TIỂU LUẬN: Lợi nhuận và các giải pháp tăng lợi nhuận tại Công ty TNHH in Trường Đạt - Pdf 11


TIỂU LUẬN:

Lợi nhuận và các giải pháp tăng
lợi nhuận tại Công ty TNHH in
Trường Đạt


bày chuyên đề thành 3 chương như sau:
Chương I: Lý luận chung về lợi nhuận và các giải pháp tăng lợi nhuận tại
doanh nghiệp
Chương II: Tình hình thực hiện lợi nhuận tại Công ty TNHH in Trường
Đạt
Chương III: Những giải pháp góp phần tăng lợi nhuận tại Công ty TNHH
in Trường Đạt

Chương I
lý luận chung về lợi nhuận và các giảI pháp tăng lợi nhuận tại doanh nghiệp

1. Lợi nhuận và tỷ suất lợi nhuận của doanh nghiệp
1.1 Lợi nhuận của doanh nghiệp trong nền kinh tế thị truờng
Doanh nghiệp là một tổ chức kinh tế thực hiện các hoạt động sản xuất, cung
ứng hàng hoá cho người tiêu dùng qua thị trường nhằm mục đích sinh lời.
Trong nền kinh tế thị trường, quá trình kinh doanh của doanh nghiệp được
biểu hiện trong quá trình hình thành, phân phối và sử dụng các quĩ tiền tệ thể hiện
qua sự luân chuyển vốn tiền tệ.
Sơ đồ: T - H SX H’ - T’ ( T’= T + t1)
Quá trình sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp thực chất là quá trình biến
đổi các yếu tố đầu vào thông qua hoạt động sản xuất của doanh nghiệp thành các
yếu tố đầu ra là các sản phẩm, hàng hoá dịch vụ phục vụ nhu cầu tiêu dùng toàn xã
hội. Như vậy, từ một lượng vốn tiền ban đầu (T) qua quá trình sản xuất doanh
nghiệp thu về một lượng vốn tiền khác (T’) lớn hơn với chênh lệch (t1) và (t1 = T’ -

chất và tinh thần của người lao động trong doanh nghiệp.
- Lợi nhuận là một chỉ tiêu chất lượng tổng hợp phản ánh hiệu quả của toàn
bộ hoạt động sản xuất kinh doanh, việc giảm chi phí sản xuất, hạ giá thành sản
phẩm sẽ làm lợi nhuận tăng lên một cách trực tiếp khi các điều kiện khác không đổi.
Do đó, lợi nhuận là một chỉ tiêu đánh giá chất lượng hoạt động sản xuất kinh doanh
của doanh nghiệp.
Đứng trên góc độ của doanh nghiệp để xem xét thì lợi nhuận trong năm của
doanh nghiệp bao gồm:
- Lợi nhuận từ hoạt động sản xuất kinh doanh.
- Lợi nhuận hoạt động tài chính.
- Lợi nhuận khác.
1.1.1 Lợi nhuận từ hoạt động sản xuất kinh doanh
Lợi nhuận hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp là khoản chênh
lệch giữa doanh thu bán hàng và chi phí sản xuất kinh doanh tạo ra doanh thu trong
kỳ. Đây là khoản lợi nhuận của doanh nghiệp thu được từ các hoạt động sản xuất,
cung ứng sản phẩm, dịch vụ hàng hóa trong kỳ.
Công thức xác định
Lợi nhuận từ
HĐSXKD
=

