Thực trạng và giảI pháp về rủ ro tín dụng trong ngân hàng Indovina - Pdf 11

Chuên đề tốt nghiệp khoa: ngân hàng tài
chính
Lời nói đầu
Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ VI năm 1986 đã đánh dấu một bước
ngoặt quan trọng trong toàn bộ đời sống kinh tế, chính trị, xã hội của nước
ta. Một nền kinh tế nhiều thành phần hoạt động theo cơ chế thị trường có
định hướng xã hội chủ nghĩa đã được thay thế cho nền kinh tế tập trung
quan liêu bao cấp vốn đã không còn phù hợp với tình hình mới, mà còn
kìm nén sự phát triển kinh tế của nước ta trong nhiều năm. Để thích ứng
với yêu cầu, điều kiện kinh doanh trong môi trường mới đó, hệ thống ngân
hàng cũng có những chuyển biến mạnh mẽ. Từ hệ thống ngân hàng một
cấp vừa quản lý, vừa kinh doanh, hệ thống ngân hàng Việt Nam được tổ
chức lại trở thành hệ thống ngân hàng hai cấp theo nghị định 53/HĐBT,
trong đó NHNN với chức năng quản lý Nhà Nước về mặt tiền tệ và là ngân
hàng của các ngân hàng, còn NHTM với tư cách là đơn vị kinh doanh có
chức năng kinh doanh tiền tệ và dịch vụ ngân hàng với mục tiêu chủ yếu là
tối đa hoá lợi nhuận. Cùng với sự chuyển đổi cơ chế của nền kinh tế, hệ
thống NHTM Việt Nam đang bước những bước hội nhập và phát triển
trong môi trường mới.
Cũng như bất kỳ doanh nghiệp nào, Ngân hàng cũng tiến hành hoạt
động kinh doanh với mục tiêu hiệu quả kinh tế cao nhất với mức rủi ro thấp
nhất. Tuy nhiên, là một doanh nghiệp đặc biệt kinh doanh trên lĩnh vực tiền
tệ, ngân hàng cũng có những hoạt động kinh doanh khác với các doanh
nghiệp đơn thuần khác. Hoạt động tín dụng là một trong những hoạt động
cơ bản và cũng là đặc thù của NHTM bởi tín dụng ngân hàng được coi là
đòn bẩy quan trọng cho nền kinh tế, là một trong những hoạt động chủ yếu
nhất quyết định sự tồn tại và phát triển của mỗi ngân hàng. Có thể nói mọi
hoạt động kinh doanh đều có thể gặp rủi ro, nhưng rủi ro phát sinh trong
1
Chuên đề tốt nghiệp khoa: ngân hàng tài
chính

dụngvà tiếp thị ngân hàng Indovina Hà Nội và Th.S Phan Thị Hạnh đã tận
tình chỉ bảo và tạo điều kiện giúp tôi hoàn thành đề tài này./.
3
Chuên đề tốt nghiệp khoa: ngân hàng tài
chính
CHƯƠNG I
Hoạt động Ngân hàng thương mại và rủi ro tín dụng trong Ngân
hàng thương mại.
4
Chuên đề tốt nghiệp khoa: ngân hàng tài
chính
1.1. Vài nét về ngân hàng thương mại
1.1.1. Sự ra đời và phát triển của ngân hàng thương mại
Trên thế giới nghề ngân hàng được hình thành từ rất sớm,hình thức sơ
khai của ngân hàng thương mại xuất hiện từ thời kỳ tiền tư bản và cùng với
thời gian các hình thức này ngày càng được hoàn thiện hơn để đáp ứng nhu
cầu ngày càng cao của khách hàng. NHTM ra đời trên cơ sở kinh doanh
tiền tệ của những người thợ kim hoàn, ban đầu với uy tín và sự giàu có của
mình, họ nhận giữ tiền hộ và thu phí, giấy xác nhận mà những người gửi
tiền yêu cầu họ viết có thể lưu hành được trên thị trường, đồng thời thực
hiện nghiệp vụ thanh toán hộ cho người gửi tiền. Nghiệp vụ cho vay nảy
sinh khi họ nhận thấy rất nhiều người có nhu cầu về vốn để kinh doanh, do
đó họ sử dụng chính số tiền này để cho vay lấy lãi. Lợi nhuận cao đã kích
thích những người thợ kim hoàn thay vì việc thu phí giữ hộ tiền bằng việc
trả lãi nhằm thu hút thêm nhiều tiền gửi. Sản xuất phát triển, hàng hoá được
tạo ra nhiều làm nảy sinh quan hệ trao đổi hàng hoá giữa các vùng khác
nhau nhưng lại bị cản trở bởi sự không đồng nhất giữa các đồng tiền,
những người thợ kim hoàn, hay những thương nhân làm nghề kinh doanh
tiền tệ mà C.Mác đã gọi là “ nhà tư bản thương nghiệp tiền tệ ” nắm bắt cơ
hội này, họ kiêm luôn cả việc đổi tiền. Khi tồn tại nghiệp vụ nhận tiền gửi,

