TIỂU LUẬN:
Nâng cao năng lực cạnh tranh
của Ngân hàng thương mại cổ
phần An Bình
LỜI MỞ ĐẦU
Trong thời đại ngày nay, hội nhập kinh tế quốc tế đang diễn ra mạnh mẽ và trở thành
một xu thế phổ biến trên thế giới, biểu hiện rõ nét của xu thế này chính là việc ra đời của các
liên kết khu vực và quốc tế như ASEAN, EU, WTO Việt Nam cũng không nằm ngoài xu
thế đó, với việc gia nhập hiệp hội ASEAN, ký kết hiệp định thương mại song phương với
Hoa Kỳ, và chính thức trở thành thành viên thứ 150 của WTO đã đánh dấu quá trình hội
nhập của Việt Nam vào kinh tế thế giới.
Việc chính thức là thành viên của WTO đem lại cho Việt Nam những cơ hội và
cũng đặt ra nhiều thách thức. Chính điều này đã yêu cầu phải có định hướng phát triển
bền vững. Một nhân tố quan trọng góp phần đáng kể vào sự phát triển kinh tế cần phải kể
đến sự phát triển của các ngân hàng thương mại.
THƯƠNG MẠI
1.1 NĂNG LỰC CẠNH TRANH CỦA NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI
1.1.1. Cạnh tranh và năng lực cạnh tranh của ngân hàng thương mại
1.1.1.1. Khái niệm về cạnh tranh
Cạnh tranh là một hiện tượng gắn liền với kinh tế thị trường, khái niệm cạnh tranh
đã xuất hiện trong quá trình hình thành và phát triển sản xuất, trao đổi hàng hóa và phát
triển kinh tế thị trường.
Có nhiều quan điểm khác nhau khi nói về cạnh tranh như:
Theo từ điển kinh doanh của Anh, cạnh tranh được hiểu là: “Sự ganh đua, kình
địch giữa các nhà kinh doanh trên thị trường nhằm tranh giành cùng một loại tài nguyên
sản xuất hoặc cùng một loại khách hàng về phía mình”.
Theo Karl Marx cạnh tranh được hiểu như sau: “Cạnh tranh có nghĩa là sự đấu
tranh, ganh đua, thi đua giữa các đối tượng cùng phẩm chất, cùng loại, đồng giá trị nhằm
đạt được những ưu thế, lợi ích, mục tiêu xác định”.
Theo những quan điểm này thì cạnh tranh được hiểu là các mối quan hệ kinh tế, ở
đó các chủ thể kinh tế ganh đua nhau tìm mọi biện pháp để đạt mục tiêu kinh tế của
mình, thông thường là chiếm lĩnh thị trường, giành lấy khách hàng cũng như các điều
kiện sản xuất, thị trường có lợi nhất. Mỗi chủ thể kinh tế buộc phải chấp nhận cạnh tranh,
ganh đua với nhau, phải không ngừng tiến bộ để giành được ưu thế so với các đối thủ.
Cạnh tranh là môi trường tạo động lực thúc đẩy sản xuất kinh doanh, phát triển và tăng
năng suất lao động, hiệu quả của các tổ chức, là nhân tố quan trọng làm lành mạnh hóa
các quan hệ xã hội.
Có nhiều cách phân loại cạnh tranh. Theo cấp độ nghiên cứu thì cạnh tranh được
chia làm 3 loại hình sau:
Cạnh tranh ở cấp độ quốc gia hay nền kinh tế.
Cạnh tranh ở cấp độ doanh nghiệp.
kiệm, cho vay cũng như các loại hình dịch vụ tài chính khác; đồng thời trong hoạt động kinh
doanh của mình các ngân hàng cũng thường mở tài khoản cho nhau để cùng phục vụ các đối
tượng khách hàng chung.