Doanh thu
thuần
-
Giá vốn
hàng bán
-

tiêu thụ bị khách hàng trả lại do do nguyên nhân vi phạm cam kết, vi phạm hợp
đồng kinh tế, hàng bị mất, kém phẩm chất
+ Thuế tiêu thụ đặc biệt, thuế Giá trị gia tăng, thuế xuất nhập khẩu: đây là các
loại thuế gián thu tính vào các sản phẩm, hàng hóa, dịch vụ thuộc diện thuế tiêu thụ
đặc biệt (hoặc được phép xuất nhập khẩu).
* Trị giá vốn hàng bán: là toàn bộ các chi phí mà doanh nghiệp bỏ ra để tạo
nên sản phẩm hàng hóa, dịch vụ.
* Chi phí bán hàng: phản ánh những chi phí phát sinh trong quá trình tiêu thụ
sản phẩm, hàng hóa, dịch vụ. Đó là những chi phí về bảo quản, đóng gói vận
chuyển, quảng cáo giới thiệu sản phẩm cũng như các hoạt động bảo hành sản phẩm
của doanh nghiệp.
* Chi phí quản lý doanh nghiệp: phản ánh các chi phí liên quan đến hoạt động
quản lý doanh nghiệp, như tiền lương cho nhân viên quản lý phân xưởng, quản lý
cửa hàng
* Giá thành toàn bộ của sản phẩm, hàng hóa tiêu thụ trong kì: bao gồm toàn bộ
những chi hí bỏ ra để sản xuất sản phẩm và chi phí phục vụ cho việc tiêu thụ sản
phẩm, hàng hóa.
1.1.2 Lợi nhuận hoạt động tài chính
Lợi nhuận từ hoạt động tài chính là biểu hiện bằng tiền giá trị các lợi ích kinh
tế do hoạt động tài chính của doanh nghiệp mang lại trong kỳ như thu về lãi tiền
gửi, thu về lãi tiền cho vay, thu về lãi liên doanh được chia, thu về cổ tức được chia,
tiền bán bản quyền, tiền cho thuê tài sản, các khoản chiết khấu thanh toán được
hưởng khi mua hàng.
Công thức xác định:
Lợi nhuận từ
HĐ tài chính
=

Lợi nhuận khác là khoản chênh lệch giữa các khoản thu nhập bất thường với
các khoản chi phí của hoạt động bất thường và các khoản thuế gián thu (nếu có).
Công thức xác định:
Lợi nhuận từ
HĐ khác
=

Thu nhập
khác
-
Chi phí
khác
-
Thu
ế gián thu
(nếu có)
* Thu nhập khác từ hoạt động bất thường của doanh nghiệp là các khoản thu
có tính chất không thường xuyên như: khoản thu từ các hoạt động thanh lý, nhượng
bán TSCĐ; khoản thu về các khoản nợ khó đòi đã xử lý nay đòi được; khoản thu từ
các khoản nợ phải trả nay không xác định được chủ; tiền phạt do vi phạm hợp đồng
kinh tế của khách hàng, các khoản thuế phải nộp được Nhà nước miễn giảm.
* Chi phí khác là những chi phí có tính chất bất thường, là những khoản chi phí
nảy sinh không dự kiến trước hay kỳ nảy sinh không thường xuyên. Bao gồm :
- Chi phí thanh lý, nhượng bán TSCĐ
- Tiền phạt do doanh nghiệp vi phạm hợp đồng kinh tế với đơn vị khác.
- Chi phí doanh nghiệp thực hiện thu tiền phạt đối với các đơn vị kinh tế khác.
- Chi phí cho việc thu hồi các khoản nợ phải thu khó đòi đã xoá sổ nay thu hồi
được.
* Ngoài ra, trong khoản mục chi phí hoạt động bất thường của doanh nghiệp còn
có các khoản thuế gián thu nếu có.

doanh của doanh nghiệp, ngoài việc sử dụng chỉ tiêu lợi nhuận tuyệt đối, người ta
còn sử dụng chỉ tiêu tương đối là Tỷ suất lợi nhuận.
1.2 Tỷ suất lợi nhuận của doanh nghiệp
Tỷ suất lợi nhuận là một chỉ tiêu tương đối phản ánh mối quan hệ tỷ lệ giữa
lợi nhuận của doanh nghiệp với các yếu tố kinh doanh tạo nên, để phục vụ cho các
mục đích khác nhau người ta sử dụng các chỉ tiêu tỷ suất lợi nhuận khác nhau. Các
chỉ tiêu tỷ suất lợi nhuận chủ yếu:
1.2.1.Tỷ suất lợi nhuận trước lãi vay và thuế trên vốn kinh doanh
(ROA
E
)
Tỷ suất lợi nhuận vốn kinh doanh là quan hệ tỷ lệ giữa lợi nhuận đạt được
với số vốn sản xuất kinh doanh sử dụng bình quân trong kỳ (Vốn cố định và vốn lưu
động bình quân).
Công thức xác định:
ROA
E
=
Lợi nhuận trước lãi vay và thuế
100%
Vốn kinh doanh bình quân trong kỳChỉ tiêu này phản ánh hiệu suất sử dụng vốn kinh doanh của doanh nghiệp
trong kì, cụ thể là việc doanh nghiệp bỏ ra 1 đồng vốn cho hoạt động sản xuất kinh
doanh trong kì thì tạo ra được bao nhiêu đồng lợi nhuận trước lãi vay và thuế. Việc
phân tích tỷ suất lợi nhuận vốn kinh doanh cho thấy trình độ sử dụng vốn của doanh