a. Hoạt động tạo lập vốn
a1. Vốn pháp định ( còn gọi là vốn riêng ):
Vốn pháp định là vốn ban đầu theo luật định khi đi vào hoạt động của
ngân hàng. Nó được gia tăng trong quá trình hoạt động, bằng cách trích từ
lợi nhuận kinh doanh, hoặc bằng cách tăng mức đóng góp của các chủ sở
hữu nếu là ngân hàng cổ phần.
6
Chuên đề tốt nghiệp khoa: ngân hàng tài
chính
Ngoài vốn pháp định, ngân hàng còn có các quỹ dự trữ ngân hàng, ví
dụ quỹ phát triển kỹ thuật, quỹ khấu hao tài sản cố định, quỹ phúc lợi....
a2. Huy động vốn .
Đây là nghiệp vụ khởi đầu tạo điều kiện cho sự hoạt động của ngân
hàng. Huy động các nguồn vốn khác nhau trong xã hội là lẽ sống của các
ngân hàng thương mại. Hoạt động huy động vốn được thể hiện dưới các
hình thức sau:
- Nhận tiền gửi
Tiền gửi là nguồn vốn kinh doanh chủ yếu của mọi ngân hàng thương
mại, hoạt động này cũng thể hiện một đặc trưng cơ bản của NHTM so với
các tổ chức tài chính khác. Căn cứ vào các tiêu thức phân chia có thể gồm
các loại hình tiền gửi sau:
Nếu phân chia theo thời hạn :
- Tiền gửi không kỳ hạn : bao gồm các loại tiền gửi thanh toán , tiền
gửi tiết kiệm không kỳ hạn của các tổ chức kinh tế và dân cư. Người
gửi tiền có thể rút bất cứ lúc nào.
- Tiền gửi có kỳ hạn: có sự thoả thuận về thời gian rút tiền giữa khách
hàng và ngân hàng. Về nguyên tắc người gửi không được rút tiền
trước thời hạn ( trừ trường hợp đặc biệt).
Nếu phân chia theo mục đích thì bao gồm tiền gửi phi giao dịch và
tiền gửi giao dịch.