Ba là, cạnh tranh ngân hàng thông qua thị trường có sự can thiệp gián tiếp và thường
xuyên của NHTW của mỗi quốc gia hoặc của khu vực. Hoạt động của các NHTM có liên
quan tới rất nhiều chủ thể khác nhau trong nền kinh tế nên để tránh nguy cơ xảy ra rủi ro
hệ thống, NHTW đều có sự giám sát chặt chẽ thị trường này và đưa ra hệ thống cảnh báo
sớm để phòng ngừa rủi ro. Vì vậy, sự cạnh tranh trong hệ thống các NHTM không thể
dẫn đến làm suy yếu và thôn tính lẫn nhau như các loại hình kinh doanh khác trong nền
kinh tế.
Bốn là, sự cạnh tranh của các NHTM là loại hình cạnh tranh bậc cao, đòi hỏi
những chuẩn mực khắt khe hơn bất cứ loại hình kinh doanh nào khác. Điều đó là do hoạt
động của các NHTM liên quan đến lưu chuyển tiền tệ, không chỉ phạm vi trong một
nước, mà có liên quan đến nhiều nước để hỗ trợ cho các hoạt động kinh tế đối ngoại; vì
thế, hoạt động kinh doanh trong hệ thống NHTM chịu sự chi phối của nhiều yếu tố trong
nước và quốc tế như: Môi trường pháp luật, tập quán kinh doanh của các nước, các thông
lệ quốc tế… đặc biệt là chịu sự chi phối mạnh mẽ của điều kiện cơ sở hạ tầng, trong đó
công nghệ thông tin đóng vai trò cực kỳ quan trọng.
1.1.1.3 Khái niệm về năng lực cạnh tranh
Năng lực cạnh tranh là thuật ngữ được sử dụng rộng rãi, nhưng đến nay vẫn còn
rất nhiều các quan điểm khác nhau về năng lực cạnh tranh. Một cách chung nhất, theo từ
điển thuật ngữ kinh tế học thì “năng lực cạnh tranh là khả năng giành được thị phần lớn
trước các đối thủ cạnh tranh trên thị trường, kể cả khả năng giành lại một phần hay toàn
bộ thị phần của đồng nghiệp”.
NHTM là một doanh nghiệp đặc biệt do đó năng lực cạnh tranh của NHTM có
nhiều điểm giống với năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp. Tuy nhiên, năng lực cạnh
tranh của NHTM có thể được định nghĩa như sau: “Năng lực cạnh tranh của NHTM là
khả năng ngân hàng đó tạo ra, duy trì và phát triển những lợi thế nhằm duy trì và mở rộng
thị phần; đạt được mức lợi nhuận cao hơn mức trung bình của ngành và liên tục tăng
Khả năng huy động vốn là một trong những tiêu chí đánh giá tình hình hoạt động
kinh doanh của các ngân hàng. Khả năng huy động vốn tốt tức là ngân hàng đó sử dụng
các sản phẩm dịch vụ, hay công cụ huy động vốn có hiệu quả, thu hút được khách hàng.
Khả năng huy động vốn của ngân hàng thường được thể hiện qua các chỉ tiêu sau:
- Quy mô tổng nguồn vốn huy động;
- Tốc độ tăng trưởng của tổng nguồn vốn huy động;
- Tổng nguồn vốn huy động/ Tổng nguồn vốn;
Chất lượng tài sản có
Tài sản có của ngân hàng là phần nguồn vốn đưa vào kinh doanh và duy trì khả
năng thanh toán của ngân hàng đó. Chất lượng tài sản có là chỉ tiêu hợp nhất phản ánh
khả năng bền vững về mặt tài chính, khả năng sinh lời và năng lực quản lý của một ngân
hàng. Đây là yếu tố quan trọng hàng đầu và cũng là yếu tố phức tạp nhất trong phân tích
hoạt động ngân hàng. Chất lượng tài sản có được thể hiện thông qua các chỉ tiêu như:
- Tốc độ tăng trưởng tín dụng;
- Tỷ lệ nợ xấu/ Tổng tài sản;
- Tổng dư nợ/ Nguồn vốn huy động;
- Khả năng thu hồi các khoản nợ xấu;
Mức sinh lời
Mức sinh lời không những phản ánh kết quả tình hình hoạt động kinh doanh của
NHTM mà còn phản ánh một phần kết quả cạnh tranh của NHTM.
