hoàn toàn không hiểu biết về nhau, thậm trí không biết mặt nhau mà vẫn có thể
trao đổi, giao lưu hàng hoá với nhau. Có như vậy mới thúc đẩy sản xuất và lưu thông
hàng hoá giữa các quốc gia phát triển. Một trong các biện pháp hạn chế tối thiểu khả
năng xảy ra rủi ro, đó là yêu cầu bảo lãnh của ngân hàng. Với vai trò là công cụ bảo đảm,
công cụ tài trợ và công cụ đôn đốc các bên tham gia thực hiện hợp đồng, sự xuất hiện
của bảo lãnh ngân hàng góp phần thúc đẩy thương mại quốc tế phát triển.
Hiện nay, việc sử dụng bảo lãnh ngân hàng đang bùng nổ mạnh mẽ, đóng vai trò
xúc tác cho các hợp đồng kinh tế được ký kết dễ dàng đồng thời cũng đem lại thu nhập
đáng kể cho các ngân hàng. Có thể chắc chắn rằng các giao dịch thương mại lớn mà có
yếu tố nước ngoài tham gia thì đi kèm với các hợp đồng kinh tế bắt buộc phải có thêm
hợp đồng bảo lãnh của ngân hàng. Có như vậy mới tạo được sự tin tưởng tuyệt đối của
bạn hàng. Trong nền kinh tế thị trường luôn tiềm ẩn nhiều rủi ro, thì bảo lãnh của ngân
hàng càng trở nên bức thiết.
Nghiệp vụ bảo lãnh được thực hiện ngân hàng TMCP Bắc Á_ chi nhánh Thái
Hà ngay từ những năm đầu thành lập. Mặc dù đây là một nghiệp vụ ngân hàng còn mới
mẻ với các NHTM Việt nam, song với uy tín và tiềm lực tài chính của mình, trong
những năm qua, chi nhánh đã đáp ứng tốt nhu cầu của thị trường, đem lại thu nhập đáng
kể và dần đưa hoạt động bảo lãnh trở thành một trong những hoạt động chính, không thể
thiếu của ngân hàng.
Được sự giúp đỡ tận tình của PGS. TS Nguyễn Thị Bất, và các anh, chị tại Ngân
hàng TMCP Bắc Á_ chi nhánh Thái Hà, em đã quyết định chọn đề tài: “Mở rộng hoạt
SVTH: Nguyễn Thị Kiều Loan Lớp: Tài Chính Công 45
1
rủi ro, bên giao hàng hoá thường yêu cầu bên nhận hàng hoá phải có bảo lãnh của bên
thứ 3 ( bên thứ 3 thường là người có uy tín, có tiềm lực tài chính…) và như thế nghiệp
vụ bảo lãnh ra đời.
Trên thực tế, có nhiều tổ chức tài chính cũng phát hành bảo lãnh như: chính phủ,
công ty bảo hiểm. công ty tài chính, công ty chứng khoán… song chủ yếu phát triển ở
các NHTM. Tại sao lại như vậy? Nguyên nhân xuất phát từ những đặc điểm riêng có của
các NHTM đó là:
- NHTM là trung gian tài chính của nền kinh tế với vai trò chủ yếu là nhận tiền
gửi của các tổ chức, cá nhân đem cho vay và đầu tư để thu lợi nhuận. Thông qua quá
trình đó, ngân hàng nắm bắt được rất nhiều thông tin của khách hàng. Biết được khả
năng tài chính của khách hàng thông qua tài khoản tiền gửi của họ tạo cơ sở cho việc
phát hành thư bảo lãnh đúng đắn.
-NHTM thường xuyên cung cấp các dịch vụ tài chính cho nền kinh tế, có tiềm
lực tài chính cao( vì lĩnh vực kinh doanh là tiền tệ) nên đã xây dựng được uy tín, cũng
như mối quan hệ gắn bó tin tưởng của khách hàng với ngân hàng. Uy tín của ngân hàng
là yếu tố quan tâm hàng đầu của khách hàng khi quyết định lựa chọn dịch vụ bảo lãnh
của ngân hàng( là đối tượng yêu cầu bảo lãnh).
SVTH: Nguyễn Thị Kiều Loan Lớp: Tài Chính Công 45
3
Luận văn tốt nghiệp GVHD: PGS.TS. Nguyễn Thị Bất
Như vậy, sự ra đời của bảo lãnh là một yếu tố khách quan, giúp phòng ngừa
những rủi ro trong giao dịch tài chính và phi tài chính. Và sự phát triển của bảo lãnh gắn
liền với hoạt động của các NHTM, tổ chức có khả năng cung cấp dịch vụ bảo lãnh tốt
nhất.