tư, trong đó cho vay là quan trọng nhất. Có thể phân chia cho vay theo
nhiều tiêu thức khác nhau, cụ thể:
Nếu phân chia theo thời gian:
- Cho vay ngắn hạn: là những khoản tín dụng có thời hạn cho vay dưới
12 tháng. Là loại cho vay mà ngân hàng thu được nhiều lợi nhuận và ít chịu
rủi ro hơn so với cho vay trung và dài hạn.
8
Chuên đề tốt nghiệp khoa: ngân hàng tài
chính
- Cho vay trung và dài hạn: là loại cho vay được thực hiện đối với
những chương trình, dự án phát triển kinh tế- xã hội.
Nếu phân chia theo ngành kinh tế
- Cho vay ngành nông nghiệp
- Cho vay công nghiệp và thương mại
- Cho vay xây dựng cơ bản
Nếu phân chia theo đối tượng :
- Cho vay tài trợ tài sản lưu động
- Cho vay tài trợ máy móc thiết bị...
Hoạt động đầu tư bao gồm:
- Ngân hàng đầu tư vào chứng khoán ngắn hạn, chủ yếu là chứng
khoán ngắn hạn của chính phủ. Hoạt động này vừa là hoạt động kinh doanh
mang lại lợi nhuận cho ngân hàng vừa góp phần điều hoà lưu thông tiền tệ
trong nền kinh tế
- Ngân hàng còn được phép mua cổ phiếu và trái phiếu của các doanh
nghiệp, qua đây những ngân hàng lớn tham gia vào việc thành lập và quản
lý các doanh nghiệp.
Bảo lãnh ngân hàng: là hình thức ngân hàng dựa vào uy tín của mình
để bảo lãnh thanh toán cho khách hàng. Hợp đồng bảo lãnh cam kết bằng
văn bản với bên có quyền về việc thực hiện nghĩa vụ tài chính thay cho
khách hàng trong trường hợp không thực hiện đúng nghĩa vụ đã cam kết và

vậy các NHTM phải đề ra các biện pháp phòng ngừa và hạn chế rủi ro
trong hoạt động của mình.
1.1.2.2. Vai trò của ngân hàng thương mại
Trải qua một thời gian dài tồn tại, ngân hàng thương mại đã ngày càng
chứng tỏ vai trò quan trọng của mình đối với nền kinh tế quốc dân. Cụ thể
là ở các mặt sau đây:
10
Chuên đề tốt nghiệp khoa: ngân hàng tài
chính
Thứ nhất, NHTM là nơi cung cấp vốn cho nền kinh tế, góp phần thúc
đẩy sản xuất và lưu thông hàng hoá
NHTM không những cung ứng tín dụng cho doanh nghiệp, mà còn
thông qua chức năng làm trung gian tài chính đã thực hiện việc tập trung
các khoản tiền nhàn rỗi trong nền kinh tế xã hội. Mặt khác, nó dùng chính
số tiền đã huy động được để cho vay đối với thành phần kinh tế. Chính
nguồn vốn này đã góp phần thúc đẩy và lưu thông hàng hoá phát triển, đáp
ứng đầy đủ nhu cầu về vốn cho các doanh nghiệp, cá nhân duy trì liên tục
quá trình sản xuất với quy mô ngày càng lớn, cải tiến máy móc, quy trình
công nghệ hiện đại để tồn tại trong cạnh tranh và phát triển. Từ đó nâng cao
chất lượng sản phẩm và góp phần tăng lượng hàng hoá đáp ứng nhu cầu
ngày càng tăng của toàn xã hội.
Thứ hai, NHTM là một công cụ để Nhà Nước điều tiết vĩ mô nền kinh
tế.
NHTM là trung gian thông qua đó NHTW điều tiết nền kinh tế phục
vụ các mục tiêu ngắn hạn hoặc dài hạn của chính phủ. Bằng việc ấn định tỷ
lệ dự trữ bắt buộc, hạn mức tín dụng, lãi suất tái cấp vốn cho NHTM,
NHTW đã gián tiếp thay đổi lượng cung tiền trong lưu thông. Cụ thể khi
tăng tỷ lệ dự trữ bắt buộc của NHTM tại NHTW, lượng vốn cho vay các
doanh nghiệp sẽ giảm, do đó tiền đưa vào lưu thông sẽ giảm. Đối với đặt
hạn mức tín dụng, NHTW quy định số tiền tối đa mà doanh nghiệp có thể