+ ROE (Reture on equity – thu nhập ròng trên vốn CSH)
Thu nhập sau thuế
ROE = x 100 (%)
Vốn chủ sở hữu
ROE là tỷ số phản ánh mức độ sinh lời cho chủ sở hữu từ một đồng vốn họ bỏ ra, đo
lường tỷ lệ thu nhập của các cổ đông đền bù cho việc chấp nhận rủi ro và đầu tư vào ngân
hàng. Vì vậy, ROE luôn được các chủ ngân hàng và các nhà quản lý quan tâm. ROE cao sẽ
Tỷ lệ thu ngoài lãi cận biên đo lường mức chênh lệch giữa nguồn thu ngoài lãi
(gồm chủ yếu là thu từ phí dịch vụ) và chi phí ngoài lãi (gồm chi phí trả lương, chi phí
sửa chữa, bảo hành thiết bị và chi phí tổn thất tín dụng). Mặc dù thu từ phí dịch vụ tăng
rất nhanh trong thời gian gần đây nhưng các chi phí ngoài lãi thường lớn hơn, do vậy mà
tỷ lệ này ở các ngân hàng thường âm.
* Các chỉ tiêu định tính phản ánh năng lực cạnh tranh của ngân hàng thương mại
Các chỉ tiêu định tính thường được dùng để phản ánh năng lực cạnh tranh của
NHTM là: năng lực ứng dụng công nghệ thông tin, năng lực quản lý, mạng lưới kênh
phân phối, mức độ đa dạng hóa và chất lượng của các sản phẩm dịch vụ, nguồn nhân lực,
danh tiếng và khả năng hợp tác.
Năng lực ứng dụng công nghệ thông tin
Để nâng cao chất lượng sản phẩm dịch vụ nhằm đáp ứng mọi yêu cầu của khách
hàng thì nhu cầu công nghệ là vô cùng quan trọng. Công nghệ góp phần tạo nên những
chuyển biến mang tính độc đáo và tiện ích hơn, công nghệ là yếu tố tạo nên sự khác biệt
trong kinh doanh giữa các NHTM. Công nghệ thông tin trong lĩnh vực ngân hàng bao gồm:
hệ thống thanh toán điện tử, hệ thống ngân hàng bán lẻ, hệ thống máy rút tiền tự động
(ATM), hệ thống thông tin quản lý, hệ thống báo cáo rủi ro Vì vậy, khả năng nâng cấp và
đổi mới công nghệ của các NHTM cũng là chỉ tiêu phản ánh năng lực công nghệ của một
ngân hàng.
Năng lực quản lý, điều hành
Năng lực quản lý phản ánh năng lực điều hành của hội đồng quản trị cũng như ban
giám đốc của ngân hàng. Năng lực quản trị, kiểm soát và điều hành của nhà lãnh đạo trong
ngân hàng có vai trò rất quan trọng trong việc đảm bảo tính hiệu quả, an toàn trong hoạt
động ngân hàng. Tầm nhìn của nhà lãnh đạo là yếu tố then chốt để ngân hàng có một chiến
lược kinh doanh đúng đắn trong dài hạn. Một số tiêu chí thể hiện năng lực quản trị của ngân
hàng là:
Tâm lý của người tiêu dùng luôn là yếu tố quyết định đến sự sống còn đến hoạt
động của NHTM với hiệu ứng dây chuyền do tâm lý của người tiêu dùng mang lại. Vì
thế, danh tiếng và uy tín của NHTM là yếu tố nội lực vô cùng to lớn, nó quyết định sự
thành công hay thất bại cho ngân hàng đó trên thương trường. Việc gia tăng thị phần,
mở rộng mạng lưới hoạt động, tăng thu nhập phụ thuộc rất nhiều vào uy tín của
NHTM.