1.1.1.2.Sự phát triển của hoạt động bảo lãnh ngân hàng.
Bảo lãnh ngân hàng là một nghiệp vụ quốc tế, được sử dụng rộng rãi từ lâu trên
thế giới. Nhiều tài liệu dẫn chứng, trong giao dịch thương mại, bảo lãnh ngân hàng xuất
hiện lần đầu tiên tại Mỹ vào những năm đầu thập kỷ 60 của thế kỷ 20 như là một dạng
thư tín dụng dự phòng (standby L/C). Ở thời điểm này, bảo lãnh ngân hàng bắt đầu thực
sự được sử dụng như là một hoạt động kinh doanh của ngân hàng. Tuy nhiên, phải tới
nền kinh tế đất nước. Các nghiệp vụ ngân hàng cũng ngày càng phát triển phong phú và đa
dạng. Tuy nhiên, còn nhiều nghiệp vụ ngân hàng mới chỉ thực hiện ở giai đoạn bước đầu,
trong đó có nghiệp vụ bảo lãnh ngân hàng. Nghiệp vụ này hết sức phức tạp đòi hỏi phải
tuân thủ các tập quán và thông lệ quốc tế. Năm 1994, quy chế bảo lãnh và tái bảo lãnh của
thống đốc NHNN được ban hành và lần đầu tiên áp dụng cho các NHTM Việt Nam. Tuy
là một nghiệp vụ ngân hàng mới và chưa có hành lang pháp lý chặt chẽ song bảo lãnh
ngân hàng đã dần khẳng định vị trí không thể thiếu trong nền kinh tế thị trường hiện đại.
Do yêu cầu bức thiết của nền kinh tế về hoạt động bảo lãnh ngân hàng, các văn bản pháp
lý về nghiệp vụ mới này lần lượt ra đời như:
Quyết định 192/QĐ-NH ngày 17/09/1992 của thống đốc NHNN về bảo lãnh
và tái bảo lãnh vay vốn nước ngoài.
Quyết định 196/QĐ-NH14 ngày 19/09/1994 của thống đốc NHNN về quy
chế nghiệp vụ bảo lãnh ngân hàng. Đây là cơ sở pháp lý đầu tiên về nghiệp vụ
bảo lãnh của các NHTM.
Quyết định 283/2000/QĐ-NHNN14 ngày 25/08/2000 của thống đốc NHNN
về việc ban hành quy chế bảo lãnh ngân hàng thay thế cho các quyết định
trước đây. Đây chính là một bước hoàn thiện cơ sở pháp lý đầu tiên cho các
hoạt động bảo lãnh ngân hàng.
Quyết định 386/QĐ-NHNN ngày 11/04/2001 về việc sửa đổi bổ xung một số
điều trong quy chế bảo lãnh ngân hàng.
SVTH: Nguyễn Thị Kiều Loan Lớp: Tài Chính Công 45
5
Luận văn tốt nghiệp GVHD: PGS.TS. Nguyễn Thị Bất
Quyết định số 112/2003/QĐ-NHNN về việc sửa đổi bổ xung quy chế bảo
lãnh ngân hàng.
Đến nay, hoạt động bảo lãnh ngân hàng đã phát triển một cách nhanh chóng, đem
lại nguồn thu lớn cho các NHTM. Và trong tương lai, nghiệp vụ này còn phát triển hơn
nữa trước những đòi hỏi bức thiết của nền kinh tế thị trường và sẽ trở thành một trong
những hoạt động chính của các NHTM trong tiến trình hội nhập.
Nghiệp vụ bảo lãnh được thực hiện tại ngân hàng TMCP Bắc Á ngay từ khi
nghĩa vụ của các bên trong việc bảo lãnh và hoàn trả.
Như vậy, bảo lãnh của ngân hàng là cam kết bằng văn bản, là hình thức cấp tín
dụng bằng chữ ký. tại thời điểm tham gia bảo lãnh, ngân hàng không trực tiép xuất vốn
mà chỉ dùng khả năng tài chính và uy tín của mình để đảm bảo thực hiện nghĩa vụ đã
cam kết từ trước.
