TÀI LIỆU HỎI ĐÁP VỀ KỸ THUẬT NUÔI TÔM - Pdf 11

TÀI LIỆU HỎI ĐÁP VỀ KỸ THUẬT
NUÔI TÔM
Tài liệu nuôi tôm chính thống
Hỏi: Trong quá trình xây dựng ao đầm nuôi, vì sao không nên đào ao
quá sâu hay quá cạn?
Đáp: Việc xây dựng ao nuôi đúng qui cách tùy theo hình thức nuôi là một
trong những yêu cầu kỹ thuật rất quan trọng. Qui cách ao sẽ ảnh hưởng trực
tiếp hay gián tiếp đến môi trường nước và sự biến động của chất lượng nước
trong ao.

Ao quá cạn thường gặp phổ biến ở các dạng nuôi tôm trên ruộng hay trên đất
rừng, mức nước thường dưới 0.3m, đặc biệt là ở các trảng. Điều này sẽ làm
nước rất nóng vào ban ngày nhất là vào mùa nóng, trái lại, sẽ rất lạnh vào
ban đêm hay vào những ngày mưa nhiều. Nước cạn và nóng vào ban ngày sẽ
làm cho tôm rất đễ bị yếu và sốc, tôm thường tập trung nơi sâu hơn, làm mật
độ tôm nơi đây tăng lên cục bộ, không tốt. Sự thay đổi nhiệt độ đột ngột sẽ
làm tôm dễ bị sốc, giảm ăn và dễ bệnh. Mức nước quá cạn còn làm cho độ
mặn, độ phèn dễ thay đổi đột ngột, nhất là sau thời gian nắng kéo dài được
tiếp nối bằng những cơn mưa to. Điều này làm rất nguy hiểm đối với tôm
nuôi. Ngoài ra, nước cạn sẽ là nguyên nhân chủ yếu làm rong nhớt, ván mền
phát sinh và phát triển dày đặc, gây trở ngại lớn cho tôm.

Ao sâu trên 1.5m thường gặp ở các đầm tôm rừng, đầm được xây dựng bằng
cơ giới. Mặc dù điều này giúp đỡ tốn công sên vét thường xuyên mỗi năm,
tuy nhiên, có nhiều bất lợi khi ao quá sâu như thế. Trước hết đó là khả năng
nhiễm phèn. Nếu đào ao quá sâu có thể gặp tầng đất phèn tiềm tàng, làm cho
ao bị nhiễm phèn nặng và rất khó khăn để khắc phục hay cải tạo. Ao quá sâu
làm khó khăn trong việc gây màu nước cho tốt. Nhiệt độ lạnh và oxy thấp

hợp. Điều quan trọng là ao nên có chiều dọc xuôi với hướng gió để tăng
cường sóng, tăng khả năng hòa tan của Oxy từ không khí vào nước, đảm bảo
dưỡng khí cho tôm.
Các biện pháp quản lý thích hợp có thể khắc phục được mầm bệnh
virus cơ hội trong ao tôm
Posted by administrator on 15/06/2006 (610 reads)

Nguồn tin: Alphonse Rodrigues, M. Rufus Kitto và C. Regunathan. 2000.
Judicious management practices can overcome the opportunistic viral
pathogens in shrimp ponds. World Aquaculture, vol. 32, no. 1.

Các loại virut giết tôm đáng sợ hiện gây thiệt hại cho khắp các ao tôm ở Ấn
độ và kết quả là hang loạt các báo cáo mô tả hiện tượng và báo cáo khoa học
chính thức cũng đã xuất hiện. 50% thất bại do bệnh năm 1997 đã vượt quá tỉ
lệ 30% năm 1996. Sự thua lỗ gia tăng đối với bệnh virút đã làm cho các
cộng động nuôi tôm bất lực và học được một bài học thấm thía.

Khi những diễn biến của lịch sử 2 năm nuôi tôm vừa qua được xem xét lại
thì những thành công vẫn còn rất hạn chế đối với những trại nuôi quảng
canh. Những thay đổi được kiến nghị trong việc quản lý và thực hiện những
biện pháp có lợi cụ thể để phòng bệnh virút phải được ưu tiên. Việc quản lý
có chọn lọc chất lượng đàn tôm mẹ, tổ chức lại những biện pháp ương nuôi,
phân loại thức ăn cần được xem xét để cố gắng đạt được mức độ thành
công nhất định. Mặc dù hầu hết các đàn tôm thành thục tự nhiên nhiễm đốm
trắng nhưng chúng vẫn khỏe mạnh bởi vì chúng tồn tại trong sự hoà hợp với
tự nhiên. Trong sinh sản nhân tạo đòi hỏi cũng phải có điều kiện tượng tự
như vậy. Đối với sự lây nhiễm virút thì sự lây nhiễm theo chiều ngang đã
được xác định rõ ràng và thậm chí theo chiều dọc cũng được nghi ngờ ở một
số thể virút nào đó.