Ngoài danh tiếng và uy tín của mình, các NHTM còn phải thể hiện được sự liên
kết lẫn nhau trong hoạt động kinh doanh của mình, sự kiện một NHTM hợp tác với một
TCTD có uy tín và danh tiếng khác trên thương trường, hoặc sự hợp tác chiến lược giữa
các ngân hàng hay tổ chức tài chính, tập đoàn kinh tế lớn nào cũng góp phần nâng cao
sức mạnh cạnh tranh của NHTM đó trên thương trường.
1.1.2.2 Các nhân tố ảnh hưởng đến năng lực cạnh tranh của ngân hàng thương mại
* Những yếu tố thuộc môi trường vĩ mô
Những nhân tố thuộc môi trường kinh tế
Ngành ngân hàng là một ngành luôn đi kèm với sự phát triển của nền kinh tế. Các
yếu tố thuộc môi trường kinh tế ảnh hưởng đến hoạt động kinh doanh của ngân hàng như:
nội lực của nền kinh tế quốc gia được thể hiện qua quy mô và mức độ tăng trưởng của
GDP, dự trữ ngoại hối…; độ ổn định của nền kinnh tế vĩ mô thông qua các chỉ tiêu như chỉ
số lạm phát, lãi suất, tỷ giá hối đoái, cán cân thanh toán quốc tế…; độ mở cửa của nền kinh
tế thể hiện qua các rào cản, nguồn vốn đầu tư trực tiếp, hoạt động xuất nhập khẩu; tiềm
năng tài chính, hiệu quả hoạt động của các doanh nghiệp hoạt động trên địa bàn trong nước
và hoạt động của các doanh nghiệp nước ngoài vào trong nước.
Những nhân tố thuộc môi trường chính trị, pháp luật và vai trò của Chính phủ
Đây là ba yếu tố cơ bản tạo nên thể chế quốc gia đồng thời cũng có những tác
động đến năng lực cạnh tranh của NHTM. Môi trường chính trị ổn định sẽ tạo điều kiện
cho việc thu hút đầu tư, thúc đẩy kinh tế phát triển. Do đó, sẽ có những tác động tốt đến
hoạt động kinh doanh của các doanh nghiệp cũng như các NHTM.
ngành, lĩnh vực khác như tin học viễn thông, giáo dục đào tạo, kiểm toán… cũng có
những ảnh hưởng đến sự phát triển cũng như năng lực cạnh tranh của ngân hàng. Đây là
những ngành phụ trợ mà sự phát triển của nó giúp ngân hàng nhanh chóng đa dạng hóa
các dịch vụ, tạo lập thương hiệu và uy tín, thu hút nguồn nhân lực cũng như có những kế
hoạch đầu tư hiệu quả trong một thị trường tài chính vững mạnh.
Sự gia tăng nhu cầu sử dụng dịch vụ ngân hàng trong nền kinh tế
Với sự tự do hóa và hội nhập thị trường tài chính tiền tệ, sự cạnh tranh đối với
ngành ngân hàng tất yếu sẽ ngày càng trở nên gay gắt và quyết liệt hơn, không những là
sự cạnh tranh giữa các ngân hàng mà còn là sự cạnh tranh của các ngân hàng với các tổ
chức tài chính phi ngân hàng khác. Cạnh tranh giữa các ngân hàng không chỉ dừng lại ở
các dịch vụ truyền thống mà mở rộng ra các loại dịch vụ ngân hàng hiện đại khác. Hơn
nữa nhu cầu về các dịch vụ này ngày càng cao thể hiện ở các mặt sau:
Sự biến đổi về cơ cấu dân cư, sự tăng dân số, sự tăng lên của các khu công nghiệp,
khu đô thị mới dẫn đến nhu cầu sử dụng dịch vụ ngân hàng tăng lên rõ rệt.
Thu nhập bình quân đầu người ở hầu hết các quốc gia đều được nâng lên, qua đó
các dịch vụ ngân hàng cũng sẽ có những bước phát triển tương ứng.