nghĩa chuẩn xác thế nào là rủi ro cho mọi môi trường kinh doanh cũng như
mọi giai đoạn phát triển lại là một việc khó. Nhưng nói chung, rủi ro là
những biến cố xảy ra ngoài ý muốn không dự tính trước gây ra những thiệt
hại cho một công việc cụ thể nào đó.
Rủi ro có thể xảy ra trong bất cứ lĩnh vực nào, hoàn cảnh nào và cũng
có thể đến với bất kỳ ai. Tuy nhiên trong kinh doanh, có thể nói rủi ro là
người bạn đồng hành. Khi rủi ro xảy ra, hoạt động kinh doanh sẽ gặp
những thiệt hại nhất định, đôi khi là vô cùng lớn. Rủi ro phát sinh muôn
12
Chuên đề tốt nghiệp khoa: ngân hàng tài
chính
mầu muôn vẻ, là hậu quả của những nhân tố chủ quan và khách quan
nhưng chủ yếu là rủi ro khách quan ngoài dự đoán của doanh nghiệp. Rủi
ro có thể phát sinh từ các nguyên nhân như thiên tai, chiến tranh, năng lực
sản xuất yếu kém, sự thay đổi trong chính sách nhà nước...Chúng ta không
thể loại trừ hoàn toàn rủi ro ra khỏi môi trường kinh doanh mà chỉ có thể
nghiên cứu nó, nhận biết nó và phòng ngừa hạn chế nó đến mức thấp nhất.
Chính bởi vì rủi ro là người bạn đồng hành của kinh doanh, bởi vậy
mục tiêu tối đa hoá lợi nhuận của doanh nghiệp cũng đồng nghĩa với việc
sẽ gặp nhiều rủi ro hơn.Trong lĩnh vực ngân hàng, rủi ro là một phạm trù
tiềm ẩn có thể xảy ra bất cứ lúc nào làm sai lệch kết quả hoạt động sản xuất
kinh doanh, trong đó rủi ro tín dụng là đặc trưng tiêu biểu nhất, dễ xảy ra
nhất trong hoạt động của ngân hàng.
b. Các loại rủi ro thường gặp trong hoạt động kinh doanh của ngân hàng.
b1. Rủi ro tín dụng
Rủi ro tín dụng là những tổn thất mà ngân hàng phải gánh chịu khi
khách hàng không trả hoặc không trả đúng hạn tiền gốc hoặc tiền lãi.
Bởi hoạt động tín dụng là hoạt động cơ bản và đem lại nhiều lợi nhuận
nhất cho NHTM, do đó các NHTM đều luôn có khuynh hướng mở rộng
cho vay với các thành phần kinh tế. Chính vì lẽ đó mà rủi ro tín dụng là rủi

loại tiền tệ khác nhau do tác động của kinh tế và chính trị của một nước.
Nếu nhu cầu vốn của nền kinh tế là ngoại tệ, ngân hàng khi tiến hành cho
vay phải thực hiện chuyển đổi từ nội tệ sang ngoại tệ và khi khoản vay đến
hạn, nếu do yêu cầu về việc bảo toàn vốn, ngân hàng phải sử dụng mức tỷ
giá hối đoái hiện thời, sự chênh lệch hoặc biến đổi giữa hai tỷ giá này có
thể gây ra những khoản thặng dư hoặc chênh lệch trong khối lượng tiền ban
đầu. Nếu đó là thâm hụt đó chính là rủi ro đối với ngân hàng.
b4. Rủi ro mất khả năng thanh toán
14
Chuên đề tốt nghiệp khoa: ngân hàng tài
chính
Rủi ro mất khả năng thanh toán xảy ra khi ngân hàng không đáp ứng
được các nhu cầu thanh toán của mình và của khách hàng. Một số nguyên
nhân dẫn đến tình trạng này có thể là do ngân hàng không đủ số vốn cần
thiết để đáp ứng nhu cầu chi trả và thanh toán như không đáp ứng đủ dự trữ
bắt buộc, không đủ ngân quỹ...Mặt khác, cũng có thể vì một lý do nào đó,
khách hàng đến rút tiền ồ ạt làm cho ngân hàng không đủ thanh toán ngay
cho khách hàng.
Do sự cạnh tranh giữa các thể chế tài chính trên thị trường vốn và thị
trường tiền tệ, bởi vậy nếu ngân hàng nào kém thì ngân hàng ấy càng khó
huy động được nguồn vốn dồi dào, phạm vi ngày càng thu hẹp. Bởi vậy,
đứng trước nguy cơ xảy ra rủi ro này, ngân hàng sẽ tiến hành nhiều biện
pháp để có thể ngăn chặn được nó.
b5. Rủi ro về nguồn vốn
Không phải lúc nào việc huy động vốn cũng được tăng cường, trái lại
nó có thể dẵn đến việc sư thừa nguồn vốn. Hậu quả của việc dư thừa nguồn
vốn sẽ là thu nhập từ việc sử dụng nguồn vốn không bù đắp nổi chi phí mà
ngân hàng bỏ ra để huy động vốn, làm ảnh hưởng đến kết quả kinh doanh
của ngân hàng. Ngược lại, thiếu vốn sẽ làm cho hoạt động kinh doanh của
ngân hàng bị trì trệ, khả năng đáp ứng nhu cầu tín dụng bị hạn chế, làm ảnh