Từ những định nghĩa trên, ta thấy tham gia vào hoạt động bảo lãnh có ít nhất là
ba chủ thể, đó là:
Bên bảo lãnh: là các TCTD, là bên đứng ra phát hành thư bảo lãnh cam kết
sẽ thực hiện nghĩa vụ thay cho bên được bảo lãnh khi bên này vi phạm nghĩa
vụ đã cam kết với bên nhận bảo lãnh. Theo quy định của quyết định
283/2000/QĐ-NHNN14, TCTD thực hiện nghĩa vụ bảo lãnh bao gồm: Các
ngân hàng thương mại nhà nước, ngân hàng thương mại cổ phần, ngân hàng
đầu tư, ngân hàng phát triển, ngân hàng chính sách, ngân hàng liên doanh, chi
nhánh ngân hàng nước ngoài tại Việt Nam, ngân hàng hợp tác, các loại hình
ngân hàng khác và các TCTD phi ngân hàng được thành lập và hoạt động
theo luật các TCTD ( gọi chung là các TCTD); các ngân hàng được Thống
đốc ngân hàng nhà nước cho phép thực hiện thanh toán quốc tế được thực
hiện bảo lãnh vay, bảo lãnh thanh toán và các hình thức bảo lãnh khác mà bên
nhận bảo lãnh là các tổ chức, cá nhân nước ngoài; TCTD thực hiện bảo lãnh
hối phiếu, lệnh phiếu theo quy định của pháp luật về thương phiếu.
Bên được bảo lãnh: là bên yêu cầu ngân hàng mở thư bảo lãnh. Theo quy
chế bảo lãnh (ban hành kèm theo quyết định 283/2000/QĐ-NHNN14), bên
được bảo lãnh gồm: Các doanh nghiệp nhà nước, các loại hình doanh nghiệp
theo quy định của luật doanh nghiệp, hợp tác xã, các doanh nghiệp có vốn đầu
SVTH: Nguyễn Thị Kiều Loan Lớp: Tài Chính Công 45
7
Luận văn tốt nghiệp GVHD: PGS.TS. Nguyễn Thị Bất
tư nước ngoài, doanh nghiệp nước ngoài tham gia hợp đồng hợp tác liên
doanh và các dự án đầu tư tại Việt Nam hoặc vay vốn để thực hiện các dự án
tại Việt Nam, các tổ chức tín dụng, hộ kinh doanh cá thể và các cá nhân trong
+ Quan hệ giữa bên bảo lãnh và bên nhận bảo lãnh thông qua cam kết bảo
lãnh( hay thư bảo lãnh). Thư bảo lãnh do ngân hàng phát hành trao cho bên nhận bảo
lãnh trong đó quy định những điều kiện để bên nhận bảo lãnh có thể nhận được thanh
toán của ngân hàng trong trường hợp bên được bảo lãnh vi phạm nghĩa vụ đã cam kết.
Như vậy, các chủ thể tham gia trong hoạt động bảo lãnh có mối quan hệ chặt chẽ
với nhau trên cơ sở quyền lợi và nghĩa vụ. Ba hợp đồng trên tuy độc lập với nhau song
nó vẫn có ảnh hường qua lại với nhau. Đó chính là đặc điểm rất khác biệt của hoạt động
bảo lãnh ngân hàng.
1.1.3.2. Bảo lãnh ngân hàng mang tính độc lập.
Mặc dù quan hệ trong bảo lãnh là mối quan hệ đa phương, tuy nhiên quyền lợi và
nghĩa vụ của các chủ thể tham gia lại mang tính độc lập tương đối. Đây chính là một đặc
điểm nổi bật của bảo lãnh. Điều này có nghĩa là việc thực hiện nghĩa vụ bảo lãnh không
phụ thuộc vào bất cứ giao dịch hay yếu tố nào ngoài giao dịch bảo lãnh. Ngân hàng phải
có trách nhiệm thanh toán cho bên nhận bảo lãnh khi bên này yêu cầu và có bằng chứng
chứng minh sự vi phạm hợp đồng của bên được bảo lãnh. Ngân hàng không thể viện vào
các lý do thuộc về mối quan hệ giữa ngân hàng với bên được bảo lãnh như: bên được
bảo lãnh còn nợ ngân hàng hay bên được bảo lãnh vi phạm hợp đồng với ngân hàng…để
trì hoãn hoặc không thực hiện thanh toán cho bên nhận bảo lãnh. Khi có yêu cầu thanh
toán, ngân hàng phải thanh toán ngay cho bên nhận bảo lãnh sau đó mới quay ra thu nợ
đối với bên được bảo lãnh. Lúc đó, hình thức cấp tín dụng bằng chữ ký chuyển sang cấp
tín dụng bằng tiền. Khoản nợ này se được chuyển sang khoản nợ xấu, khó đòi của ngân
hàng, ngân hàng phải trích lập dự phòng rủi ro.