Các hoạt động giao thương quốc tế ngày càng phát triển làm gia tăng nhu cầu
thanh toán quốc tế qua ngân hàng.
Số lao động di cư giữa các quốc gia tăng lên nên nhu cầu chuyển tiền cũng như
thanh toán qua ngân hàng có chiều hướng tăng cao.
Ngoài ra, thị trường tài chính càng phát triển thì khách hàng càng có nhiều sự lựa
chọn. Các yêu cầu của khách hàng đối với dịch vụ ngân hàng sẽ ngày càng cao hơn cả về
chất lượng, giá cả, các tiện ích lẫn phong cách phục vụ. Đây chính là áp lực buộc các
ngân hàng phải đổi mới và hoàn thiện mình hơn nhằm đáp ứng nhu cầu của khách hàng
và nâng cao khả năng cạnh tranh của mình.
* Các nhân tố thuộc môi trường vi mô
Tác nhân từ phía các NHTM mới tham gia thị trường
Các NHTM mới tham gia thị trường có những lợi thế quan trọng so với các
NHTM hiện tại như: mở ra những tiềm năng mới; có động cơ và ước vọng giành được thị
phần; đã tham khảo kinh nghiệm từ những NHTM đang hoạt động; có đầy đủ các thống
phương pháp đánh giá theo mô hình SWOT.
Phân tích SWOT là việc đánh giá một cách chủ quan các dữ liệu được sắp xếp
theo định dạng SWOT dưới một trật tự lôgic dễ hiểu, dễ trình bày, có thể sử dụng trong
mọi quá trình ra quyết định. Mẫu phân tích SWOT được trình bày dưới dạng ma trận 2
cột 2 hàng, chia làm bốn phần: Strengths, Weaknesses, Opportunities và Threats Trong đó, Strengths và Weaknesses là các yếu tố nội tại của công ty còn
Opportunities và Threats là các nhân tố tác động bên ngoài. SWOT cho phép phân tích
các yếu tố khác nhau có ảnh hưởng tương đối đến khả năng cạnh tranh của công ty.
Sau khi thiết lập xong mô hình SWOT có thể phân tích và hiểu được những yếu tố
chủ quan và khách quan sẽ tác động thế nào đến ngân hàng. Từ đó sẽ biết được đâu là
điểm mạnh để tập trung phát huy và phát triển, đâu là điểm xấu để cải thiện và khắc
phục, biết tận dụng thời cơ và giảm thiểu rủi ro cho ngân hàng. Có thể mở rộng mô hình
SWOT để lập kế hoạch chiến lược cho ngân hàng, nâng cao khả năng cạnh tranh của
ngân hàng bằng các sử dụng ma trận.
Strengths (điểm mạnh) Weaknesse (Điểm yếu)
Opportunities
(Cơ hội)
Các mặt mạnh của ngân
hàng có phát huy khi xuất
hiện những cơ hội không?
Các mặt yếu có làm mất đi
khả năng tận dụng cơ hội
không?
Threats
THỰC TRẠNG VỀ NĂNG LỰC CẠNH TRANH CỦA NGÂN HÀNG THƯƠNG
MẠI CỔ PHẦN AN BÌNH (ABBANK).
2.1. GIỚI THIỆU VỀ NGÂN HÀNG TMCP AN BÌNH.
2.1.1. Quá trình hình thành và phát triển
Ngân hàng TMCP An Bình đã được Ngân hàng Nhà Nước Việt Nam (NHNN) cấp
giấy phép hoạt động Ngân hàng số 0031/NH-GP ngày 15 tháng 4 năm 1993, và có hiệu
lực từ ngày 18 tháng 9 năm 1997 trong thời hạn 20 năm.
Với vốn điều lệ kể từ khi thành lập là 1 tỷ đồng, sau hơn 15 năm phát triển đến nay
ABBank đã có sự bứt phá mạnh mẽ cả về chất lượng lẫn số lượng.
