LUẬN VĂN:
Hoàn thiện hoạt động xuất nhập
khẩu tại Công ty Cổ phần Điện
ảnh – Truyền hình
- Mục đích của đề tài là nhằm tìm hiểu tình hình xuất nhập khẩu các thiết bị điện ảnh-
truyền hình tại công ty trong thời gian qua, từ đó đưa ra một số giải pháp hoàn thiện
hơn nữa hoạt động xuất nhập khẩu của công ty trong thời gian tới. Với mục đích như
vậy đề tài được chia làm 2 chương như sau:
+ chương 1: Thực trạng hoạt động xuất nhập khẩu thiết bị điện ảnh truyền hình của
Công ty Cổ phần Điện ảnh - Truyền hình trong những năm gần đây.
+ chương 2: Một số giải pháp hoàn thiện hoạt động xuất nhập khẩu thiết bị điện ảnh
truyền hình của Công ty Cổ phần Điện ảnh – Truyền hình.
Chương 1: Thực trạng hoạt động xnk thiết bị điện ảnh truyền hình của công ty
cổ phần điện ảnh truyền hình trong những năm gần đây
1.1 Giới thiệu chung về công ty cổ phần điện ảnh truyền hình
1.1.1 Khái quát về sự hình thành và phát triển của công ty
Tên công ty: Công ty Cổ phần Điện ảnh Truyền hình
Tên giao dịch: VINEMATIM
Địa chỉ: 65 Trần Hưng Đạo – Hà Nội (trụ sở chính)
Điện thoại: (84-4) 8.263082 – (84-4) 9.437.256
Fax: (84-4) 9.437.547
Email:
Công ty Vật tư điện ảnh là một doanh nghiệp nhà nước được thành lập theo
quyết định số 92/VHTT – QĐ ngày 20 tháng 7 năm 1979 của Bộ Văn hóa Thông tin.
Công ty vật tư điện ảnh được đổi tên thành Công ty Xuất nhập khẩu Vật tư
Điện ảnh – Video (VINEMATIM) theo quyết định số 293/QĐ ngày 25 tháng 3 năm
1993 của Bộ Văn hóa Thông tin.
Công ty Xuất nhập khẩu Vật tư Điện ảnh – video đổi tên thành Công ty XNK
Thiết bị Điện ảnh - Truyền hình, sáp nhập công ty Xuất nhập khẩu Vật tư dịch vụ kỹ
thuật Điện ảnh – Video vào công ty XNK Vật tư Điện ảnh – Video theo quyết định
số 33/2002/QĐ-BVHTT ngày 10 tháng 12 năm 2002 và 02/2003/QĐ- BVHTT ngày
17 tháng 01 năm 2003 của Bộ Văn hóa Thông tin.
Để cùng hội nhập vào xu thế chung của xã hội nói chung và theo chủ trương
chiến lược của Công ty.
- Quản lý toàn diện, đào tọa và phát triển đội ngủ công nhân viên theo pháp
luật, chính sách của Nhà nước và phân cấp quản lý của Bộ để thực hiện nhiệm
vụ sản xuất kinh doanh của Công ty.
- Bảo vệ môi trường, giữ gìn trật tự an ninh chính trị và trật tự an toàn xã hội
theo quy định của pháp luật.
- Cung cấp những sản phẩm phù hợp với thị hiếu của khách hàng.
- Chấp hành pháp luật Nhà nước, thực hiện chế độ chính sách về quản lý và sự
dụng tiền, vốn, vật tư, tài sản, nguồn lực, thực hiện hạch toán kinh tế, bảo toàn
và phát triển vốn, thực hiện nghĩa vụ đối với Nhà nước.
- Thực hiện đầy đủ cam kết đã ký với các tố chức kinh tế trong và ngoài nước.
1.1.3 Bộ máy tổ chức nhân sự và cơ sở vật chất của công ty
1.1.3.1, Bộ máy tổ chức
Đứng đầu Công ty là Giám đốc chịu trách nhiệm trước Nhà nước về toàn bộ
hoạt động của Công ty, đồng thời cũng là người đại diện cho quyền lợi của cán bộ
nhân viên công ty theo quy định. Giám đốc là người phụ trách chung, trực tiếp chỉ
đạo các công việc sau:
+ Tổ chức nhân sự, sử dụng các quỹ công ty
+ Định hướng kinh doanh và quyết định các chủ trương lớn về phát triển kinh doanh
trong và ngoài nước.
+ Quản lý xây dựng cơ bản và đổi mới kiểu làm việc, điều kiện kinh doanh.