Mặc dù vậy, tính độc lập của bảo lãnh chỉ mang tính tương đối. Tuỳ từng trường
hợp mà tính độc lập có thể cao hoặc cũng có thể thập. Tính độc lập của bảo lãnh phụ
thuộc vào các điều kiện đi kèm. Nếu bảo lãnh yêu cầu kèm theo quyết định của trọng tài
SVTH: Nguyễn Thị Kiều Loan Lớp: Tài Chính Công 45
9
Luận văn tốt nghiệp GVHD: PGS.TS. Nguyễn Thị Bất
hay toà án thì nghĩa vụ bảo lãnh của ngân hàng không chỉ phụ thuộc vào thoả thuận
trong thư bảo lãnh mà còn phải phụ thuộc vào quyết định của người thứ ba là trọng tài
1.1.3.4. Bảo lãnh tiến hành trên cơ sở chứng từ.
Tất cả các hoạt động của ngân hàng đều dựa trên cơ sở chứng từ và hoạt
động bảo lãnh cũng không phải là ngoại lệ. Cam kết bảo lãnh của ngân hàng cũng
là một văn bản mà việc thực hiện nghĩa vụ bảo lãnh của ngân hàng dựa trên văn
bản đó. Khi bên được bảo lãnh vi phạm hợp đồng đã ký kết, muốn được ngân
hàng thanh toán, bên nhận bảo lãnh cũng phải mang đến ngân hàng những chứng
từ phù hợp với hợp đồng bảo lãnh. Nếu chứng từ không phù hợp, ngân hàng có
quyền từ chối yêu cầu thanh toán.
1.1.4.Vai trò của ngân hàng khi thực hiện hoạt động bảo lãnh
1.1.4.1.Cung cấp công cụ đảm bảo cho khách hàng
Bằng việc cam kết sẽ thanh toán cho bên nhận bảo lãnh khi bên được bảo lãnh
không thực hiện hoặc thực hiện không đúng nghĩa vụ trong hợp đồng kinh tế, bảo lãnh
đã tạo niềm tin với bên nhận bảo lãnh. Và như thế, hợp đồng kinh tế được hình thành
một cách dễ dàng.
Với chức năng này, bảo lãnh thực sự trở thành chất xúc tác giúp cho các hợp
đồng thương mại, xây dựng, giao dịch hàng hoá trong nước và quốc tế được ký kết một
các xuôn sẻ.
1.1.4.2. Đôn đốc khách hàng thực hiện hợp đồng
Bảo lãnh không chỉ là một công cụ đảm bảo mà còn là công cụ thúc đẩy việc thực
hiện hợp đồng. Bằng những giàng buộc về tài chính, ngân hàng buộc bên được bảo lãnh
trong hợp đồng kinh tế đã ký kết, ngân hàng đã tạo ra áp lực thực hiện đúng hợp đồng,
làm giảm thiểu những vi phạm từ phía người được bảo lãnh. Ngoài ra, ngân hàng còn
thường xuyên kiểm tra, giám sát tăng tính hiệu quả cho việc thực hiện hợp đồng đã ký
kết
1.1.5.Phân biệt bảo lãnh với một số hình thức bảo đảm khác
1.1.5.1.phân biệt bảo lãnh với thư tín dụng (L/C)
- Nghiệp vụ bảo lãnh có chức năng đảm bảo quyền lợi cho người thụ hưởng khi
rủi ro xảy ra, còn thư tín dụng có chức năng đảm bảo thanh toán cho người thụ hưởng
SVTH: Nguyễn Thị Kiều Loan Lớp: Tài Chính Công 45
11
- Khi rủi ro xảy ra, công ty bảo hiểm thanh
toán cho người thụ hường số tiền trích từ
quỹ bảo hiểm dưới hình thức san sẻ rủi ro từ
những người đóng phí bảo hiểm.
- Khi rủi ro xảy ra, công ty bảo hiểm không
trả ngay tiền bảo hiểm mà phải thu thập
bằng chứng và xác định mức độ thiệt hại
1.1.6.Phân loại bảo lãnh ngân hàng.