có như vậy mới có thể phòng ngừa rủi ro tín dụng và hạn chế hậu quả của
nó đến mức thấp nhất.
1.2 .2. Phân loại rủi ro tín dụng
Tuỳ theo các tiêu thức khác nhau mà ta có các cách phân loại rủi ro tín
dụng khác nhau :
Phân loại rủi ro tín dụng theo thời gian của khoản cho vay:
16
Chuên đề tốt nghiệp khoa: ngân hàng tài
chính
- Rủi ro tín dụng đối với các khoản cho vay ngắn hạn : là rủi ro đối
với các khoản tín dụng có thời gian dưới 12 tháng.
- Rủi ro tín dụng đối với các khoản cho vay trung và dài hạn : thông
thường mức độ rủi ro tín dụng ở các khoản cho vay trung và dài hạn
thường cao hơn nguy cơ rủi ro tín dụng ở các khoản cho vay ngắn
hạn. Bởi vậy, cho dù lãi suất cho vay có hấp dẫn hơn nhưng các
NHTM ở Việt nam hiện nay vẫn hạn chế mở rộng hoạt động tín
dụng với loại cho vay này.
Phân loại rủi ro tín dụng theo đối tượng cho vay:
- Rủi ro tín dụng đỗi với các khoản cho vay tài trợ tài sản lưu động :
do vốn lưu động có thời gian luân chuyển nhanh nên thường thường
thời gian hoàn trả khoản vay cũng nhanh, mức độ rủi ro tín dụng
cũng thấp hơn.
- Rủi ro tín dụng đối với các khoản cho vay tài trợ tài sản cố định :
mức độ rủi ro tín dụng thường cao vì thời gian cho vay vốn dài, hao
mòn hữu hình và đặc biệt trong thời đại khoa học phát triển thì hao
mòn vô hình của tài sản cố định rất cao.
- Rủi ro tín dụng đỗi với tín dụng tài trợ xuất nhập khẩu : mức độ rủi
ro ít khá cao trong trường hợp có chiến tranh, thiên tai xảy ra ảnh
hưởng đến thời hạn giao hàng, dẫn đến khách hàng không trả nợ
ngân hàng đúng hạn. Ngoài ra,có thể do thiếu thông tin hoặc thông