+ Ký kết hợp đồng kinh tế
+ Ký duyệt phiếu thu chi, thanh toán theo định kỳ
Giúp việc cho Giám đốc là một phó Giám đốc mà công ty lựa chọn và đề nghị
Tổng Giám đốc bổ nhiệm.
Kế toán trưởng chịu sự chỉ đạo trực tiếp của Giám đốc Công ty. Có trách
nhiệm giúp Giám đốc Công ty tổ chực thực hiện toàn bộ công tác kế toán thống kê
thông tin kinh tế, báo cáo kết quả hoạt động của Công ty theo quy định hiện hành của
Nhà nước.
_ Chấp hành nghiêm chết độ báo cáo kế toán, thống kế chế độ báo cáo về thuế, kịp
thời, chính xác đúng quy định.
_ Xây dựng kế hoạch định hướng phát triển sản xuất kinh doanh dài hạn của công ty.
_ Tổng hợp kế hoạch định hướng quý, năm của các đơn vị trực tiếp kinh doanh.
_ Kiểm tra các hợp đồng kinh tế, thẩm định các phương án sản xuất kinh doanh, đề
xuất ý kiến với Giám đốc.
Phòng dự án
_ Xây dựng các dự án kinh doanh trong thời gian hiện tại và sắp tới. Sau đó, đệ trình
lên giám đốc phê duyệt
Phòng kinh doanh xuất nhập khẩu
_ Nghiên cứu và nắm bắt tình hình thông tin thị trường trong nước, ngoài nước và
nhu cầu mặt hàng , về nguồn hàng tình hình sản xuất giá cả và các biến động.
_ Xác nhận kế hoạch kinh doanh hàng năm, 6 tháng, đề suất các phương án kinh
doanh, liên doanh liên kết tiêu thụ hàng hóa và phối hợp thực hiện các phương án đó
sau khi đã được công ty phê duyệt.
_ Giúp giám đốc tổ chức xây dựng kế thoạch xuất - nhập khẩu, các kế hoạch thâm
nhập thị trường mới và mở rộng thị trường truyền thống
_ Thực hiện các nghiệp vụ về đàm phán, ký kết và thực hiện hợp đồng vận tải, bảo
hiểm, pháp chế, những hợp đồng do phòng ký kết hoặc được giao thực hiện.
Trung tâm Công nghệ Điện ảnh
_ Chuyên kinh doanh phim sống, hóa chất và các thiết bị chuyên dùng phục vụ cho
ngành Điện ảnh.
Trung tâm phát triển Văn hóa Giáo dục
_ Chuyên kinh doanh các thiết bị trang âm, nhạc cụ, ánh sang, cơ khí, quang học, các
sản phẩm văn hóa và các mặt hàng tiêu dùng phục vụ ngành Văn hóa Thông tin.
Trung tâm Công nghệ Truyền hình
_ Chuyên kinh doanh các thiết bị chuyên dùng phục vụ cho ngành Phát thanh Truyền
hình. Các thiết bị điện tử viễn thông, các hệ thống quan sát nghe nhìn. Hệ thống thu
phát song, ăng ten. Vật tư thiết bị ngành in. Các loại máy phát điện, điện tử, điện
Quận I – TP HCM với diện tích 500m2
Văn phòng đại diện Công ty tại TP Hải Phòng: số 17 Trần Hưng Đạo – TP Hải
Phòng, diện tích 100m2
1.1.3.3, Vốn kinh doanh
Công ty có tổng số vốn kinh doanh là: 85.000.000.000 VND
Trong đó :
Giám đốc
Phó giám đốc
Phó giám đốcPhòng kế hoạch
-Tài chính
Phòng hành chính
- tổng hợp
Phòng dự án
Phòng xuất
nhập khẩu
kho
Vốn cố định là : 25.000.000 VND
Vốn lưu động là : 60.000.000 VND
10000000000
20000000000
30000000000
40000000000
50000000000
60000000000
70000000000
Năm
2006
Năm
2007
Năm
2008
Năm
2009
năm
giá trị nhập khẩu
Kim ngạch nhập khẩu
Hình 2. Sơ đồ thể hiện kim ngạch nhập khẩu từ năm 2006 tới năm 2009:
Qua bảng số liệu ta thấy kim ngạch nhập khẩu của công ty đã tăng lên từng năm:
_ Năm 2006 kim ngạch là 40.755.000.000 vnd nhưng năm 2007 đã là 60.386.600.500
vnd, tăng 48,17%, đạt tỷ lệ tăng trưởng cao nhất từ năm 2006 tới năm 2009.