Bảo lãnh ngân hàng rất phong phú và đa dạng về loại hình, tuỳ theo phương thức
phát hành, mục đích, điều kiện thanh toán, bản chất… mà người ta phân bảo lãnh thành
các loại hình khác nhau.
1.1.6.1.Căn cứ theo phương thức phát hành bảo lãnh.
SVTH: Nguyễn Thị Kiều Loan Lớp: Tài Chính Công 45
12
Luận văn tốt nghiệp GVHD: PGS.TS. Nguyễn Thị Bất
Theo phương thức này, bảo lãnh được chia thành: bảo lãnh trực tiếp, bảo lãnh
gián tiếp và đồng bảo lãnh.
Bảo lãnh trực tiếp ( Direct guarantee).
Bảo lãnh trực tiếp là một loại bảo lãnh mà trong đó, ngân hàng phát hành
chịu trách nhiệm trực tiếp cho bên được bảo lãnh. Sau khi thực hiện nghĩa vụ thay, ngân
hàng phát hành bảo lãnh có quyền truy đòi số tiền đã thanh toán thay từ phía người được
bảo lãnh.
Loại bảo lãnh này chịu sự chi phối của luật trong nước và khi hết hạn có thể trực
tiếp tất toán với người được bảo lãnh mà không cần có sự hoàn trả thư bảo lãnh. Ưu
điểm của loại bảo lãnh này là người được bảo lãnh không phải mất thêm chi phí hoa
hồng cho ngân hàng đại lý nước ngoài.
Trong bảo lãnh trực tiếp, thường có ba chủ thể tham gia, đó là: ngân hàng bảo
lãnh, bên được bảo lãnh và bên nhận bảo lãnh. Trường hợp bên nhận bảo lãnh là người
nước ngoài, có thể còn có sự tham gia của ngân hàng thông báo ở cùng quốc gia đó.
Sơ đồ 1.2: bảo lãnh trực tiếp (Direct guarantee)
Đây là loại bảo lãnh mà trong đó, ngân hàng bảo lãnh phát hành bảo lãnh theo chỉ
thị của một ngân hàng trung gian phục vụ cho người được bảo lãnh dựa trên yêu cầu của
người nhận bảo lãnh.
Khi rủi ro xảy ra, ngân hàng phát hành bảo lãnh sẽ thanh toán theo cam kết bảo
lãnh đã phát hành, sau đó yêu cầu ngân hàng chỉ thị trả khoản tiền mà mình đã thanh
toán thay. Như vậy, trong bảo lãnh gián tiếp, người được bảo lãnh không bồi hoàn trực
tiếp cho ngân hàng phát hành bảo lãnh mà chỉ bồi hoàn cho ngân hàng chỉ thị, ngân hàng
phục vụ người được bảo lãnh. Trách nhiệm bồi hoàn của ngân hàng chỉ thị được thể hiện
thông qua một cam kết gọi là cam kết bảo lãnh đối ứng do chính ngân hàng này đưa ra.
Bảo lãnh đối ứng cũng có đầy đủ các nội dung và điều khoản quy định như trong bảo
lãnh chính, Việc áp ụng bảo lãnh gián tiếp thường do người nhận bảo lãnh yêu cầu nhằm
thuận lợi hơn trong giao dịch đòi tiền sau này.
Trong bảo lãnh đối ứng thường có ít nhất bốn bên tham gia. Đó là: ngân hàng chỉ
thị ( ngân hàng phục vụ người được bảo lãnh), ngân hàng phát hành bảo lãnh, là ngân
SVTH: Nguyễn Thị Kiều Loan Lớp: Tài Chính Công 45
14
Luận văn tốt nghiệp GVHD: PGS.TS. Nguyễn Thị Bất
hàng do người nhận bảo lãnh yêu cầu, người được bảo lãnh và người nhận bảo lãnh.
Nhiều trường hợp, trong bảo lãnh gián tiếp có rất nhiều các bên tham gia do người nhận
bảo lãnh và người được bảo lãnh có sự ngăn cách quá lớn về vị trí địa lý, khiến cho
người nhận bảo lãnh không yên tâm về khả năng an toàn của các giao dịch mà mình sắp
thực hiên.
Bảo lãnh gián tiếp thường xảy ra với những giao dịch kinh tế có yếu tố nước
ngoài tham gia. Khi đó, người nhận bảo lãnh chỉ chấp nhận giao dịch khi được ngân
hàng ở nước họ đứng ra bảo lãnh, và như vậy bảo lãnh gián tiếp được hình thành.