Chỉ tiêu tỷ suất lợi nhuận doanh thu phản ánh rằng trong 100 đồng doanh thu
thực hiện của doanh nghiệp thì có bao nhiêu đồng lợi nhuận trong đó. Khi so sánh
tỷ suất lợi nhuận doanh thu của doanh nghiệp với tỷ suất ngành thì doanh nghiệp có
thể đánh giá chính xác hơn về tình hình thực hiện doanh thu cũng như công tác quản
lý giá thành của mình, từ đó đưa ra những kết luận và có biện pháp khắc phục.
1.2.4 Tỷ suất lợi nhuận Vốn chủ sở hữu
Để đảm bảo cho hoạt động sản xuất kinh doanh tại doanh nghiệp được
diễn ra và liên tục thì việc đáp ứng nhu cầu về vốn là hết sức cấp thiết, vai trò
của vốn đối với các doanh nghiệp là rất quan trọng. Vốn cho hoạt động sản xuất
kinh doanh của doanh nghiệp bao gồm: Vốn chủ sở hữu và vốn vay (nợ phải
trả). Việc phân tích tỷ suất lợi nhuận Vốn chủ sở hữu cho thấy mối quan hệ giữa
lợi nhuận sau thuế (lợi nhuận sau thuế) trong kỳ với vốn chủ sở hữu của doanh
nghiệp.
Công thức xác định:
TSLN vốn

chủ sở hữu
=
Lợi nhuận sau thuế
100%
Vốn CSH bình quân trong kỳChỉ tiêu này cho ta biết trong 100 đồng vốn chủ sở hữu mà doanh nghiệp bỏ
vào hoạt động sản xuất kinh doanh thì thu được bao nhiêu đồng lợi nhuận sau thuế
(lợi nhuận ròng).
Kết luận: Lợi nhuận là kết quả cuối cùng của hoạt động sản xuất kinh

tiêu tối đa hoá lợi nhuận, do không ngừng tìm kiếm, khai thác và sử dụng hết các
khả năng của mình nên đã đạt được những kết quả đáng kể. Các doanh nghiệp đó đã
đạt được nhiều lợi nhuận, đứng vững trên thị trường và quan trọng hơn cả là sự ổn
định cho quá trình phát triển lâu dài của doanh nghiệp. Bên cạnh đó cũng có không
ít các doanh nghiệp còn lúng túng, khó thích nghi với cơ chế thị trường nên kết quả
kinh doanh không đạt hiệu quả, lợi nhuận đạt ít hoặc thua lỗ dẫn đến việc phải giải
thể, phá sản doanh nghiệp .
Như vậy, có thể nói trong điều kiện hiện nay đối với mọi doanh nghiệp hoạt
động sản xuất kinh doanh thì lợi nhuận không chỉ là mục tiêu mà còn là điều kiện
tiên quyết đảm bảo sự sống còn cho hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh
nghiệp. Sở dĩ như vậy là vì:
+ Lợi nhuận là chỉ tiêu chất lượng tổng hợp phản ánh kết quả của toàn bộ
hoạt động sản xuất kinh doanh, thông qua chỉ tiêu lợi nhuận có thể đánh giá được
chất lượng của quá trình sản xuất kinh doanh từ khâu cung cấp nguyên vật liệu,
khâu sản xuất đến khâu tiêu thụ sản phẩm. Nếu trong kì lợi nhuận đạt được vượt
mức kế hoạch chứng tỏ hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp có hiệu
quả, điều đó chứng tỏ doanh nghiệp trong kì đã tổ chức sản xuất tốt, quản lý và sử
dụng các nguồn lực phù hợp, đồng vốn được sử dụng có hiệu quả hơn.
+ Cùng với các loại thuế đảm bảo nguồn thu cho ngân sách Nhà nước như
thuế giá trị gia tăng, thuế xuất nhập khẩu, thuế tài nguyên Thuế thu nhập doanh
nghiệp cũng góp một phần quan trọng. Các doanh nghiệp hoạt động sản xuất kinh
doanh có lợi nhuận và sẽ phải đóng thuế bằng một phần thu nhập của mình cho
ngân sách Nhà nước để đảm bảo sự công bằng xã hội và việc phân phối đều các lợi
ích trong nền kinh tế. Nền kinh tế của quốc gia ổn định và phát triển sẽ tạo điều kiện
thuận lợi để các doanh nghiệp nâng cao hiệu quả hoạt động sản xuất kinh doanh của
mình thu lợi nhuận, lợi nhuận doanh nghiệp đạt được càng cao sẽ góp phần tăng
nguồn thu cho ngân sách Nhà nước.