_ Năm 2008, cuộc khủng hoảng kinh tế thế giới đã ảnh hưởng phần nào tới công ty
khiến kim ngạch nhập khẩu của công ty cũng đã giảm sút xuống chỉ còn
49.689.755.300vnd tức giảm 17,71% so với năm 2007.
_ Năm 2009, kim ngạch nhập khẩu của công ty đã tăng so với năm 2008 nhưng do
vẫn còn bị ảnh hưởng của cuộc khủng hoảng nên chưa thể vượt mức năm 2007 mà
chỉ dừng lại ở 54.588.127.000vnd, tăng 9,86% so với năm 2008.
Để hiểu rõ và nắm rõ hơn tình hình hoạt động nhập khẩu của công ty
Năm 2007
Năm 2008
Năm 2009
Các thiết bị
chuyên
dùng
15.123.458.000
21.912.345.000
18.789.675.000
19.133.855.50
0
Các thiết bị
báo cháy
1.765.894.000
4.324.892.000
3.001.965.000
3.567.843.200
Thiết bị
quan sát,
Các loại
máy phát
điện
4.560.347.000
6.665.234.000
4.723.000.000 5.236.974.000
Các ấn
phẩm điện
ảnh
3.784.8788.000
7.042.892.500
7.671.755.300 8.812.165.000
Tổng
40.755.000.000
60.385.600.500
49.689.755.300
54.588.127.00
0
_ Các thiết bị chuyên dùng trong ngành phát thanh truyền hình, giá trị nhập khẩu tăng
thiết bị trình chiếu, các thiết bị chống trộm.
* Thị trường Trung Quốc
Trung Quốc là bạn hàng lâu năm của công ty và chủ yếu nhập khẩu những sản
phẩm sau: các ấn phẩm văn hóa và điện ảnh, thiết bị âm thanh – ánh sáng, máy phát
điện và các thiết bị chuyên dùng khác trong ngành phát thanh.
* Thị trường khác
Ngoài các thị trường chủ yếu như trên, công ty VINEMATIM còn tiến hành
nhập khẩu ở rất nhiều quốc gia khác, từ nhiều châu lục khác nhau trên thê giới. Tuy
nhiên, so với các thị trường trên thì trị giá nhập khẩu từ mỗi thị trường này là không
lớn nhưng lại đóng vai trò tương đối quan trọn đối với công ty vì nó sẽ góp phần tạo
nên sự phong phú đa dạng nhiều chủng loại mặt hàng kinh doanh của công ty, để
tăng doanh thu và lợi nhuận, nâng cao thu nhập cho nhân viên cho công ty.
Để hiểu rõ hơn, chúng ta xem xét giá trị nhập khẩu từ các thị trường trên từ năm 2006
đến 2009:
Bảng 3. Giá trị nhập khẩu từ các thị trường trên (đơn vị: vnd):
Năm 2006 2007 2008 2009
Nhật
Bản
18.445.482.000
28.884.376.000
24.904.889.00
0
25.202.980.00
0
Nhật Bản Mỹ Trung
Quốc
Singapore Thị trường
khác
Tỷ lệ (%) 46.17 21.22 20.88 11.55 0.17 biểu đồ thể hiện tỷ trọng của các thị trường năm 2009
46.17%
21.22%
20.88%
11.55%
0.17%
Nhật Bản
Mỹ
Trung Quốc
Singapore
Thị trường khác
Hình 3. Sơ đồ thể hiện thị trường nhập khẩu của công ty trong năm 2009:
a, Kim ngạch qua các năm
Kể từ ngày thành lập cho tới nay, mặc dù còn gặp nhiều khó khăn, thách thức
nhưng với sự nỗ lực của Công ty và được sự quan tâm của Đảng và Nhà nước
Vinematim đã từng bước gặt hái được nhiều thành công, điều này thể hiện qua bảng
kim ngạch xuất khẩu sau:
Bảng 4. Kim ngạch xuất khẩu của công ty từ năm 2006 đến năm 2009:
Năm năm 2006 năm 2007 năm 2008 năm 2009
kim ngạch
xuất khẩu 15.899.840.000
20.604.000.000
14.500.840.000
16.840.000.000
tỷ trọng 23.44% 30.37% 21.37% 24.82%
(Nguồn: phòng XNK)
Hình 4. Kim ngạch xuất khẩu của côn ty từ năm 2006 đến năm 2009:
Qua
1.359.322.000
ống kính
camera 950.234.300
900.543.000
852.002.300
923.020.940
màn hình
camera 932.543.100
1.103.920.000
1.278.300.000
1.303.923.540
máy quay phim 1.554.930.000
1.639.328.100
138.349.200
1.429.301.800
hệ thống trang
âm, nhạc cụ 4.892.000.000
3.287.834.600
2.427.288.820
( Nguồn: báo cáo của phòng xnk qua các năm)
Từ bảng số liệu trên ta thấy:
Năm 2006 tới năm 2009, gần như toàn bộ các mặt hàng tăng giảm không đồng
đều. Mặc dù chịu ảnh hưởng của cuộc khủng hoảng thế giới khiến kim ngạch xuất
khẩu theo tổng các mặt hàng giảm đi nhưng vượt qua điều đó vẫn có 2 mặt hàng tăng
lên qua các năm đó là: màn hình camera và hệ thống trang âm, nhạc cụ. Cụ thể:
+ Màn hình camera năm 2006 chỉ đạt 932 triệu vnd nhưng tới năm 2009 đã lên tới
1,3 tỷ vnd.