Hoạt động ngân hàng liên quan tới rất nhiều các thành phần trong xã
hội, từ các cá nhân, hộ gia đình, các tổ chức kinh tế cho tới các tổ chức tín
dụng khác. Vì vậy khi ngân hàng gặp phải những rủi ro sẽ dẫn tới tình
trạng mất ổn định trên thị trường tiền tệ, gây khó khăn cho các doanh
nghiệp sản xuất kinh doanh do đó gây ra những ảnh hưởng tiêu cực đối với
nền kinh tế và đời sống xã hội. Ta có thể thấy được phần nào hậu quả đó
qua vụ đổ vỡ hàng loạt gần 500 quỹ tín dụng và hàng ngàn họp tác xã tín
dụng nông thôn ở nước ta những năm 1989-1990, hay mới đây nhất là sự
sụp đổ của hệ thống quỹ tín dụng ở Anbani.
18
Chuên đề tốt nghiệp khoa: ngân hàng tài
chính
Chính vì rủi ro tín dụng có thể gây hậu quả nghiêm trọng như vậy nên
việc phòng ngừa là một việc vô cùng cần thiết. Phòng ngừa rủi ro tín dụng
không những là vấn đề sống còn đối với ngân hàng mà còn là yêu cầu cấp
thiết của nền kinh tế, góp phần vào sự ổn định và phát triển của toàn xã hội.
1.3. Nguyên nhân dẫn đến rủi ro tín dụng và một số chỉ tiêu đo
lường rủi ro tín dụng.
1.3.1. Nguyên nhân dẫn đến rủi ro tín dụng
1.3.1.1. Nguyên nhân từ phía ngân hàng
a. Nguyên nhân chủ quan từ phía ngân hàng
Thực tế về hoạt động kinh doanh trong thời gian qua cho thấy rất nhiều
trường hợp rủi ro tín dụng xaỷ ra là do nguyên nhân chủ quan từ phía ngân
hàng. Nó gây ra những hậu quả khôn lường cho các ngân hàng.
- Trước tiên phải xét tới nguyên nhân là do ngân hàng không tôn
trọng đầy đủ quy trình cho vay.
- Việc điều tra kiểm soát đối tượng vay vốn về phương án kinh doanh
lúc đầu không bảo đảm, thiếu cân nhắc dẫn đến sơ hở thiếu bảo đảm
cho sự đầu tư vốn có hiệu quả.
- Việc cho vay tiến hành trong khi thông tin cần thiết không thu thập

- Do trình độ kinh doanh yếu kém, khả năng thích ứng thị trường
thấp, điều hành sản xuất kinh doanh còn thiếu sự linh hoạt như
không cải tiến quy trình công nghệ, không trang bị máy móc hiện
đại, không thay đổi mẫu mã hoặc nghiên cứu nâng cao chất
lượng...dẫn tới sản phẩm sản xuất ra thiếu sức cạnh tranh, bị ứ đọng
trên thị trường khiến cho doanh nghiệp không có khả năng thu hồi
vốn trả nợ cho ngân hàng.
- Do chính bản thân doanh nghiệp có chủ định lừa gạt, chiếm dụng
vốn của ngân hàng: không đủ tài sản thế chấp, cầm cố, không đủ
năng lực pháp nhân, dùng một tài sản để thế chấp vay nhiều nơi...
b. Nguyên nhân khách quan
20
Chuên đề tốt nghiệp khoa: ngân hàng tài
chính
- Do sự thay đổi về luật kinh tế trong nước hoặc ở những nước mà
nhập khẩu mặt hàng của doanh nghiệp khiến phải huỷ bỏ hợp đồng
dẫn tới mất thị trường tiêu thụ, giảm sản lượng...khiến cho doanh
nghiệp không có khả năng trả nợ đúng hạn cho ngân hàng..
- Các chính sách của Nhà Nước như tăng thuế một số mặt hàng, sử
dụng công cụ điều hành chính sách kinh tế vĩ mô trong khi các DN
đang vào thời kỳ sản xuất, buộc các doanh nghiệp phải tính toán lại
giá cả, chi phí đầu vào...gây thiệt hại cho doanh nghiệp và gián tiếp
gây thiệt hại cho ngân hàng.
- Do các hành vi gian lận trên thị trường, hàng giả tràn lan làm tổn hại
tới doanh thu của doanh nghiệp.
- Do rủi ro bất khả kháng như thiên tai, hoả hoạn,cháy rừng...
c. Các nguyên nhân khác
- Do sự biến động của nền kinh tế như : suy thoái kinh tế, sự không
ổn định của nền kinh tế, lạm phát gia tăng , biến động tỷ giá ảnh
hưởng đến doanh nghiệp cũng như ngân hàng.