động sản xuất kinh doanh là nội dung quan trọng để phấn đấu tăng lợi nhuận cho
doanh nghiệp.
Lợi nhuận hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp là phần chênh
lệch giữa doanh thu bán hàng với giá thành toàn bộ của sản phẩm tiêu thụ và các
khoản thuế gián thu (nếu có).
Lợi nhuận tiêu thụ sản phẩm, hàng hoá được xác định theo công thức sau:
P = T - Ztb - Tg
Trong đó:
P : Lợi nhuận hoạt động kinh doanh
T : Doanh thu thuần tiêu thụ sản phẩm
Ztb : Giá thành toàn bộ của sản phẩm tiêu thụ
Tg :Thuế gián thu
Theo công thức trên, lợi nhuận hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp phụ
thuộc vào 3 yếu tố: Doanh thu thuần tiêu thụ sản phẩm hàng hóa; Giá thành toàn bộ
sản phẩm, hàng hóa tiêu thụ và Thuế gián thu phải nộp trong kỳ. Nhân tố thuế gián
thu ảnh hưởng tới lợi nhuận hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp là ảnh
hưởng khách quan, chỉ có tác dụng điều tiết hoạt động sản xuất kinh doanh của
doanh nghiệp. Vì vậy, khi xem xét các nhân tố ảnh hưởng đến lợi nhuận của doanh
nghiệp ta có thể qui về xem xét 2 nhóm nhân tố ảnh hưởng chủ yếu tới doanh thu
tiêu thụ và giá thành toàn bộ sản phẩm, hàng hóa tiêu thụ.
2.1 Các nhân tố ảnh hưởng đến doanh thu tiêu thụ
Doanh thu bán hàng được xác định theo công thức:
T = (Sti x Gi)
Trong đó:
- T : Doanh thu bán hàng trong kì
- Sti : Số lượng sản phẩm i tiêu thụ trong kì
- Gi : Giá bán đơn vị của sản phẩm i
Như vậy, theo công thức trên doanh thu bán hàng của doanh nghiệp bị ảnh hưởng
bởi số lượng sản phẩm, hàng hóa tiêu thụ của doanh nghiệp và giá bán của chúng.

hoạt động sản xuất và tiêu thụ sao cho phù hợp để doanh nghiệp có thể vừa đáp ứng
được nhu cầu thị trường vừa tăng được lợi ích cho bản thân doanh nghiệp. Vì vậy,
việc đa dạng hoá mặt hàng sản xuất là một vấn đề rất hết sức quan trọng, tuy nhiên
doanh nghiệp cũng cần phải xem xét tới các yếu tố ảnh hưởng và khả năng chiếm
lĩnh thị trường của sản phẩm.
2.1.3 Nhân tố giá bán sản phẩm hàng hóa tiêu thụ
Giá bán sản phẩm có ảnh hưởng trực tiếp tới doanh thu và lợi nhuận tiêu thụ
của doanh nghiệp. Trong điều kiện nền kinh tế thị trường các sản phẩm của doanh
nghiệp đều bị cạnh tranh bởi các sản phẩm cùng loại khác trên thị trường, do vậy
việc bán sản phẩm với giá cao sẽ làm hạn chế khả năng tiêu thụ sản phẩm. Để có thể
đạt được doanh thu và lợi nhuận mong muốn đòi hỏi các doanh nghiệp phải xây
dựng cho mình một chính sách giá bán hợp lý trên cơ sở nghiên cứu quan hệ cung
cầu của thị trường, chất lượng của sản phẩm so với các sản phẩm cùng loại trên thị
trường và vị thế sản phẩm của doanh nghiệp (giá trị cá biệt của doanh nghiệp).
2.2 Các nhân tố ảnh hưởng tới giá thành toàn bộ của sản phẩm, hàng hoá
tiêu thụ
Giá thành toàn bộ của sản phẩm, hàng hóa tiêu thụ bao gồm toàn bộ chi phí
để hoàn thành việc sản xuất và tiêu thụ sản phẩm.
Công thức xác định:
Giá thành
toàn bộ
=