+ Hệ thống trang âm, nhạc cụ là mặt hàng xuất khẩu được nhiều nhất trong 8 mặt
hàng trên và cũng là mặt hàng có kim ngạch xuất khẩu tăng dần qua các năm. Năm
2006 là 4,8 tỷ nhưng lên tới năm 2009 đã là 5,3 tỷ.
Mặt hàng xuất khẩu thấp nhất đó là ống kính camera trong giai đoạn 06 – 09
giá trị xuất khẩu chưa hề vượt trên mức 1 tỷ mà chỉ đạt từ 850 triệu tới 950 triệu và
đạt cao nhất năm 2006.
c, Thị trường xuất khẩu
Hiện nay, thị trường xuất khẩu chính của công ty chủ yếu là các nước ở khu vực
Đông Nam Á.Cụ thể là:
- Malaysia
- Myanmar
- Lào
- Campuchia
- Philippines
- Dongtimo
Bảng 6. Giá trị xuất khẩu từ các thị trường trên giai đoạn 2006-2009 (đơn vị:
00
8.034.092.30
0
Lào
3.682.974.7
00
4.587.392.0
00
3.808.927.5
00
4.098.749.3
00
16.178.043.5
00
Campuch
ia
3.574.829.0
00
5.111.993.8
00
3.009.762.9
2.813.220.7
00
2.373.361.9
26
2.763.913.3
90
9.998.795.51
6
(Nguồn: Phòng xuất nhập khẩu)
Từ bảng trên ta thấy, Công ty VINEMATIM chủ yếu xuất khẩu sang thị
trường Lào với tổng giá trị xuất khẩu qua 4 năm là 16 tỷ. Đứng thứ 2 là Campuchia
với giá trị 14 tỷ. Đây là hai bạn hàng truyền thống và thân thiết của công ty.
Tình hình xuất khẩu sang các nước còn lại biến động không nhiều. Giá trị
xuất khẩu tại hai quốc gia Indonexia và Myanmar, Philippines và Đông Timor
gần như là tương đương nhau. Thấp nhất là ở Myanmar với giá trị 8 tỷ.
d, Hình thức
Hiện nay, ở công ty chủ yếu sử dụng hình thức xuất khẩu chủ yếu là tạm nhập
tái xuất. Đây là phương thức giao dịch trong đó hàng hóa mua về với mục đích phục
vụ tiêu dùng trong nước. Trong phương thức này, tối thiểu phải có ba bên tham gia là
nước tái xuất, nước xuất khẩu và nước nhập khẩu.
1.2.2 Quá trình tổ chức hoạt động xuất nhập khẩu của Công ty
1.2.2.1, Nghiên cứu thị trường
Công ty Cổ phần Điện ảnh truyền hình đã và đang tập chung nghiên cứu các
thị trường của mình một cách nghiêm túc, công ty đã chia thị trường làm hai loại, đó
là: thị trường trong nước và nước ngoài.