Tổng giá trị tài sản bị rủi ro trong kỳ
---------------------------------------------
Tổng giá trị tài sản sinh lời trong kỳ
Tỷ lệ này cho biết cứ 100 đồng tài sản sinh lời thì bao nhiêu tài sản bị
rủi ro.
- Cách đo thứ ba:
Tổng giá trị tài sản bị rủi ro trong kỳ
----------------------------------------------
Tổng giá trị các món cho vay trong kỳ
- Cách đo thứ tư:
Nợ quá hạn trong kỳ
22
Chuên đề tốt nghiệp khoa: ngân hàng tài
chính
-----------------------------
Tổng dư nợ
Một số ngân hàng thương mại còn sử dụng các tỷ lệ như :
Nợ khó đòi Nợ khoanh
-------------------------------------- ; ---------------------
Tổng dư nợ ( hoặc nợ quá hạn) Nợ quá hạn
- Hạn mức rủi ro : tỷ lệ này biểu hiện một chỉ số so với vốn của ngân
hàng. Chỉ số này tính đến mức độ mà vốn của ngân hàng có thể
trang trải những khoản tổn thất phát dinh cho từng loại hoạt động tín
dụng. ở Việt nam chỉ tiêu này được quy định : một ngân hàng không
được phép cho vay một khách hàng vượt quá 15% vốn tự có của
ngân hàng, ở các nước khác là 10 – 40 % vốn tự có của ngân hàng.
1.4. Một số biện pháp phòng ngừa rủi ro tín dụng
1. 4.1. Đánh giá và nhận định khách hàng
Mục đích của đánh giá và nhận định khách hàng để xác định và hiểu rõ
người vay trên nhiều mặt. Một số ngân hàng xếp loại khách hàng căn cứ

xảy ra.Việc phân tán rủi ro được thực hiện thông qua phân tán dư nợ và
đồng tài trợ, nó được biểu hiện dưới hình thức mỗi ngân hàng không nên
tập trung quá nhiều vốn cho một khách hàng vay. Những dự án lớn cần huy
động nhiều ngân hàng tham gia đồng tài trợ và cùng quản lý vốn cho vay sẽ
hạn chế và phân tán rủi ro, tránh rủi ro tập trung lớn vào một ngân hàng.
Bởi nếu một ngân hàng đổ vỡ sẽ ảnh hưởng tới môi trường kinh tế.
1.4.4. Thực hiện cơ chế đảm bảo tiền vay
Đây là giải pháp tối ưu trong đầu tư tín dụng, vì để có thể hạn chế rủi
ro không trả được nợ của người vay, các ngân hàng quy định các điều kiện
vay vốn. Đảm bảo tiền vay có nhiều loại : đảm bảo bằng cầm cố, thế chấp
tài sản của người vay, đảm bảo bằng tài sản và bảo lãnh của bên thứ ba,
24
Chuên đề tốt nghiệp khoa: ngân hàng tài
chính
đảm bảo bằng tài sản hình thành từ vốn vay và đảm bảo bằng chính sự tín
nhiệm của người vay. Trong trường hợp xấu nhất khách hàng không có khả
năng trả vốn và lãi thì những tài sản đảm bảo đó được bán hoặc thanh lý để
hoàn trả cho ngân hàng.
1.4.5.Tham gia bảo hiểm tín dụng
Tham gia bảo hiểm tín dụng là một trong những giải pháp nhằm hạn
chế rủi ro tín dụng đã được áp dụng từ lâu trên thế giới nhưng ở Việt Nam
g ần đây mới được thực hiện, tuy nhiên các tổ chức tín dụng vẫn chưa áp
dụng nhiều. Sở dĩ vì phát sinh thêm phí bảo hiểm và thêm vào đó mức đền
bù còn chưa cao.
1.4.6. Chỉ mở rộng khối lượng tín dụng trên cơ sở nâng cao chất
lượng tín dụng
Việc mở rộng khối lượng tín dụng là hoạt động cần thiết đối với mỗi
ngân hàng nhằm tăng thu nhập thông qua lãi suất cho vay, song vấn đề chất
lượng tín dụng mới có ý nghĩa quyết định sự tồn tại và phát triển thực chất
của ngân hàng. Nếu một ngân hàng gia tăng khối lượng tín dụng mà không


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status