Do chưa từng bị tấn cống bởi virus, tất cả các cá thể tôm bố mẹ đánh bắt
ngoài tự nhiên nên được cách ly khỏi các khu vực trại giống như một phần
của qui trình kiểm dịch. Tôm bố mẹ được giữ trong các ao 400m2, thích hợp
hơn là được giữ trong các nhà kính làm bằng nhựa trong LDPE 92% nơi
đảm bảo nhiệt độ luôn cao hơn bên ngoài 4oC. Trong 1 tuần tôm bố mẹ
được cách ly trong các giai trong ao nuôi vỗ và được cho ăn chế phẩm vắc
xin Vibrio anguillarum qua tiêm vào thức ăn tươi sống như mực. Vắc xin
Vibrio anguillarum tiêm vào thức ăn tươi sống có thể cải thiện đường ruột và
ngăn chặn sự lây truyền của virút theo chiều dọc trong các bể nuôi vỗ thành
thục. Tất cả các tác nhân có thể mang virus như nhuyễn thể, cua và thịt tôm
đều cấm sử dụng làm thức ăn tươi sống cho tôm bố mẹ. Giun nhiều tơ nuôi
trong khay, mực tươi và những loại thức ăn chứa caroten được khuyến khích
sử dụng (Wasilieski và Skatrud 1995). Sau đó, tôm bố mẹ được thả ra khỏi
giai vào trong ao nuôi vỗ. Vì nhiệt độ thấp có thể làm giảm khả năng ăn và
tiêu hóa vi sinh và ngay cả phá hủy những yếu tố kháng nguyên bảo vệ, nhà
kính với mái nhựa sẽ giúp tránh được những tác động trên. Hơn nữa việc sử
dụng các loại vắc xin mà tính năng hoạt động của virus được làm giảm đi
hơn là virus đã chết đòi hỏi liều lượng cấy vào ít hơn, đây là một yếu tố hấp
dẫn trong việc xử lý số lượng lớn tôm bố mẹ. Hầu hết mầm bệnh (virus) là
những vi sinh vật cơ hội và chỉ tấn công khi cơ chế bảo vệ của vật chủ đã
yếu đi. Xét nghiệm với ấu trùng Artemia trong môi trường phân của tôm bố
mẹ trong bể thành thục và phân tích độ nhạy cảm trên Artemia cho sự hình
thành dấu vết có thể sử dụng như là một chỉ thị sinh học. Sinh khối tảo thạch
được thay thế thường xuyên như những túi hình trụ bên trong các ống dẫn
nước (đục lỗ) của bể thành thục có thể giúp hấp thụ các dịch nhày, dễ dàng
phòng chống bất cứ sự xuất hiện quá mức của mầm bệnh trong bể.

Ương ấu trùng


chuyển động của các lông tơ ở ấu trùng nauplii có thể dùng làm index tốt
hơn bởi vì sự rung động hiếu động thái quá của các lông tơ chứng tỏ một
quá trình sinh lý sinh trưởng bất thường. Nồng độ muối và nhiệt độ phải
được duy trì ổn định. Các loại thuốc có tác dụng ngăn chặn miễn dịch phải
được tránh sử dụng. Tôm bột được thả vào trong các ao gần như là hệ thống
kín với thay nước ít và phân hủy chất thải trong ao. Vì thế ương trong trại
giống cũng đòi hỏi các biện pháp phòng ngừa tương tự để đảm bảo sự thâm
nhập tối thiểu của mầm bệnh và chuẩn bị cho con giống có những phản xạ
sinh hóa nội trong hệ thống kín. Hóa tính của nước về mặt số lượng phải
được kiểm soát hiệu quả trong hệ thống nửa kín. Những nỗ lực để đảm bảo tỉ
lệ sống cao có thể phản tác dụng với sự có được thật sự khả năng miễn dịch
tự nhiên. Việc chuyển sang các loại thức ăn thương mại có vi khuẩn trong
suốt giai đoạn mysis có thể làm giảm sự lan truyền của virus theo chiều
ngang bởi các dạng ấu trùng biến thái. Nước ương ấu trùng có chứa nhiều
Skeletonema hơn sẽ cho ấu trùng khỏe và chuyển hóa sắc tố tốt hơn tương
ứng với thành phần caroten và glucan ß 1, 3 của tảo (Myklestad 1974).
Ương trong môi trường nước xanh hậu ấu trùng sẽ được chuẩn bị để thích
nghi với hệ thống ít thay nước trong ao nuôi thịt sau này. Có điều lạ là cho
ăn đơn điệu số lượng lớn ấu trùng Artemia nhằm tăng tỉ lệ sống của PL đã
tạo ra hậu quả tai hại trong ao. Luân trùng được làm giàu hóa bằng dầu cá
mòi có thể được bổ sung để đáp ứng nhu cầu ADN cho quá trình lột xác
đồng loạt và sự hình thành màng tế bào. Cho ăn luân trùng đông lạnh cho kết
quả khích lệ hơn. Sự nở hoa của tảo Tetraselmis có chứa hàm lượng cao
arginine giúp cung cấp một loại giá thể tuyệt vời cho sự phát triển của vi
khuẩn Lactobacillus trong môi trường. Các bể ương ấu trùng cần được chiếu
sáng từ giai đoạn N6 cho đến PL7 để giúp quá trình chuyển sắc tố. Độ mặn
ương nên từ 15-20ppt. Vào giai đoạn PL5 độ mặn nên duy trì trong khoảng
28ppt và quá trình thuần hóa xuống 24ppt nên chấm dứt vào giai đoạn
PL6/PL7.


