TIỂU LUẬN:
Quan điểm của Mác - Ănghen
về vật chất
Phần I: Mở đầu
Trong lịch sử triết học Mác - Lênin khái niệm vật chất được hiểu là tất cả
những gì tồn tại khách quan tức là những sự tồn tại của nó không phụ thuộc vào
ý thức của con người, không phụ thuộc vào quan niệm của con người. Theo đó
thì vật chất là vô cùng vô tận, là không có giới hạn, nó tồn tại giữa vô lượng các
hình thức khác nhau, có thể là những tồn tại mà con người đã biết hoặc là những
tồn tại mà con người chưa biết. Đó là những vật chất tự nhiên hoặc là những tồn
tại của vật chất trong đời sống xã hội. Vật chất tồn tại vô cùng lớn ví dụ như
thiên hà, hoặc vô cùng bé là những hạt cơ bản. Đó có thể là những tồn tại mà
người ta trực tiếp giác quan được nhưng cũng có thể là những tồn tại mà không
thể trực tiếp giác quan được nhưng nó là tồn tại khách quan. Vật chất với tư cách
là tồn tại khách quan thì không tồn tại cảm tính có nghĩa là con người không thể
người về thế giới tự nhiên.
Theo quan điểm của chủ nghĩa duy tâm thì thực thể của thế giới tự nhiên
của thế giới, cơ sở của mọi tồn tại là một bảng nguyên tinh thần nào đó, có thể là
"ý chí" của thượng đé, "ý niệm tuyệt đối" vv chẳng hạn, Platôn nhà triết học duy
tâm khách quan lớn nhất thời cổ cho rằng vật chất bắt nguồ từ "ý niệm", sự vật
cảm tính là cái bóng của "ý niệm". Mặt khác, ông tỏ ra căm thù căm thù chủ
nghĩa duy vật, kết tội các nhà duy vật, nhất là các môn đồ của Đemô out là vị
thần - một tội kết án tử hình theo luật của Aten thời bấy giờ, và đã đốt hết tác
phẩm của Đêmôrit. Hêghen nhà duy tâm khách quan tâm của triết học cổ điển
Đức cho rằng "vật chất là do ý niệm tuyệt đối sinh ra". Mặt khác, ông có thái độ
thiên lịch đối với chủ nghĩa duy vật, đã cố tình xuyên tạc, vu khống triết học duy
vật của Heraclit và Êpiquya. Béccli đã hệ thống hoá một số quan điểm của chủ
nghĩa duy tâm chủ quan đưa ra một số công thức chung:"tồ tại tức là được tri
giác". ý nghĩa của công thức là mọi sự tồn tại trong chừng mực con người cảm
thấy chúng, cái gì ngoài tri giác là không tồn tại, không có chủ thẻ thì không có
khách thể công thức này đã phủ nhận khách quan sự tồn tại của vật chất, kể cả
con người, tất yếu dẫn tới chủ nghĩa duy ngã, nghĩa là ngoài cái tôi ra thì không
có cái gì hết.
Vào thời kỳ cổ đại các nhà triết học duy vật đã đồng nhất vật chất nói
chung là những dạng cụ thể của nó, tức là những vật thể hữu hình cảm tính đang
tồn tại ở thế giới bên ngoài. ở Trung Hoa thời cổ đại, các nhà duy vật coi khí là
thực thể của thế giới ở ấn Độ thời cổ đại phái Ngaya - Vaisếika coi nguyên tử là
thực thể của thế giới ở Hy Lạp cổ đại, Talet coi thực thể của thế giới là nws
Anaximen coi thự thể ấy là khí Hêraclit coi thực thể ấy là lửa. Phủ nhận quan
điểm thực thể của thế giới là một chất cụ thể, Ămpêđoclơ đã coi thực thể và
không khí Anaximanctrơ cho rằng thực thể về thế giới là một bản nguyên tử
không xác định về chất, vô tận về mặt lượng, đó là Apeirôn. Đỉnh cao của tư
tưởng duy vật cổ đại về vật là thuyết nguyên tử của Lơxip, và Đêmôgrip…
Nguyên tử là các phần tử cực nhỏ, cứng không thể xâm nhập được không cảm
động bằng cách nào đó vào cảm giác của chúng ta tuy vậy khoahọc thời kỳ này
chỉ có cơ học cổ điển phát triển nhất, còn các ngành khoa học khác như vật lý
học, hoá học, sin học, địa chất học còn ở trình độ thấp khoa học lúc này chủ yếu
dừng lại ở trình độ sưu tập mô tả. Tương ứng với trình độ trên của khoa học thì
quan điểm thống nhất trong triết học và khoa học tự nhiên thời bấy giờ đó đã chi
phối triết học về vật chất. Người ta giải thích mọi hiện tượng tự nhiên bằng sự tác