Giá thành
sản xuất
-
Chi phí

tiêu hao bình quân của vật tư tăng thì sẽ dẫn tới khoản chi phí vật tư trong giá
thành tăng lên và ngược lại do vậy doanh nghiệp cần xây dựng định mức tiêu
hao vật tư cho mỗi loại sản phẩm. Định mức tiêu hao vật tư được xây dựng phù
hợp với từng điều kiện và thời điểm nhất định, do đó đòi hỏi các doanh nghiệp
phải thường xuyên rà soát bổ sung, xây dựng mức tiêu hao vật tư ở mức tiên
tiến, tạo điều kiện sử dụng vật tư tiết kiệm và làm căn cứ kiểm tra việc sử dụng
vật tư trong sản xuất.
- Nhân tố giá mua vật tư
Giá mua vật tư là một nhân tố phức tạp và có ảnh hưởng cùng chiều với
khoản mục chi phí vật tư. Vật tư cho hoạt động sản xuất của doanh nghiệp được
hình thành từ hai nguồn chính: Vật tư tự sản xuất và vật tư mua ngoài. Giá của
vật tư tự sản xuất chính là giá thành sản xuất vật tư. Trong trường hợp này giá
vật tư tăng hay giảm phụ thuộc vào công tác tổ chức sản xuất của doanh nghiệp,
do vậy đòi hỏi doanh nghiệp phải tổ chức sản xuất tốt và tính toán giá thành vật
tư hợp lý để giảm hợp lý giá vật tư.
- Nhân tố sử dụng vật liệu thay thế
Việc sử dụng các vật tư thay thế khác rẻ tiền hơn thay thế các vật tư đắt tiền
sẽ làm giảm chi phí trong giá thành sản phẩm. Đối với nhiều doanh nghiệp đây là
biện pháp quan trọng để tiết kiệm chi phí vật tư, hạ giá thành sản phẩm và tăng lợi
nhuận cho doanh nghiệp.
- Ngoài ra nhân tốgiá trị phế liệu thu hồi cũng tác động tới chi phí vật tư
trong giá thành tuỳ theo từng loại hình doanh nghiệp.
Nhân tố này có ảnh hưởng ngược chiều đến khoản chi vật liệu trong giá
thành, nghĩa là khi giá trị phế liệu thu hồi tăng làm cho khoản chi vật liệ trong giá
thành giảm và ngược lại.
2.2.1.2 Chi phí nhân công trực tiếp
Chi phí nhân công trực tiếp bao gồm các khoản mà doanh nghiệp trả cho