Việc bón phân lập đi lập lại để gây màu nước là một biện pháp quản lý cần
phải bỏ. Sự nở hoa của tảo không chọn lọc dẫn đến những ảnh hưởng không
mong muốn, tước đoạt mất sinh thái vi sinh vật trong ao của vật chủ các loại
vi khuẩn. Nuôi trong ao không còn dựa vào sự nở hoa của tảo và tương tác
của vi khuẩn ngoại bào. Việc đưa hàng trăm kg chất dinh dưỡng có nguồn
gốc hữu cơ và vô cơ vào trong ao để kích thích sự nở hoa của tảo thật ra dẫn
đến tình trạng bệnh vi khuẩn hàng loạt. Hầu hết các vấn đề bệnh vi khuẩn
trong ao là do tình trạng quá giàu dinh dưỡng qua việc đưa nguồn dinh
dưỡng vào ao vô kể, lặp lại (thức ăn, phân bón) và sự gia tăng đáng kể các
khuẩn lạc có hại. Hầu hết các ao tôm chết vì nhiễm vi khuẩn có chứa tỉ lệ rất
cao loại khuẩn lạc Vibrio màu xanh trong tổng số khuẩn lạc đếm trong đĩa
cấy petri. Copepod nuôi khi thả vào trong ao có thể làm giảm nhanh chóng
số lượng vi khuẩn do tập tính lọc có hiệu quả của chúng.

Sự nở hoa của hỗn hợp tảo được cấy trong các bể xi măng (150 tấn) ở mật
độ cao (12 x 106 tế bào/ml) sử dụng chiết xuất từ bùn biển và rong đã khử
trùng phải được lọc trong bể cát có áp suất cao và rửa lại để chỉ thu hoạch
tảo cô đặc để gây màu trong ao. Ở bề mặt giữa bùn và nước cần được hình
thành một thảm vi sinh vật khoẻ mạnh. Cống ao cần phải là loại ngăn kín với
nhiều ống có lỗ đặt theo chiều ngang ở các độ sâu khác nhau. Thiết kế kiểu
này cho phép thay được nước ở các độ sâu khác nhau trong cột nước và bảo
đảm nhiệt độ đồng đều ở các điểm trong ao. Khi có sự xuất hiện bệnh đốm
trắng bất thường trên tôm khoẻ mạnh trong ao không được sử dụng thuốc để
chữa trị bởi vì cách này nói chung sẽ làm yếu đi hệ thống miễn dịch của tôm.
Việc sử dụng thuốc nên được tránh và cách ly triệt để các hệ thống bị nhiễm
bệnh nên được thực hiện. Việc rào chắn xung quanh các ao bệnh có thể làm
để ngừa sự lây nhiễm ngay cả từ không khí từ các ao đã bị bệnh. Xác tôm
bệnh nên được loại bỏ cẩn thận.

Nuôi lồng bên trong ao với mật độ thấp các loài cá biển có thể làm giảm vi

hóa những phương thức có hiệu quả về mặt sinh thái. Hầu hết các mầm bệnh
tiềm tàng bị triệt tiêu nhờ sự loại trừ có tính cạnh tranh. Hiện nay việc thả
con giống tự nhiên vào ao đang bị cấm. Người nuôi tôm cần nhận ra rằng
không nên thả quá mật độ từ 10-15 con/m2. Nuôi vượt quá mật độ này đã trở
thành tác nhân gây stress đầu tiên và đã là yếu tố lớn nhất góp phần vào sự
bùng nổ dịch bệnh năm 1994. Các ao nuôi nên làm một rãnh xi măng dọc
theo bờ và một viền bên trong của đê để chặn lại nước rửa trôi vào trong ao
do mưa. Sự rửa trôi cũng có thể là một trong những tác nhân tiềm tàng mang
virus, có thể từ đợt thu hoạch những tôm bị bệnh trước đó. Chiết xuất Yucca
(từ cây Yucca schidigera) có chứa hợp chất glyco là tác nhân kết dính
ammonia tốt nhất trong ao kín một phần (Wacharonke 1994). Việc xử lý
chất thải phải trở thành một sự mong muốn có tính bản năng của người nông
dân.