động qua lại của lực hấp dẫn và lực đẩy củacác phân tử vật tư, theo đó các phần
tử của các phân tử vật thể, theo đó các phần tử của vật trong quá trình vận động
là bất biến còn cái thay đổi chỉ là trạng thái không gianvà tập hợp của chúng. Mọi
phân biệt về chất giữa vật thể đều bị quy giảm về sự phân biệt về lượng, mọi sự
vận động đều bị quy giảm về sự phân biệt về lượng, sự dịch chuyển vị trí trong
không gian, mọi hiện tượng phức tạp đều bị quy về cái giản đơn mà từ đó chúng
được thành thành. Niềm tin vào các chân lý trong cơ học Niutơn đã khiến các nhà
khoa học đồng nhất vật chất với khối lượng, coi vận động của vật chất chỉ là biểu
hiện của vật động cơ học, nguồn gốc vận động nằm ngoài vật chất. Kế thừa quan
điểm nguyên tử luận cổ đại, các nhà triết học duy vật cận đại vẫn coi nguyên tử
là phần tử nhỏ nhất, không thể phân chia được, tách rời nguyên tử với vận động,
không gian với thời gian.v.v
Đến cuối thế XIX đầu thế kỷ XX khi xuất hiện những phát minh mới trong
khoa học tự nhiên con người mới có những hiểu biết căn bản hơn sâu sắc hơn về
nguyên tử. Năm 1895 Ronghen phát hiện ra tia X, một loại máy điện từ có bước
sóng từ 0,01 đến 100.10
-8
cm. Năm 1896 Beccơren đã phát hiện ra hiện tượng
phóng xạ, đã bác bỏ quan niệm về sự bất biến của nguyên tử. Năm 1897 Jonson
phát hiện ra điện tử và chứng minh được điện tử là một trong những thành phần
cấu tạo nên nguyên tử. Nhờ phát minh này, lần đầu tiên trong khoa học sự tồn tại
hiện thực của nguyên tử đã được chứng minh bằng thực nghiệm. Năm 1901,
Kauyman đã chứng minh được khối lượng của điện tử không phải là khối lượng
trong quan hệ với ý thức, phạm trù đối lập với nó và trong quan hệ ấy, vật chất là
tính thứ nhất ý thức là tính thứ hai. Bằng phương pháp như vậy định nghĩa phạm
trù vật chất của Lênin được diễn đạt như sau:
"Vật chất là một phạm trù triết học dùng để chỉ thực tại khách quan được
đem lại cho con người trong cảm giác, được cảm giác của chúng ta chép lại chụp
lại, phản ánh và tồn tại khong lệ thuộc vào cảm giác".
ở định nghĩa trên Lênin phân biệt hai vấn đề quan trọng: Trước hết cần
phân biệt vật chất với tư cách là phạm trù triết học với các quan niệm của khoa
học tự nhiên về cấu tạo và những thuộc tính cụ thể của đối tượng các dạng vật
chất khác nhau. Vật chất với tư cách là phạm trù triết học nó chỉ vật chất nói
chung, vô hạn, vô tận không sinh ra, không mất đi, còn các đối tượng các dạng
vật chất khoa học cụ thể nghiên cứu đều có giới hạn nó sinh ra và mất đi để
chuyển hoá thành cái khác. Vì vậy, không thể đồng nhất vật chất nói chung với
những dạng cụ thể của vật chát như các nhà duy vật trọng lịch sử cổ đại, cận đại
đã làm.
Thứ hai là trong nhận thức luận, khi vật chất đối lập với ý thức, cái quan
trọng để nhận biết vật chất chính là những thuộc tính khách quan khách quan
theo Lênin là "cái đang tồn tại độc lập với loài người với cảm giá của con người".
Trong đời sống xã hội "vật chất là cái tồn tại xã hội không phụ thuộc vào ý thức
xã hội của con người". Về mặt nhận thức luận thì khái niệm vật chất không có gì
khác hơn". Thực tại khách quan tồn tại độc lập với ý thức con người và được ý
thức con người phản ánh".
Như vậy định nghĩa phạm trù vật chất của Lênin bao gồm những nội dung
cơ bản sau đây:
- Vất chất là cái tồn tại khách quan bên ngoài ý thức và không phụ thuộc
vào ý thức, bất kể sự tồn tại ấy con người nhận đã nhận thức được hay chưa nhận
thức được.
- Vật chất là cái gây nên cảm giác con của con người khi gián tiếp hoặc trực
tiếp tác động lên giác quan của con người.
nhất của cuộc vận động của vật chất trong không gian và thời gian.