trong sản xuất, không tận dụng hết khả năng người lao động dẫn đến hiệu quả hoạt
động sản xuất không cao, số lượng lao động quản lý nhiều làm chi phí quản lý tăng
kéo theo lợi nhuận giảm.
2.2.2 Chi phí bán hàng
Chi phí bán hàng bao gồm các chi phí phát sinh trong quá trình tiêu thụ sản
phẩm, hàng hoá, dịch vụ như: tiền lương và các khoản phụ cấp trả cho nhân viên
bán hàng, chi hoa hồng đại lý, tiếp thị, đóng gói, vận chuyển, bảo quản, chi phí khấu
hao phương tiện vận tải và các chi phí bằng tiền khác như chi phí bảo hành sản
phẩm, chi phí quảng cáo
Khoản chi phí này có ảnh hưởng tỷ lệ thuận với giá thành tiêu thụ sản phẩm
và tỷ lệ nghịch với lợi nhuận đạt được của doanh nghiệp. Chi phí bán hàng là chi
phí lưu thông và chi phí tiêu thụ phát sinh trong quá trình tiêu thụ sản phẩm, chi phí
giữ vị trí quan trọng đảm bảo cho quá trình tiêu thụ sản phẩm được nhanh chóng và
thuận lợi. Để giảm được chi phí này doanh nghiệp cần phải có các biện pháp hợp lý
để không làm ảnh hưởng đến chất lượng sản phẩm và uy tín kinh doanh của doanh
nghiệp.
2.2.3 Chi phí quản lý doanh nghiệp (QLDN)
Chi phí QLDN gồm các chi phí quản lý kinh doanh, quản lý hành chính và
các chi phí chung khác có liên quan đến hoạt động của toàn doanh nghiệp như: tiền
lương và các khoản phụ cấp trả cho hội đồng quản trị, ban giám đốc, nhân viên
quản lý; chi bảo hiểm, kinh phí công đoàn, các khoản chi phí vật liệu, đồ dùng văn
phòng, khấu hao TSCĐ chung cho doanh nghiệp và các chi phí khác bằng tiền…
Cũng giống như chi phí bán hàng, chi phí QLDN có mối quan hệ tỷ lệ thuận
với giá thành tiêu thụ sản phẩm và tỷ lệ nghịch với lợi nhuận của doanh nghiệp.
Việc tìm giải pháp tài chính tối ưu cho chiến lược phát triển bền vững trong thời kỳ
hậu hội nhập luôn là vấn đề nan giải nhất đối với các doanh nghiệp nhỏ và vừa hiện
nay. Vì vậy, theo các chuyên gia, một trong những “nước cờ” mà các doanh nghiệp
nào cũng phải tính đến là việc quản lý và tiết kiệm chi phí QLDN ngày một hiệu
quả hơn để sản phẩm, dịch vụ của mình ngày càng có chất lượng, giá cả phù hợp
hơn với khách hàng.

phẩm sẽ giảm đi, đồng thời việc tăng ca làm thêm giờ sẽ giúp doanh nghiệp rút
ngắn được thời gian khấu hao cho TSCĐ, giảm thiểu hao mòn vô hình và có điều
kiện bổ sung máy móc thiết bị từ nguồn vốn khấu hao.
- Tổ chức lao động và sử dụng con người hợp lý
Để tăng năng suất lao động thì người quản lý phải bố trí, sắp xếp lao động
hợp lý và đúng khả năng của người lao động, đồng thời sử dụng các biện pháp
khuyến khích bằng vật chất thúc đẩy họ hăng say với lao động và thi đua sản xuất.
Việc bố trí lao động hợp lý, khoa học sẽ tạo ra sự kết hợp giữa các yếu tố sản xuất
và loại trừ tình trạng lãng phí lao động, lãng phí giờ máy và là động lực chủ yếu
thúc đẩy tăng năng suất lao động và hạ giá thành sản phẩm. Để có thể làm tốt được
điều đó, doanh nghiệp cần tổ chức các lớp đào tạo cho công nhân, trang bị cho họ
những kiến thức cần thiết, nâng cao trình độ hiểu biết cũng như khả năng tay nghề,
cùng lúc đó là việc áp dụng các phương pháp quản lý tiên tiến làm tăng hiệu suất
công tác, giảm chi phí quản lý và hạ giá thành sản phẩm.
Biện pháp 2: Tiết kiệm chi phí vật tư trực tiếp
Để tiết kiệm chi phí vật tư cần giảm hợp lý định mức tiêu hao vật tư cho một
đơn vị sản phẩm và giảm tỷ lệ hao hụt vật tư trong hoạt động sản xuất thì doanh
nghiệp cần áp dụng các biện pháp sau:
+ Lập kế hoạch sản xuất cụ thể chính xác để từ đó có kế hoạch cung ứng vật
tư hợp lý, kịp thời cho các hoạt động sản xuất, tránh tình trạng vật tư bị tồn ứ trong
kho và ảnh hưởng tới chất lượng của vật tư.
+ Thực hiện tốt công tác thu mua và bảo quản vật tư, hạn chế các mất mát
thiếu hụt vật tư, đảm bảo chất lượng cho vật tư trước khi đưa vào sử dụng. Để có
thể thực hiện tốt công tác này, doanh nghiệp cần tiến hành phân công công việc cụ
thể, có biện pháp quản lý khoa học và chặt chẽ nguồn vật tư từ đó tiết kiệm được
chi phí vật tư và hạ giá thành sản phẩm.
+ Thường xuyên kiểm tra, giám sát định mức tiêu hao vật tư để kịp thời xây