Với các bài học từ các khu vực nuôi tôm phổ biến nhất trên thế giới việc cải
tiến kỹ thuật nuôi hứa hẹn phòng được sự xuất hiện của nhiều loại virus (BP,
BMN, ) mà cũng đã gây thành dịch cho Trung quốc, Đài loan, Thái lan,
Philippines, Nuôi thủy sản hệ thống sinh thái- thân thiện là một điều cần
thiết và dần dần ngày càng trở nên hiện thực (Kutty 1997). Nghiên cứu sâu
hơn nữa để phát triển các thử nghiệm sinh học nhằm nhận dạng những dòng
vibrio khác nhau với những ảnh hưởng kháng virus (Gunderson, ctv 1968;
Magnusson ctv 1967) và kỹ thuật phát hiện tốt hơn để sàng lọc virus tiềm
tàng trong suốt thời gian đầu phát triển của ấu trùng là cần thiết. Một sự biến
chuyển từ khám phá đến thử nghiệm ngoài hiện trường cần được thực hiện.
Sự nhượng bộ thích hợp và thực tiễn đối với các biện pháp nuôi hiện nay và
những đối tượng sản xuất có thể làm nhẹ gánh và hỗ trợ nền công nghiệp
nuôi tôm ảm đạm bằng sự áp dụng những kiến thức và kinh nghiệm chia sẻ
được.

Xin cho biết tập tính ăn và quá trình lột xác lớn lên của tôm như thế

25-30oC). Tôm thích sống ở vùng có nền đáy cát hay cát bùn. Đối với tôm
thẻ đuôi xanh, tôm chịu được độ mặn 5-40%o (thích hợp nhất là 20-30%o),
nhiệt độ thích hợp nhất 26-30oC và tôm thích sống nơi có đáy bùn hay bùn
cát. Tôm thẻ đuôi đỏ thích nghi với độ mặn 20-30%o, nhiệt độ 26-30oC và
nền đáy bùn. Nói chung, các loài tôm yêu cầu pH tốt nhất cho sự phát triển
của chúng là 7,5-8,5. Về oxy, cần đảm bảo nồng độ trên 3 ppm. Tuy nhiên,
mọi sự biến đổi đột ngột của môi trường đều có nguy cơ gây sốc, không tốt
cho tôm. Vì thế, trong kỹ thuật nuôi, làm thế nào giữ được môi trường nước
ổn định, không bị thay đổi bất thường là vấn đề rất cần thiết để đảm bảo
thành công.
(Nguồn:
)
Tôi nghe nói nếu dùng máy tạo ozone để xử lý nước nuôi tôm sẽ rất tốt,
xin cho biết cách mua máy tạo ozone và cách sử dụng?Requested by
Anonymous and Answered by Truong Quoc Phu [administrator] on 03-Feb-
2007 21:52 (198 reads)
Ozone là chất oxy hóa mạnh có thể dùng để diệt các mầm bệnh trong nước
(virus, vi khuẩn, nguyên sinh động vật), phân hủy các chất độ như thuốc trừ
sâu, oxy hóa kim loại năng và làm giảm vật chất hữu cơ Vì vậy, ozone
được dùng để khử trùng nước trong các trại sản xuất giống.

Trong nuôi tôm thịt thì ozone ít được dùng vì chi phí mua máy ozone khá
cao. Hơn nữa, trong nước lợ, mặn nếu xử lý ozone trong thời gian dài sẽ làm
sinh ra chất độc bromate có thể gây độc cho tôm cá và ảnh hưởng đến sức
khỏe của con người khi ăn phải tôm cá có tích lũy bromate. Ozone với liều
cao hơn 0,1 mg/L có thể gây ảnh hưởng đến tôm.

Máy tạo ozone có thể mua ở các công ty cung cấp thiết bị cho nuôi trông
thủy sản, giá của máy cao hay thấp tùy thuộc vào nước sản xuất và công suất
của máy. Bạn đọc có thể tham khảo thêm thông tin trong mục quảng cáo

MSGS. Ngoài ra một số tôm nhỏ cho kết quả âm tính với tất cả những mầm
bệnh này bằng kỹ thuật PCR và mô học. Dựa trên kết quả của quá trình
nghiên, có đưa ra đề nghị là HPV là nhân tố đóng góp vào MSGS nhưng
không phải là tác nhân chính. Nó có thể là mầm bệnh chưa biết hoặc những
tác nhân hiện tại chưa biết hoặc những tác nhân không phải là mầm bệnh.
Chất lượng nước : Thử nghiệm ảnh hưởng nồng độ muối lên sự đa dạng
quần thể vi khuẩn oxy hóa ammonia trong bể lọc sinh học

Nguồn tin: Grommen R., Dauw L. and Verstrate W. 2005. Elevated salinity
selects for a less diverse ammonia-oxidizing population in aquarium
biofilter. In FEMS Microbiology Ecology, Vol.52, Issue 1, pp 1-11

Tóm tắt

Hoạt động và sự thay đổi thành phần của quần thể vi khuẩn oxy hóa
ammonia thuộc lớp phụ B Proteobacteria đã được theo dõi trong bể lọc sinh
học nước ngọt và nước biển nhân tạo trong thời gian 2 tháng sau khi cấy vi
khuẩn nitrate hóa vào.