+ Mua theo giá nào
+ Thuế nhập khẩu
+ Thuế VAT (nếu có)
+ Mức lãi dự tính
+ Các chi phí phát sinh trong quá trình thực hiện hợp đồng
+ Mức lãi suất vay ngân hàng
+ Giá bán sản phẩm
+ Tỷ suất ngoại tệ của thành phẩm
+ Tính toán hiệu quả của phương án
1.2.2.3, Đàm phán và ký kết hợp đồng
Sau khi lập dự án kinh doanh và được giám đốc phê duyệt Công ty
VINEMATIM sẽ tiến hành đàm phán để đi đến ký kết hợp đồng xuất nhập khẩu,
công ty thực hiện quá trình đàm phán dưới 2 hình thức:
+ Đàm phán trực tiếp: Công ty VINEMATIM hoạt động nhiều năm có nhiều kinh
nghiệm, do đó, với những bạn hàng mới Công ty sử dụng hình thức đàm phán trực
tiếp. Với hình thức này, công ty có thể biết được những phản ứng của đối tác, quan
điểm, mong muốn của đối tác từ đó tạo điều kiện các bên có thể giải thích cặn kẽ
quan điểm của mình và đi đến thống nhất. Nhưng bên cạnh đó, gây tốn kém cho công
ty về chi phí đi lại, đón tiếp…. và cũng với hình thức này, công ty phải có những
đoàn đàm phán có nghiệp vụ chuyên môn, chuẩn bị đầy đủ thông tin cần biết, tự chủ,
linh hoạt trong xử lý tình huống.
+ Đàm phán qua FAX và điện thoại: Trong nhiều trường hợp thời gian sẽ không cho
phép sử dụng hình thức giao dịch qua thư tín, đó là những lúc công ty cần ký được
hợp đồng trong thời gian ngắn để xuất hoặc nhập khẩu kịp thời hàng hóa cần nên
công ty VINEMATIM sẽ sử dụng hình thức giao dịch đàm phán qua FAX hoặc điện
thoại. Bằng cách này công ty sẽ rút ngắn được thời gian giao dịch – đàm phán, nhanh
chóng đi đến thống nhất và ký kết hoạt động với đối tác, trong trường hợp cần xác
nhận lại một số thông tin cần thiết cũng cần phải qua điện thoại hoặc FAX do ưu
điểm của hình thức được thực hiện dễ dàng, nhanh chóng đảm bảo được tính thời
Công ty đã thực hiện tốt các hợp đồng với khách hàng nên hầu như không có
hợp đồng nào bị khiếu nại, qua đó, nâng cao được uy tín của Công ty với các
khách hàng, bạn hàng trong và ngoài nước.
Công ty đã có thêm một số thị trường mới bên cạnh những thị trường cũ,
truyền thống. Đối với những khác hàng truyền thống Công ty không ngừng tạo
điều kiện thuận lợi cho việc giao dịch, vận chuyển hàng hóa, khuyến khích họ
bằng giá, chất lượng sản phẩm… Vì vậy, cho đến nay, các khách hàng truyền
thống ngày càng có mối quan hệ chặt chẽ với công ty bằng việc ký kết nhiều
hợp đồng tiêu thụ sản phẩm hàng hóa của Công ty.
Công ty luôn tìm cách để đào tạo đội ngũ cán bộ có trình độ nghiệp vụ cao.
Công ty đã thực hiện tốt các chức năng quản trị như: hoạch định, tổ chức, lãnh
đạo và kiểm soát, kết hợp đồng thời chặt chẽ với các chức năng này, đó là một
thành công lớn của Công ty.
1.3.2 Những hạn chế và tồn tại
Bên cạnh những thành tựu đạt được ở trên thì công ty vẫn còn những hạn chế
và tồn tại sau:
Công tác nghiên cứu thị trường còn nhỏ hẹp, đơn giản và chưa có phương
pháp nghiên cứu rõ ràng cụ thể, mang tính kinh nghiệm nhiều hơn coi đó là
một nghiệp vụ chuyên môn. Hoạt động này mới chỉ dừng lại ở nghiên cứu
gián tiếp, chưa có đội ngũ tìm hiểu thị trường một cách cặn kẽ. Với quy mô
kinh doanh ngày càng lớn mà công ty vẫn chưa tổ chức một phòng riêng biệt
chuyên nghiên cứu về thị trường. Chính vì vậy mà công ty không thể tìm tòi
một cách sâu sát nhu cầu thị trường phục vụ cho hoạt động sản xuất, kinh
doanh của mình.
Các thị trường nhập khẩu còn hạn chế, mới chỉ nhập khẩu của 4 quốc gia đó
là: Nhật, Mỹ, Singapore, Trung Quốc. Như vậy, các nguồn hàng của công ty cũng bị
hạn chế.
Hình thức xuất nhập khẩu của công ty chưa đa dạng. Với xuất khẩu chủ yếu là
tái xuất do đó phụ thuộc rất nhiều vào nước xuất khẩu về giá cả, thời gian giao