lượng sản phẩm. Tổ chức tốt quá trình tiêu thụ, áp dụng các sách lược Marketing
phù hợp.
3.3 Nâng cao hiệu quả sử dụng vốn kinh doanh
Vốn là một trong 3 yếu tố quan trọng để tiến hành quá trình sản xuất của
doanh nghiệp. Việc sử dụng vốn có hiệu quả cũng là phương hướng quan trọng để
tăng lợi nhuận doanh nghiệp. Việc nâng cao hiệu quả sử dụng vốn như một yêu cầu
cấp bách mang tính bức thiết đối với mọi doanh nghiệp. Bởi vì nâng cao được hiệu
quả sử dụng vốn không những giúp cho doanh nghiệp đủ trang trải chi phí bỏ ra mà
còn có một phần tích luỹ để lại để tái sản xuất, mở rộng quy mô và lĩnh vực sản
xuất, tăng thu nhập, đổi mới được thiết bị công nghệ,… cũng như quyết định đến sự
sống còn của các doanh nghiệp. Ngoài ra, nó còn có một số vai trò sau:
- Nâng cao hiệu quả sử dụng vốn đảm bảo cho vốn của doanh nghiệp không
những được bảo toàn để tiếp tục tái sản xuất mà còn tạo điều kiện cho doanh nghiệp
thực hiện việc tái sản xuất mở rộng.
- Nâng cao hiệu quả sử dụng vốn cũng đồng nghĩa với việc giảm thiểu chi
phí SXKD. Từ đó tác động tới việc tăng lợi nhuận của doanh nghiệp. Bởi vậy nó là
yêu cầu khách quan đặt ra cho mọi doanh nghiệp thực hiện hạch toán kinh doanh.
- Xuất phát từ mục đích kinh doanh của các doanh nghiệp đó là lợi nhuận-
nguồn tích luỹ để tái sản xuất mở rộng của doanh nghiệp. Điều đó càng được sự
quan tâm của nhiều người, đặc biệt trong điều kiện hiện nay. Một doanh nghiệp có
tồn tại được hay không là chịu sự tác động của việc doanh nghiệp đó có tạo ra được
lợi nhuận hay không. Chính vì thế, SXKD như thế nào để thu được lợi nhuận cao
nhất là mục tiêu hàng đầu trong tất cả các mục tiêu quan trọng khác. Để đạt được
mục tiêu đó đòi hỏi các doanh nghiệp phải nâng cao hiệu quả sử dụng VKD để đạt
được lợi nhuận cao, tạo đà đưa doanh nghiệp vững bước tiến lên đài vinh quang.
3.3.1. Nâng cao hiệu quả sử dụng vốn cố định
Vốn cố định của doanh nghiệp là bộ phận của vốn đầu tư ứng trước về tài sản

vốn để mở rộng kinh doanh, đầu tư nâng cao năng lực sản xuất. Giảm chi phí kinh
doanh, giá thành sản phẩm hạ còn là cơ sở để xác định giá bán cạnh tranh với các
sản phẩm cùng loại trên thị trường, đẩy mạnh việc tiêu thụ hàng hóa tăng lợi nhuận.
Sử dụng VLĐ hiệu quả còn góp phần cho cả quá trình sản xuất kinh doanh diễn ra
trôi chảy.
Nói tóm lại, việc nâng cao hiệu quả sử dụng vốn kinh doanh là yêu cầu tất
yếu đối với doanh nghiệp sử dụng vốn hạch toán kinh doanh trong điều kiện nền
kinh tế thị trường. Nó góp phần nâng cao khả năng cạnh tranh của doanh nghiệp,
mở rộng quy mô sản xuất, mang lại lợi nhuận cho doanh nghiệp, góp phần tăng
trưởng nền kinh tế xã hội.


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status