Trong cả 2 môi trường nước ngọt và nước biển nhân tạo, quá trình oxy hóa
ammonia diễn ra tức thì sau khi bổ sung vi khuẩn nitrate hóa vào, mặc dù
trong thời gian đầu quá trình oxy hóa ammonia trong nước biển nhân tạo xảy
ra chậm hơn trong nước ngọt. Phân tích thành phần quần thể vi khuẩn oxy
hóa ammonia có trong nguồn vi khẩn nitrate hóa dùng cấy vào, trong nước
ngọt và trong nước biển nhân tạo bằng kỹ thuật DGGE (Denaturing Gradient
Gel Electrophoresis, điện di biến tính theo trọng lượng) cho thấy vào thời
điểm ban đầu, chỉ phát hiện có một loài vi khuẩn có quan hệ gần gủi với
Nitrosomonas marina chiếm ưu thế ở tất cả các nhóm. Dấu vân DNA của
quần thể vi khuẩn oxy hóa ammonia trong bể lọc sinh học nước biển nhân
tạo qua phân tích DGGE cho thấy dòng vi khuẩn chiếm ưu thế tiếp tục hiện

nhưng nếu tảo phát triển quá mức thì hàm lượng oxy có thể giảm thấp hơn 3
mg/L vào sáng sớm và cá có thể bị nổi đầu. Hiện tượng tảo tàn cũng gây ra
sự cố mất oxy do sự phân hủy của xác tảo.

Biện pháp tránh hiện tượng oxy thấp là duy trì mật độ tảo thích hợp. đối với
ao nuôi tôm với mật độ cao cần phải có sục khí để làm tăng oxy.
Nước trong vuông tôm đục như nước cơm vo, nó có màu trắng đục. Tôi
thay nước nhiều ngày rồi (khoảng 10 ngày liên tục) nhưng nước vẫn
đục, khi mưa xuống thì nước lại đục thêm (trên bờ bao thì có rất nhiều
cỏ nên đất không trôi xuống được). Như vậy xin hướng dẫn cách xử lý
cho nước trong lại. Xin cảcm ơn nhiều.
Requested by Anonymous and Answered by Truong Quoc Phu
[administrator] on 25-Oct-2007 04:44 (123 reads)
Trả lời:

Theo như trường hợp của bạn mô tả rất khó đoán được nguyên nhân gây nên
nước đục. Tuy nhiên, có thể có một số nguyên nhân gây đục nước sau đây và
biện pháp khác phục:

1. Do trong ao tôm của bạn có nhiều cá tạp, đặc biệt là cá rô phi. Cá rô phi
khi sinh sản chúng làm tổ ở đáy ao làm cho nước đục. Nếu nước đục do
trường hợp này bạn nên diệt cá để khác phục tình trạng trên.

2. Do mật độ thả tôm cao và cho tôm ăn không đủ lượng và không đủ chất.
Do đó, tôm phải tích cực tìm thức ăn ở đáy ao, hoạt động tìm mồi của tôm là
khuấy động nền đáy nên nước ao bị đục. Trong trường hợp này bạn nên
cung cấp thêm thức ăn cho tôm thì sẽ khắc phục được tìng trạng trên.

3. Mặc dù trên bờ ao có nhiều cỏ, nhưng đối với những vùng đất có tỉ lệ đất
sét cao thì sau những cơn mưa lớn nước mưa cũng rửa trôi bùn sét từ trên bờ

trường này cũng có nhiều mầm bệnh gây bất lợi cho tôm cá.
- Nước trong và có những hạt huyền phù màu vàng cam: do nước bị nhiễm
phèn, nước nhiễm phèn sẽ gây tác động xấu đến cá tôm.
- Màu xám đục: do phù sa bị rửa trôi từ bờ ao sau những cơn mưa. Nước đục
do phù sa làm cho cá chậm lớn do phù sa cản trở quá trình hô hấp của cá.

Tóm lại, màu nước tốt cho tôm cá là màu xanh nhạt đối với ao nuôi nước
ngọt và màu vàng nâu đối với ao nuôi nước lợ, mặn.
Sự ảnh hưởng của độ trong trong thủy vực?
Trả lời:

Độ trong của nước do một số vật chất hòa tan hay không hòa tan gây nên:
- Phù sa (vật chất vô cơ không hòa tan)
- Phiêu sinh vật (tảo và động vật phù du )
- Chất hữu cơ lơ lửng (thức ăn thừa, chất thải của tôm cá )
- Chất hòa tan khác

Trong nuôi trồng thủy sản, người nuôi thường chú ý đến các chất không hòa
tan như phù sa, vật chất hữu cơ lơ lửng và phiêu sinh vật vì các yếu tố này
có liên quan đến chất lượng nước và sự biến động các yếu tố môi trường.

Nếu trong nước có nhiều phù sa thường gây cản trở quá trình hô hấp do phu
sa bám vào mang của tôm cá làm giảm quá trình trao đổi khí qua mang. Hiện
tượng này kéo dài có thể làm cho tôm cá chậm lớn.