Sơ đồ 1.3: bảo lãnh gián tiếp
(3)
(2) (4)
(1)
(1) Người được bảo lãnh và người nhận bảo lãnh ký hợp đồng cơ sở làm phát
khách hàng sau đó chia cho từng ngân hàng thành viên tuỳ theo tỷ lệ bảo lãnh của từng
ngân hàng. Khi rủi ro xảy ra, người thụ hưởng đến ngân hàng đầu mối đòi tiền, ngân
hàng này sẽ trả tiền ngay cho người thụ hưởng sau đó truy đòi các ngân hàng thành viên
theo tỷ lệ mà các ngân hàng này cam kết. Các ngân hàng thành viên phải có trách nhiệm
thanh toán với ngân hàng đầu mối, sau đó mới truy đòi từ người được bảo lãnh.
Sơ đồ 1.4: đồng bảo lãnh của ngân hàng:
(3a)
(4)
(3b) (1)
(3c) (2)
SVTH: Nguyễn Thị Kiều Loan Lớp: Tài Chính Công 45
16
Ngân hàng 1
Ngân hàng 2
Người được
bảo lãnh
Ngân hàng 3
Người thụ hưởng
Ngân hàng
đầu mối
Luận văn tốt nghiệp GVHD: PGS.TS. Nguyễn Thị Bất
(1) Người được bảo lãnh và người thụ hưởng ký kết hợp đồng cơ sở, người thụ
hưởng yêu cầu có bảo lãnh của ngân hàng.
(2) Người được bảo lãnh làm đơn xin được bảo lãnh gửi tới ngân hàng.
(3) Sau khi phân tích khách hàng, xác định mức độ rủi ro. Ngân hàng đầu mối
tiến hành dàn xếp đồng bảo lãnh với các ngân hàng thành viên, xác định tỷ lệ
tham gia đồng bảo lãnh của từng ngân hàng và ký hợp đồng đồng bảo lãnh
với tưng ngân hàng thành viên( 3a,3b,3c).
(4) Ngân hàng đầu mối phát hành thư bảo lãnh gửi tới người thụ hưởng.
Bảo lãnh giáp lưng
trong quỹ, không có khả năng sinh lời. Mặt khác, tiền ký quỹ thường có giá trị không lớn
do đó nhiều nhà thầu sau khi ký kết hợp đồng nếu họ tìm được dự án mới sinh lời cao,
họ vẫn “ bỏ” dự án của chủ đầu tư và chấp nhận mất khoản tiền đã ký quỹ. Như vậy,
mặc dù đã ký quỹ nhưng rủi ro vẫn xảy ra, nhà đầu tư lại tốn kém hơn khi đi tìm nhà
thầu mới. Do có những hạn chế khi xử dụng phương pháp ký quỹ, nhiều chủ đầu tư đã
quay sang yêu cầu phải có cam kết bảo lãnh của ngân hàng. Bằng phương thức này, nhà
thầu không cần ký quỹ mà vẫn có một sự đảm bảo chắc chắn cho các chủ đầu tư.
Trong thời gian vừa qua, các dự án trong các lĩnh vực giao thông, nhà ở, cơ sở hạ
tầng khu công nghiệp, khu chế xuất, bến cảng, sân bay, dầu khí, bưu điện…được triển
khai rộng khắp từ trung ương đến địa phương, từ quy mô nhỏ đến quy mô lớn. Do vậy,
nhu cầu bảo lãnh ngân hàng trong ngành xây dựng ngày càng cao. Do đó loại bảo lãnh
này ngày càng chiếm vị trí quan trọng trong hoạt động bảo lãnh của ngân hàng cũng như
là một loại bảo lãnh chứa đựng nhiều rủi ro nhất đòi hỏi ngân hàng phải phân tích kĩ
khách hàng trước khi ra quyết định bảo lãnh.
Bảo lãnh dự thầu sẽ tự động mất hiệu lực trong trường hợp người được bảo lãnh
không trúng thầu.
Bảo lãnh thực hiện hợp đồng.
Là cam kết của ngân hàng về việc chi trả tổn thất thay cho khách hàng nếu
khách hàng không thực hiện đầy đủ hợp đồng như đã cam kết, gây tổn thất cho
bên thứ ba.
Bảo lãnh thực hiện hợp đồng được sử dụng để thay thế cho yêu cầu ký quỹ mà
người đặt hàng đề nghị đối với người cung ứng để đảm bảo bồi thường vi phạm hợp đồng.