Trước hết ta cần xem khái niệm vận động là gì. Theo quan điểm của chủ
nghĩa duy vật biện chứng, vận động không chỉ là sự thay đổi vị trí trong không
gian (hình thức vận động thấp, giản đơn của vật chất) mà theo định nghĩa chung
"vận động là mọi sự biến đổi nói chung. Ph.Anghen viết: "vận động hiểu theo
nghĩa chung nhất(…) bao gồm tấ cả mọi sự thay đổi (theo) và quá trình diễn ra
trong vũ trụ, kể từ sự thay đổi vị trí đơn giản cho đến tư duy"
1
.
Khi định nghĩa vận động là sự biến đổi nói chung thì vận động là "thuộc
tính cố hữu của vật chất" là phương thức tồn tại của vật chất"
2
. Điều này có nghĩa
là vật chất tồn tại bằng cách vận động. Trong vận động và thông qua vận động
mà các dạng vật chất biểu hiện bộc lộ sự tồn tại của mình chỉ rõ mình là cái gì.
Không thể có vật chất mà không có vận động. Một khi chúng ta nhận thức được
những hình thức vận động của vật chất thì chúng ta nhận thức được bản thân vật
chất.
Với tính cách là thuộc tính cố hữu của vật chất, theo quan điểm của triết
học Mác Lênin vận động là sự tự thân vận động của vật chất được tạo nên từ sự
tác động lẫn nhau của các thành tố nội tại trong cấu trúc vật chất. Quan điểm này
đối lập với quan điểm duy tâm hoạc siêu hình về vận động. Những người theo
quan điểm duy tâm hoặc siêu hình không đi tìm nguồn gốc của vận động ở bên
trong bản thân của sự vật, mà đi tìm nguồn gốc ở ngoài sự vật. Quan điểm sự tự
thân vận động của vật chất đã được chứng minh bởi những thành tựu của khoa
học tự nhiên và ngày càng những phát kiến mới của khoa học tự nhiên hiện đại
càng khẳng định quan điểm đó.
Vật chất là vô hạn, vô tận không sinh ra không mất đi mà vận động là
thuộc tính không thể tách rời vật chất nên bản thân sự vận động cũng không thể
động cơ học và vật lý, giữa vật lý và hoá học, bản chất của vận động sinh học,
mối quan hệ giữa quá trình vật chất và tinh thần trong đời sống xã hội v.v Tuy
nhiên cách phân loại phổ biến, chung nhất cho đến nay vẫn là chia (hình thức)
vận động thành năm hình thức cơ bản sau:
1. Vận động cơ học: sự di chuyển vị trí của các vật thể trong không gian.
2. Vận đông vật lý: Vận động của các phân tử, các hạt cơ bản, vận động
điện tử, các quá trình nhiệt điện…
3. Vận động hoá học: vận động của các nguyên tử, các quá trình hoá hợp
và phân giải các chất.
4. Vận động sinh học: Trao đổi chất giữa cơ thể sống và môi trường.
5. Vận động xã hội: Sự thay đổi, thay thế các quá trình xã hội của các hình
thái kinh tế xã hội.
Đối với sự phân loại vận động của vật chất thành 5 hình thức xác định như
trên, cần chú ý nguyên tắc quan hệ giữa chúng là:
Các hình thức vận động nói trên khác nhau về chất. Từ vận động cơ học
đến vận động xã hội khác nhau về trình độ của sự vận động, những trình độ này
tương ứng với trình độ của các kết cấu vật chất.
Các hình thức vận đọng cao dựa trên cơ sở các hình thức vận động thấp,
bao hàm trong nó tất cả các hình thức vận động thấp hơn. Trong khi đó, các hình
thức vận động thấp không có khả năng bao hàm các hình thức vận động ở trình
độ cao hơn. Bởi vậy, mọi sự quy giảm các hình thức vận động thấp đều là sai
lầm.