Với tôn chỉ hoạt động:
Thứ nhất: Phục vụ khách hàng với sản phẩm, dịch vụ an toàn, hiệu quả và linh hoạt.
Thứ hai: Tăng trưởng lợi ích cho cổ đông.
Thứ ba: Hướng tới sự phát triển toàn diện, bền vững của Ngân hàng.
Cuối cùng: Đầu tư vào yếu tố con người làm nền tảng cho sự phát triển lâu dài.
ABBank đang hướng dần đến thành một ngân hàng Thương Mại Cổ phần hàng đầu
Việt Nam, hoạt động đa năng theo mô hình một Tập đoàn Tài Chính – Ngân Hàng, hoạt
động chuyên nghiệp theo những thông lệ quốc tế tốt nhất với năng lực hiện đại, đủ cạnh
tranh với các ngân hàng trong nước và quốc tế đang hoạt động tại Việt Nam.
2.1.2 Quá trình phát triển của ngân hàng An Bình
Sau 15 năm phát triển và trưởng thành, ABBank đã có sự bứt phá mạnh với những
cột mốc đáng chú ý sau đây:
Thành lập vào tháng 4 năm 1993 với vốn điều lệ là 1 tỷ đồng và trụ sở đặt tại 138
Hùng Vương thị trấn An Lạc huyện Bình Chánh, thành phố Hồ Chí Minh.
Tháng 3 năm 2002
Tháng 3 năm 2002, ABBank tiến hành cải cách mạnh mẽ về cơ cấu và nhân sự để tập
trung vào chuyên ngành kinh doanh ngân hàng thương mại và ngân hàng đầu tư.
Năm 2005
Tháng 3/2008
ABBank ký kết hợp tác chiến lược với Maybank–Ngân hàng lớn nhất Malaysia. Với
vai trò là đối tác chiến lược của ABBank, Maybank cam kết chia sẻ công nghệ, nhân sự
cũng như kinh nghiệm trong các lĩnh vực.
Tháng 4/2008
ABBank được trao giải “Ngân hàng thanh toán quốc tế xuất sắc năm 2007” do
Wachoiviabank – một trong bốn ngân hàng lớn nhất của Mỹ trao tặng.
ABBank được trao giải “Nhãn hiệu nổi tiếng quốc gia 2008” do hội sở hữu trí tuệ Việt
Nam trao tặng.
Tháng 9/2008
Maybank chính thức trở thành cổ đông chiến lược nước ngoài của ABBank với tỷ lệ sở
hữu là 15%. Theo đó, Maybank sẽ cử người tham gia công tác quản trị điều hành và kiểm
soát tại ABBank.
Tháng 3/2009
Tăng vốn điều lệ lên 3482 tỷ đồng với tỷ lệ sở hữu của Maybank la 20%.
Tháng 1/2010
ABBANK vinh dự được Bộ Công thương trao tặng giải thưởng Doanh nghiệp
Thương mại Dịch vụ tiêu biểu trong hệ thống giải thưởng Top Trade Services uy tín được
tổ chức hàng năm.
2.1.3 Mô hình, cơ cấu tổ chức của abbank.
Căn cứ kết quả hoạt động kinh doanh, tình hình phát triển, quy mô hoạt động, đặc thù
thị trường của khu vực đầu tư, năng lực và trình độ quản lý chuyên môn, chức năng
nhiệm vụ của ngân hàng, bộ máy tổ chức của ABBank bao gồm: Đại hội cổ đông, Hội
đồng quản trị, Ban giám đốc, Ban kiểm soát, ban thư ký, sở giao dịch và các chi nhánh (
xem hình 1.1 ).
Mô hình tổ chức bộ máy quản trị của ngân hàng là mô hình Trực tuyến chức năng.