SVTH: Nguyễn Thị Kiều Loan Lớp: Tài Chính Công 45
18
Luận văn tốt nghiệp GVHD: PGS.TS. Nguyễn Thị Bất
Loại bảo lãnh này nhằm chống đỡ rủi ro cho người thụ hưởng, giá trị bảo lãnh của loại
hợp đồng này tương đương với mức bồi thường. Số tiền và thời hạn bảo lãnh của ngân
hàng là số tiền và thời hạn ghi trong thư bảo lãnh khớp đúng với đề nghị của bên được bảo
lãnh, phù hợp với hợp đồng thực hiện nhưng không trái với quy định chung.
Các hợp đồng được bảo lãnh như: hợp đồng cung cấp hàng hoá, xây dựng, thiết
mình khi vay vốn trên thị trường. Mặt khác, nhu cầu bảo lãnh vay vốn của ngân hàng
còn phát sinh đối với những khoản vay nợ nước ngoài. Lúc đó bên cho vay nước ngoài
yêu cầu phải có bảo lãnh của ngân hàng.
Bảo lãnh đảm bảo thanh toán.
Là cam kết của ngân hàng về việc sẽ thanh toán tiền đúng hợp đồng thanh
toán cho người thụ hưởng nếu khách hàng của ngân hàng không thanh toán đủ.
Mục đích của loại bảo lãnh này là để bảo vệ người bán trước rủi ro không
thanh toán đầy đủ và đúng hạn của người mua.
Bảo lãnh đảm bảo chất lượng sản phẩm (performance guarantee).
Đây là một bảo lãnh ngân hàng do TCTD phát hàng cho bên nhận bảo lãnh với
việc đảm bảo cho khách hàng thực hiện đúng các thoả thuận về chất lượng sản phẩm
theo hợp đồng đã ký kết với bên nhận bảo lãnh. Trường hợp khách hàng bị phạt tiền do
không thực hiện đúng các thoả thuận trong hợp đồng về chất lượng sản phẩm mà không
nộp hoặc nộp không đầy đủ tiền phạt cho bên nhận bảo lãnh, TCTD sẽ thực hiện nghĩa
vụ đã cam kết.
Một số loại hình bảo lãnh khác.
Bảo lãnh nghĩa vụ tài chính đối với các cơ quan công quyền như thuế, phí, lệ
phí.Bên thụ hưởng chính là cơ quan thuế quan, hải quan, toà án…của nhà
nước. Nhờ có loại bảo lãnh này mà các doanh nghiệp tránh được những khó
khăn tạm thời về mặt ngân quỹ.
Bảo lãnh phát hành chứng khoán: Khi một công ty muốn phát hành chứng
khoán của mình ra thị trường thì công ty đó phải được thị trường đánh giá
cao.Hay nói cách khác, công ty đó phải có uy tín trên thị trường thì việc bán
chứng khoán mới được dễ dàng. Đối với những công ty mới thành lập, uy tín
trên thị trường chưa cao, việc phát hành chứng khoán của công ty sẽ gặp rất
nhiều khó khăn. Để khắc phục tình trạng này, nhiều công ty đã yêu cầu một
SVTH: Nguyễn Thị Kiều Loan Lớp: Tài Chính Công 45
20
Luận văn tốt nghiệp GVHD: PGS.TS. Nguyễn Thị Bất
ngân hàng lớn đứng ra bảo lãnh cho số cổ phiếu mà họ sẽ phát hành. Ngân
Luận văn tốt nghiệp GVHD: PGS.TS. Nguyễn Thị Bất
hoá tạm nhập sẽ yêu cầu chủ hàng phải có bảo lãnh của ngân hàng để đảm
bảo rằng số hàng hoá đó sẽ được tái xuất. Nếu hàng hoá, thiết bị thực tế
không tái xuất thì hải quan sẽ rút tiền thanh toán từ thư bảo lãnh coi như một
khoản nộp tiền thuế nhập khẩu và tiền phạt.
Bảo lãnh hối phiếu: Đây là cam kết của ngân hàng trả tiền cho bên thụ hưởng
khi hối phiếu đến hạn thanh toán đến hạn thanh toán mà bên được bảo lãnh
không thực hiện đúng trách nhiệm tài chính như đã định. Với hình thức bảo
lãnh này, bên bảo lãnh phải ghi rõ nội dung kèm theo chữ ký của người đại
diện bên đứng ra bảo lãnh. Ngân hàng chịu trách nhiệm tương ứng với trách
nhiệm của người được bảo lãnh đối với bên thụ hưởng trừ khi ngân hàng có
quy định trên hối phiếu.