Trong sự tồn tại của mình, mỗi sự vật có thể gắn liền với nhiều hình thức
vận động khác nhau. Tuy nhiên bản thân tồn tại của sự vật đó bao giờ cũng đặc
trưng bằng những hình thức vận động cơ bản. Ví dụ trong cơ thể sinh vật có các
hình thức vận động khác nhau như vận động cơ học, vận động vật lý, vận động
hoá học, vận động sinh học, nhưng hình thức vận động sinh học mới là đặc trưng
cơ bản của (loài người) sinh vật. Vận động xã hội là hình thức đặc trưng cho hoạt
động của con người.
trong mọi mối quan hệ cùng một lúc. Ta nói con tàu đứng im là trong mối quan
hệ bến cảng, còn so với mặt trời và các thiên thể khác thì nó vận động theo sự
vận động của quả đất. Thứ hai, đứng im chỉ xảy ra với một hình thái vận động
trong một lúc nào đó, chứ không phải với mọi hình thức vận động trong cùng
một lúc. Ta nói con tàu đứng im là nói vận động cơ học, nhưng ngay lúc đó thì
vận động vật lý, vận động hoá học cứ diễn ra trong bản thân nó. Thứ ba, đứng im
chỉ biểu hiện trạng thái vận động của nó, đó là vận động trong thăng bằng trong
sự ổn định tương đối biểu hiện thành một sự vật, một cây, một con… trong khi
nó còn là nó chưa bị phân hoá thành cái khác. Chính nhờ trạng thái ổn định đó
mà sự vật thực hiện được di chuyển hoá tiếp theo, không có đứng im tương đối
thì không có sự vật nào cả. Do đó đứng im còn được biểu hiện như một quá trình
vận động trong phạm vi chất của sự vật còn ổn định, chưa thay đổi. Thứ tư, là
vận dộng ổn định nào đó, còn vận động nói chung tức là sự tác động qua lại lẫn
nhau giữa sự vật và hiện tượng làm cho tất cả không ngừng biến đổi. Vì thế đứng
im chỉ là một hiện tượng tạm thời. Ph.Anghen chỉ rõ: "vận động riêng biệt có xu
hướng chuyển thành cân bằng, vận động toàn bộ phá hoại sự cân bằng riêng biệt"
và "mọi sự cân bằng chỉ là tương đối và tạm thời".
3. Không gian và thời gian
Trong triết học Mác Lênin cùng với phạm trù vận động thì không gian và
thời gian là những phạm trù đặc trưng cho phương thức tồn tại của vật chất.
VI.Lênin đã nhận xét rằng: "trong thế giới không có gì ngoài vật chất đang vận
động và vật chất đang vận động không thể vận động ở đâu ngoài thời gian và
không gian"
1
.
Trong lịch sử triết học khái niệm thời gian và không gian là những phạm
trù xuất hiện rất sớm. Ngay thời xa xưa người ta đã hiểu rằng bất kỳ khách thể
vật chất nào đều chiếm một vị trí nhất định ở một khung cảnh nhất định trong
tương quan về mặt kích thước so với khách thể. Các hình thức tồn tại như vậy
1
. Lênin cho rằng để chống
lại mọi chủ nghĩa tín ngưỡng và chủ nghĩa duy tâm thì phải "thừa nhận một cách
dứt khoát kiên quyết rằng những khái niệm đang phát triển của chúng ta về
không gian và thời gian đều phản ánh thời gian và không gian thực tại khách
quan, kinh nghiệm của chúng ta và nhận thức của chúng ta ngày càng thích ứng
với không gian và thời gian khách quan, ngày càng phản ánh đúng đắn hơn và
sâu sắc hơn"
2
.
Quan điểm của triết học duy vật biện chứng như trên được xác nhận bởi
những thành tựu khoa học tự nhiên. Chẳng hạn Lôbatxépxki trong hình học phi
Ơcơlit của mình, bằng con đường hướng vào bản thân thực tại và vào bản thân
của sự vật ông đã nêu lên định đề thứ 5 khác với Ơcơlit rằng: "Qua một điểm ở
ngoài đường thẳng người ta có thể kẻ không phải là một mà ít nhất là hai đường
thẳng song song với đường thẳng đó". Sự phát triển của hình học phi Ơcơlit đã
bác bỏ tư tưởng Cantơ về không gian và thời gian coi như là những hình thức của
tri giác cảm tính ngoài kinh nghiệm Thuyết tương đối của Anhxtanh đã xác nhận
rằng, không gian và thời gian không tự nó tồn tại, tách rời vật chất mà nằm trong
mối liên hệ qua lại phổ biến không thể phân chia. Như vậy không gian và thời
gian có những tính chất sau đây:
Tính khách quan, nghĩa là không gian và thời gian là thuộc tính của vật
chất tồn tại gắn liền với nhau và gắn liền với vật chất. Vật chất tồn tại khách
quan, do đó không gian và thời gian cũng tồn tại khách quan.
Tính vĩnh cửu và vô tận nghĩa là không có tận cùng về một phía nào cả, cả
về quá khứ tương lai cả về đằng trước lẫn đằng sau, cả về bên phải lẫn bên trái,
cả về phía trên lẫn phía dưới.
1
Các Mác và Anghen: Toàn tập, NXB Chính trị quốc gia Hà Nội 1994