Nếu tảo phát triển mạnh, mật độ tảo cao (nước quá đục) sẽ gây nên sự biến
động của các yếu tố môi trường như: pH, oxy hòa tan, độ kiềm và khí
carbonic gây bất lợi cho tôm cá. Tảo phát triển mạng làm ao nuôi bị thiếu
oxy vào sáng sớm, pH tăng cao vào buôi trưa đồng thời làm gia tăng hàm
lượng khí độc NH3. Ngược lại, tảo kém phát triển (nước quá trong) thì

(nước có màu xanh nhạt) thì có thể thả cá để nuôi.

- Trước những trận mưa đầu mùa cần bón vôi xung quanh bờ ao để tránh
hiện tượng nước mưa rửa trôi phèn vào trong ao nuôi. Nếu sau trận mưa đầu
mùa pH của nước bị giảm dưới 6,5 thì cần thay nước mới để tránh ảnh
hưởng đến tôm cá nuôi.
Đặc điểm nền đáy ao bị chai?
Trả lời:

Hiện tượng đáy ao bị chai còn được gọi là hiện tượng lão hóa đáy ao. Vấn đề
này đã được trả lời trong các câu hỏi về hiện tượng lão hóa đáy ao, nhân đây
tôi xin trình bày lại vấn đề này để cung cấp cho bạn đọc thông tin cần thiết.

Thông thường, một ao nuôi mới xây dựng thì sản xuất rất thành công, tôm cá
ít bị bệnh nhưng sau một thời gian thì hiệu quả sản xuất giảm, bệnh tật xuất
hiện thường xuyên hơn. Hiện tượng này được gọi là hiện tượng ao bị lão
hóa.

Nguyên nhân của hiện tượng lão hóa là do môi trường xung quanh và môi
trường trong ao nuôi bị tích lũy dần vật chất hữu cơ, chất độc, hóa chất xử lý
ao và phòng trị bệnh làm cho đáy ngày một xấu đi. Sự tích lũy mầm bệnh
cũng tăng dần trong quá trình nuôi, đặc biệt là những vùng nuôi liên tục (2
vụ trong năm). Nuôi 2 vụ trong năm nên thời gian xử lý chất thải quá ngắn
nên không thể cải tạo được nền đáy ao, hơn nữa nuôi 2 vụ trong năm sẽ
không cắt được sự phát triển của mầm bệnh nên chúng có điều kiện để tồn
tại và lan truyền bệnh. Việc bơm bùn ra môi trường cũng làm tăng nhanh
quá trình lão hóa ao nuôi trong vùng. Hiện tượng lão hóa ao nuôi sẽ diễn ra
nhanh hơn đối với mô hình nuôi thâm canh hay bán thâm canh so với mô
hình quảng canh cải tiến hay tôm-lúa, tôm rừng. Mật độ nuôi càng cao thì
quá trình lão hóa diễn ra càng nhanh.

nước thay vào ao phải được khử trùng để tránh sự xâm nhập của mầm bệnh
vào ao nuôi.

Để giữ màu nước ổn định, có thể áp dụng mô hình nuôi ghép với các loài cá
ăn tảo như cá rô phi, cá đối Mật độ thả cá rô phi khoảng 1 con cá/15-20m2
với cỡ cá từ 50g/con trở lên (ao 1000m2 thì thả từ 50-75 con), chú ý nên thả
cá rô phi đơn tính, không nên thả cá rô phi thường vì chúng sẽ sinh sản gây
xáo trộn nền đáy và cá con sẽ cạnh tranh thức ăn với tôm. Đối với cá đối, có
thể thả 1 con/5-10m2.

Trong quá trình nuôi cần chú ý biện pháp hạn chế thức ăn thừa (tôm không
ăn hết thức ăn) để hạn chế sự gia tăng chất dinh dưỡng trong ao. Nên cho
tôm ăn với thức ăn có chất lượng, điều chỉnh lượng thức ăn hàng ngày cho
phù hợp với tình trạng bắt mồi của tôm. Nếu thức ăn ít dư thừa thì hàm
lượng dinh dưỡng trong ao không quá cao và tảo ít bị tàn và nước ít bị mất
màu.
Tài liệu nuôi tôm chinh thống

Tổ hợp tác nuôi tôm công nghiệp - một điển hình mới ở Cà Mau
Tại ấp Nhị Nguyệt (xã Trần Phán, huyện Đầm Dơi-Cà Mau), đi tiên phong
trong nuôi tôm công nghiệp là ông Hai Tới (tức Trần Văn Của). Là một cán
bộ hưu trí, ông Hai Của luôn trăn trở phải sản xuất cây gì, nuôi con gì trên
đồng đất ngập mặn quê mình.