Tóm lại, nếu phân loại bảo lãnh theo mục đích, thì bảo lãnh có thể phân thành rất
nhiều loại khác nhau, trong đó mỗi loại bảo lãnh nhằm đối phó với một loại rủi ro nhất
định.
1.1.6.3.Theo điều kiện thanh toán.
Bảo lãnh vô điều kiện ( bảo lãnh theo yêu cầu)
Đối với loại bảo lãnh này, khi rủi ro xảy ra người thụ hưởng chỉ cần nộp vào
ngân hàng văn bản đề nghị thanh toán mà không phải nộp kèm các chứng từ chứng minh
mức độ thiệt hại do người được bảo lãnh gây ra. Khi nhận được yêu cầu thanh toán này,
ngân hàng cũng không được đòi hỏi bất cứ một chứng từ nào mà phải thanh toán cho
người thụ hưởng một cách vô điều kiện
Bảo lãnh vô điều kiện thể hiện tính độc lập cao giữa việc bảo lãnh và hợp
đồng gốc. Nói một cách khác, ngân hàng không được từ chối thanh toán. Loại bảo
lãnh này rất có lợi cho người thụ hưởng vì họ không mất thời gian trong việc đòi
bồi thường từ phía ngân hàng. Nhưng loại bảo lãnh này cũng gây bất lợi cho
người được bảo lãnh do việc lập yêu cầu thanh toán hoàn toàn dựa trên nhận định
chủ quan của người nhận bảo lãnh.
Bảo lãnh kèm chứng từ ( bảo lãnh có điều kiện).
SVTH: Nguyễn Thị Kiều Loan Lớp: Tài Chính Công 45
SVTH: Nguyễn Thị Kiều Loan Lớp: Tài Chính Công 45
23
Luận văn tốt nghiệp GVHD: PGS.TS. Nguyễn Thị Bất
+ Nguyên tắc phù hợp: Việc thực hiện thanh toán chỉ căn cứ vào điều kiện đã quy
định trong nội dung của thư bảo lãnh.
Khác với bảo lãnh đồng nghĩa vụ đòi hỏi rất nhiều ràng buộc giữa các bên, bảo
lãnh độc lập đem lại sự thuận lợi đơn giản cho các bên trong việc thực hiện các quyền và
nghĩa vụ của mình. Vì vậy, ngày nay, bảo lãnh độc lập được thực hiện rộng rãi trong các
giao dịch thương mại đặc biệt là trong thương mại quốc tế.
1.1.7.Quy trình nghiệp vụ bảo lãnh
(5) (2) (3) (4)
(1)
(1) Khách hàng kí các hợp đồng với bên thứ ba về thanh toán, về xây dựng, hay
vay vốn… Bên thứ ba yêu cầu phải có bảo lãnh của ngân hàng;
(2) Khách hàng làm đơn xin được bảo lãnh gửi tới ngân hàng. Ngân hàng sẽ thực
hiện phân tích khách hàng để tìm hiểu về yêu cầu của bảo lãnh cũng như mức
độ rủi ro. Nếu đồng ý, ngân hàng và khách hàng sẽ ký hợp đồng bảo lãnh và
phát hành thư bảo lãnh;
(3) Ngân hàng ( hoặc khách hàng) thông báo về thư bảo lãnh cho bên thứ ba;
(4) Theo như đã thoả thuận với khách hàng và bên thứ ba; ngân hàng thực hiện
nghĩa vụ bảo lãnh với bên thứ ba nếu nghĩa vụ đó xảy ra;
(5) Theo như hợp đồng bảo lãnh đã ký với khách hàng; ngân hàng yêu cầu bên
được bảo lãnh phải thực hiện nghĩa vụ tài chính đối với ngân hàng ( trả nợ
gốc, lãi, hoặc phí).
Bước 1: Khách hàng làm đơn xin được bảo lãnh gửi ngân hàng. Trong đó ghi rõ
số tiền, điều kiện bảo lãnh. Ngân hàng phân tích khách hàng, hợp đồng kinh tế giữa
SVTH: Nguyễn Thị Kiều Loan Lớp: Tài Chính Công 45
24
Ngân hàng bảo lãnh
Bên được bảo lãnh Bên nhận bảo lãnh
SVTH: Nguyễn Thị Kiều Loan Lớp: Tài Chính Công 45
25