Theo mô hình này, Trưởng các chi nhánh và Trưởng phòng các phòng ban của chi nhánh
KH
ỐI NGUỒN VỐN & KD
NGOẠI HỐI
BAN CLPT M
ẠNG LƯ
ỚI
MIỀN BẮC & MIỀN TRUNG
BAN PT KHÁCH HÀNG
CHI
ẾN L
Ư
ỢC
KH
ỐI QUẢN LÝ RỦI RO
KH
ỐI HỖ TRỢ PHÁP LÝ
KHỐI KHÁCH HÀNG
CÁ NHÂN
KHỐI KHÁCH HÀNG
DOANH NGHI
ỆP
KHỐI MARKETING
KHỐI NHÂN SỰ
KHỐI ĐIỀU
CN SƠN LA
BAN KIỂM
SOÁT
BAN THƯ KÝ
2.1.3.1 Tình hình hoạt động kinh doanh của abbank trong những năm gần đây
(2006 – 2009)
Trước những cơ hội và thách thức của thị trường, với những bước đi chiến lược hợp
lý, chỉ sau hơn 3 năm chuyển từ mô hình ngân hàng cổ phần nông thôn sang mô hình của
một ngân hàng cổ phần đô thị, ABBANK đã có được một diện mạo hoàn toàn mới và trở
thành một trong những ngân hàng có tốc độ phát triển vào loại nhanh nhất trên thị trường
Việt Nam hiện nay.
2.1.3.1 Kết quả kinh doanh của Abbank trong những năm 2006-2009
Bảng 2.1: Một số chỉ tiêu về hoạt động kinh doanh của Ngân hàng An Bình
Đơn vị tính: tỷ đồng
TT Chỉ tiêu Năm 2006 Năm 2007
Năm 2008
Năm 2009
1 Tổng tài sản 3.680
9.114
13.394
19.747.024
397.517
6 Chi phí hoạt động 121.236
146.269
246.401
253.279
7 Lợi nhuận sau thuế 102.256
156.235
162.256
374.9063(Nguồn: Báo cáo thường niêm Ngân hàng TMCP An Bình)
Tính tới thời điểm ngày 31 tháng 12 năm 2009, vốn điều lệ của ABBANK đạt
3.482.512 triệu đồng , tổng tài sản đạt 19.747.024 triệu đồng. Tổng huy động vốn đạt
7.145.068 triệu đồng và tổng dư nợ toàn hệ thống đạt 8.852.980 triệu đồng. Lợi nhuận
sau thuế đạt 374.9063 triệu đồng. Nếu so sánh với thời điểm cuối năm 2005, khi Ngân
hàng An Bình mới chuyển đổi sang mô hình ngân hàng đô thị thì hầu hết các chỉ tiêu
phản ánh quy mô hoạt động của Ngân hàng đểu tăng trưởng vượt bậc, thể hiện bước
chuyển mình mạnh mẽ, tạo nên một diện mạo mới cho Ngân hàng.
Với chủ trương mở rộng nhằm nâng cao năng lực cạnh tranh và đem lại dịch vụ tốt
165.000 Quyết định số 1513/NHNN-HCM02 13/07/2005
500.000 Quyết định số 677/NHNN-HCM02 02/6/2006
990.000 Quyết định số 1254/NHNN-HCM02 15/09/2006
1.131.951 Quyết định số 1517/NHNN-HCM02 06/11/2006
2.300.000 Quyết định số 863/NHNN-HCM02 13/06/2007
2.705.882 Quyết định số 875/NHNN-HCM02 2/6/2008
3.482.512 Quyết định số 885/NHNN-HCM02 15/3/2009
(Nguồn: Báo cáo thường niên năm 2009)
Với lần tăng vốn điều lệ lên 3.482.512 triệu đồng vào quý I năm 2009, ABBank đã
phát hành 63.237.448 cổ phần tương đương 20% vốn điều lệ cho cổ đông chiến lược
nước ngoài Maybank.