Nghe ở đâu có mô hình hay, hiệu quả và phù hợp với đồng đất nhiễm phèn
mặn là ông đến học hỏi về áp dụng. Ông cơm đùm cơm nắm lần mò đến tận
kinh xáng Đội Cường (xã Tân Hưng, huyện Cái Nước) dò xem mô hình nuôi
tôm công nghiệp của Công ty TNHH Nam Sương liên doanh với Thái Lan
cho hiệu quả kinh tế cao, tôm nuôi ít bị bệnh, mau lớn. Đối chiếu ông thấy
điều kiện thổ nhưỡng của ấp Nhị Nguyệt cũng có thể nuôi được tôm công

kinh xáng Đội Cường (xã Tân Hưng, huyện Cái Nước) dò xem mô hình nuôi
tôm công nghiệp của Công ty TNHH Nam Sương liên doanh với Thái Lan
cho hiệu quả kinh tế cao, tôm nuôi ít bị bệnh, mau lớn. Đối chiếu ông thấy
điều kiện thổ nhưỡng của ấp Nhị Nguyệt cũng có thể nuôi được tôm công
nghiệp.

Trở về ông mạnh dạn bỏ vốn đầu tư 2 ao nuôi tôm công nghiệp. Sau vụ nuôi,
ông thu hoạch thắng lợi và tiếp tục nhân rộng. Mặt khác, ông đề nghị ngành
Thuỷ sản có những hỗ trợ để mô hình này phát triển bền vững. Được sự giúp
đỡ của Sở Thủy sản và Trung tâm Khuyến ngư, Phòng NN-PTNT huyện
Đầm Dơi, ông Hai Tới và nhiều hộ nuôi tôm trong vùng được tập huấn kỹ
thuật nuôi tôm công nghiệp. Từ đó phong trào nuôi tôm công nhgiệp ở ấp
Nhị Nguyệt phát triển mạnh mẽ.Ông Hai Tới đã đứng ra bàn bạc với 14 hộ
hộ nuôi tôm trong ấp liên kết lại thành tổ hợp tác nuôi tôm công nghiệp, đề
nghị các cấp có thẩm quyền công nhận, tạo cơ sở pháp lý để tổ hợp tác được
vay vốn ngân hàng để mở rộng sản xuất.Từ 15 tổ viên ban đầu, đến nay tổ
hợp tác nuôi tôm công nghiệp Nhị Nguyệt do ông Hai Tới làm Tổ trưởng đã
phát triển lên 50 tổ viên với tổng diện tích ao nuôi là 38ha (120 ao nuôi).
Năm 2006, tổng doanh thu của tổ đạt 4,2 tỷ đồng trừ chi phí đạt lợ nhuận 1,2
tỷ đồng (bình quân trên 81 triệu đồng/1 tổ viên/1 năm).

Rõ ràng hiệu quả từ mô hình tổ hợp tác nuôi tôm công nghiệp ở ấp Nhị
Nguyệt (xã Trần Phán, huyện Đầm Dơi) là rất hiệu quả, cần được nhân rộng.
Đây có thể coi là một điển hình của mô hình kinh tế tổ hợp tác ở ĐBSCL
nhất là trong tình hình hiện nay nhiều HTX, tổ hợp tác ở tỉnh này đang làm
ăn thua lỗ, có nguy cơ phá sản
“Vua tôm” công nghiệp Trần Trí Sự

Khởi nghiệp nuôi tôm công nghiệp vào năm 2002, khi ấy “vua tôm” công
nghiệp Trần Trí Sự vừa tròn 26 tuổi. Anh tiến hành cải tạo hai đầm nuôi tôm

khoa học kỹ thuật vào sản xuất, “vua tôm” công nghiệp Trần Trí Sự đã tạo
nên bước đột phá mới trong nuôi tôm công nghiệp ở Đầm Dơi. Và là tấm
gương sáng để mọi người học hỏi.
Vèo tôm giống bằng hầm đất