Trên cơ sở các quan hệ đã được thiết lập với các cổ đông chiến lược (EVN, PVFC,
GELEX-IMCO) và các công ty thành viên của họ là các đơn vị có nguồn tiền thanh toán
và tiền gửi lớn, kết quả huy động vốn từ các doanh nghiệp đạt tỷ trọng cao, tăng 851% từ
141,678 tỉ đồng lên 1.369,356 tỉ đồng chiếm 72,52% tổng huy động của ngân hàng (năm
2006), năm 2007 đạt 5.501 tỉ tăng 323%
Huy động tiết kiệm từ các hộ dân cư tăng 382% từ 4,106 tỉ đồng lên 197,994 tỉ đồng
chiếm 10,74% tổng huy động của toàn ngân hàng (năm 2006), năm 2007 đạt 1.480 tỉ tăng
478%
Tình hình sử dụng vốn
.
Ngay từ những năm đầu đi vào hoạt động, Ngân hàng An Bình đã xác định mục tiêu
chiến lược là tích cực mở rộng hoạt động tín dụng trên nguyên tắc “đảm bảo an toàn và
hiệu quả” nhằm đảm bảo khả năng sinh lời và khả năng thanh khoản cho đồng vốn, chủ
động tìm kiếm khách hàng, doanh nghiệp thuộc nhiều thành phần kinh tế khác nhau từ
2008 (%)
- Ngắn hạn 425
1.153
171,2
5.932
414,4
5.619
(5,3)
- Trung hạn 226
611
170,5
2.921
337,8
2.356
(19,3)
- Dài hạn 22
lãnh đạo Ngân hàng trong điều kiện thị trường tài chính có những bước phát triển mới.
Tuy nhiên, bước sang năm 2008 -2009 , hoạt động tín dụng của ABBANK lại có xu
hướng chững lại và có phần sụt giảm. Nguyên nhân trực tiếp của hiện tượng này là do
những ảnh hưởng bất lợi từ cuộc khủng hoảng tài chính toàn cầu diễn ra vào nửa cuối
năm 2008. Đây cũng có thể coi là biện pháp cần thiết của Ban lãnh đạo Ngân hàng nhằm
hạn chế những rủi ro có thể gặp phải trong điều kiện nền kinh tế đang rơi vào suy thoái,
bởi đây là thời điểm mà nguy cơ phát sinh nợ xấu là rất cao.
Tình hình dư nợ của ABBANK qua các năm
Dư nợ của ABBANK những năm qua cũng đã có tốc độ tăng trưởng rất nhanh, cơ
cấu dư nợ cũng có những chuyển biến tích cực, phản ánh đúng thực tế phát triển của
Ngân hàng. Trong đó, tỷ lệ nợ xấu (từ nhóm 3 đến nhóm 5) của Ngân hàng đã có xu
hướng được cải thiện, tuy nhiên còn chưa ổn định, bước sang năm 2008 -2009, do những
tác động tiêu cực từ cuộc khủng hoảng kinh tế thế giới, mặt trái của tình trạng tăng
trưởng dư nợ “nóng” trong những năm trước đó đã bắt đầu bộc lộ tại hệ thống các ngân
hàng thương mại nói chung, ABBANK nói riêng. Theo đó, tỷ lệ nợ xấu của Ngân hàng
An Bình đã tăng lên đột biến, từ mức 1,5% của năm 2007 đã tăng lên tới mức 4,2% thời
điểm cuối năm 2008, đến năm 2009 là 3,5 %. Có thể nói, tỷ lệ nợ xấu tăng đột biến trong
năm 2008 có nguyên nhân chủ yếu từ những biến động kinh tế vĩ mô mang tính khách
quan.
Bảng 2.6: Tổng dư nợ và cơ cấu giá trị dư nợ cho vay của ABBANK
Đơn vị tính: tỷ đồng
Chỉ tiêu
Năm 2006 Năm 2007 Năm 2008 Năm 2009
Số
dư
Tỷ
100
Trong đó: nợ
xấu
11
2,9
30
1,5,
103
4,2
275
3,5
Theo thành phần kinh tế
DN Nhà nước 16
3,9
2
0,2
31,2
2.647
38,6
2.722
41,6
Theo thời gian