Chú Phạm Minh Hữu ở ấp Đức An, xã Phú Hưng, huyện Cái Nước nói: “Đất
gò, đất trũng, đất phèn hoặc vùng nước mặn, nước ngọt, nơi nào cũng tốt cả,
ai chê đất xấu tức là tự chê mình chưa biết cách làm cho đất sinh lợi…”. Với
suy nghĩ này, chú Hữu đã có một cách làm khá độc đáo trên phần đất 2,7ha
của gia đình.
Thời làm nông nghiệp, năng suất và hiệu quả của cây lúa tương đối ổn định.
Tuy chưa thật sự khấm khá, song do siêng năng trong lao động, đất đã không
phụ công người. Đến thời làm tôm, trăn trở bao đêm, chú quyết tìm ra cách
làm có lợi nhất về thu nhập và hợp sức lao động của mình. Cuối cùng chú
chọn một mô hình nuôi tôm cá kết hợp. Năm 2001, khi nhà nước chuyển đổi
sang canh tác lúa tôm, chú đã cất công học kỹ thuật vèo tôm giống bằng hầm
đất để tôm mạnh, khi thả nuôi đạt đầu con. Lúc đầu, chú học cách vèo tôm
chủ yếu để nuôi trên diện tích đất nhà, rồi dần về sau phát triển thêm đôi ba
hầm để bán cho bà con lân cận. Cứ thế, cho đến số lượng 30 ao, chiếm hết cả
mặt đất quanh nhà, đến bờ sông, ra tận liếp dừa. Đâu đâu cũng thấy khít kẽ
từng ô hầm như một bàn cờ. Xóm làng có cả chục hộ làm theo để bán cho
người mua ở tận Thới Bình, U Minh, Bạc Liêu, Kiên Giang… Cách nuôi
vèo bằng hầm đất và chăm sóc của chú Phạm Minh Hữu cũng gần giống như
cách làm ở các trại tôm giống nhưng được người nuôi tôm rất chuộng, vì:
thứ nhất, trong thời gian vèo bằng hầm đất, những con yếu, nhỏ sẽ chết, chỉ
còn lại tôm khỏe mạnh đạt chất lượng. Thứ hai, sau 15 ngày vèo, tôm có
chiều dài 3 phân trở lên, rất mạnh và nhanh lẹ. Thứ ba, trong thời gian vèo
tôm đã được thuần nước nên khi thả nuôi không bị sốc nước, đảm bảo được
số lượng. Đây cũng là 3 yếu tố rất cơ bản để người nuôi có được sản lượng
cao.

Thủy sản, Đại học Cần Thơ.

Phòng bệnh đốm trắng (WSSV) trên tôm sú bằng phương pháp cho ăn
vacxin
Posted by administrator on 24/04/2008 (962 reads)
Nguồn tin: Jeroen Witteveldt, Carolina C. Cifuentes, Just M. Vlak, and
Marie¨lle C. W. van Hulten. Protection of Penaeus monodon against White
Spot Syndrome Virus by Oral Vaccination. JOURNAL OF VIROLOGY,
Feb. 2004, p. 2057–2061 Vol. 78, No. 4

Tóm tắt:

Hội chứng virus đốm trắng xảy ra khắp nơi trên thế giới, là nguyên nhân gây
tỉ lệ tôm chết cao và ảnh hưởng nghiêm trọng đến ngành nuôi tôm công
nghiệp. Hiện tại, chưa có phương pháp nào chống lại virus này được phổ
biến.

Thông thường, động vật không xương sống như tôm không có hệ thống đáp
ứng miễn dịch như ở những loài động vật có xương sống. Tuy nhiên, thí
nghiệm đã chỉ ra rằng những tôm sống sót sau khi bị nhiễm WSSV sẽ có tỉ lệ
sống cao hơn khi tái cảm nhiễm. Chúng tôi nghiên cứu khả năng của vacxin
cho tôm thông phương pháp cho ăn, vacxin này chứa protein vỏ của WSSV.
Tôm sú (Penaeus monodon) được cho ăn thức ăn viên áo bên ngòai 1 lớp vi
khuẩn không họat động biểu hiện 2 lọai protein vỏ của WSSV là VP19 và
VP28. Vacxin chứa VP28 cho thấy tỉ lệ chết của tôm thấp hơn có ý nghĩa
khi so sánh với lô đối chứng (vi khuẩn chỉ chứa vector rổng) thông qua
phương pháp ngâm (tỉ lệ sống 61%), trong khi đó vacxin chứa VP19 không
thể hiện sự bảo vệ nào. Để xác định sự tấn công và thời gian bảo vệ của
vacxin, thí nghiệm cảm nhiễm được thực hiện sau khi sử dụng vacxin 3, 7 và
21 ngày. Tỉ lệ sống cao hơn có ý nghĩa được quan sát sau khi tôm sử dụng

Dùng 1kg tỏi giã nhỏ, trộn với 1 lít dầu thực vật đem nấu chín, sau đó trộn
đều với thức ăn cho tôm. Lượng thức ăn này đủ cho 3 vạn con tôm ăn trong
vòng 5 ngày. Theo kinh nghiệm của anh Xuân thì bà con nên trộn tỏi vào
thức ăn cho tôm ăn một lần vào buổi tối vì đây là thời gian tôm lên ăn mạnh
nhất. Chỉ sau 5 ngày, tôm đang bệnh dần dần chuyển sang khỏe mạnh, chóng
lớn. Cách 5 đến 10 ngày sau, cho tôm ăn thêm 1 chu kỳ 5 ngày thức ăn trộn
tỏi nữa để củng cố thêm kháng thể cho cơ thể tôm đủ sức kháng được bệnh
tật.
Nuôi ghép cua xanh với tôm sú

Năm 2003, các nhà khoa học ngành thuỷ sản đã nghiên cứu thành công và
hoàn thiện công nghệ giống cua xanh. Do chủ động nguồn cua giống nhân
tạo, nghề nuôi cua xanh đã phát triển mạnh với nhiều hình thức như nuôi
ghép với tôm sú, nuôi ghép với cá, nuôi trong hệ sinh thái rừng ngập mặn,
nuôi chuyên canh đạt năng suất từ 1,5-2 tấn/ha.


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status