Tài liệu Tiểu luận "Quan điểm của trường phái trọng thương về lợi nhuận" - Pdf 90

TRƯỜNG.................
KHOA……………
…………..o0o…………..
TIỂU LUẬN

Quan điểm của trường
phái trọng thương về
lợi nhuận 1CHƯƠNG I
NGUỒN GỐC VÀ BẢN CHẤT CỦA LỢI NHUẬN



2
Với những chính sách đưa ra nhằm đạt được lợi ích như trên của các nước tư bản
chỉ mang tính chất bề mặt nông cạn. Chứng tỏ quan điểm về lợi nhuận cũng như
kinh tế chưa có “chiều sâu” thực chất. Chính điều này đã dẫn đến nhiều mâu thuẫn
trong nền kinh tế. Đòi hỏi phải thoát khỏi phương pháp kinh nghiệm thuần tuý.
Ph
ải phân tích kinh tế xã hội với tư cách là một chỉnh thể.
2. Quan điểm của trường phái cổ điển về lợi nhuận.

Trong thời kỳ chủ nghĩa trọng thương, sự hoạt động của tư bản chủ yếu là
trong lĩnh vực lưu thông. Các nhà kinh tế học của trường phái này lần đầu tiên
chuyển đối tượng nghiên cứu lĩnh vực lưu thông sang lĩnh vực sản xuất. Lần đầu
tiên họ xây dựng một hệ thống các phạm trù và quy luật của nền kinh tế thị trường
như phạm trù lợi nhuận, địa tô, lợi tức... trong đó có một số quan điểm về lợi
nhuận, nổi bật là quan điểm của Kene, A.D Smith, Ricacdo.
a. Quan điểm của Kene.
Kene được C. Mac đánh giá là cha đẻ của kinh tế chính trị học cổ điển và
ông có công lao to lớn trong lĩnh vực kinh tế. Kene đã đặt nền tảng cho việc nghiên
cứu sản phẩm tức là n
ền móng cho việc nghiên cứu quan hệ thặng dư sau này. ông
đã đưa ra những quan điểm kinh tế để tiến hành phê phán chủ nghĩa trọng thương.
Kene cho rằng trao đổi thương mại chỉ đơn thuần là việc đổi giá trị này lấy giá trị
sử dụng khác theo nguyên tắc ngang giá cả. Hai bên không có gì để mất hoặc được
cả. Bởi vậy thương nghiệp không thể đẻ ra tiền được. Theo ông lợi nhuận th
ương
nghiệp có được do tiết kiệm các khoản chi phí về thương mại và của cải chỉ có thể
tạo ra trong việc sản xuất nông nghiệp. Chính quan điểm này đã chuyển việc
nghiên cứu của cải từ lĩnh vực lưu thông sang lĩnh vực sản xuất. Ngoài ra ông còn
có lý luận về sản phẩm thặng dư. ông cho rằng sản phẩm thặng dư chỉ được tạo ra

thuyết trước đây. Tuy nhiên ông còn cho rằng sở dĩ nông nghiệp có địa tô, vì lao
đông nông nghiệp có năng suất lao động cao hơn công nghiệ
p và ông phủ nhận địa
tô tuyệt đối. Ông cho rằng nếu thừa nhận địa tô tuyệt đối là vi phạm qui luật giá trị .
b. Quan điểm của Picacdo:
Nếu như A.D.Smith sống trong thời kì công trường thủ công phát triển mạnh
mẽ thì David Ricacdo sống trong thời kì cách mạng công nghiệp. Đó là điều kiện
khách quan để ông vượt được ngưỡng giới hạn mà A.D.Smith dừng lại.Ông là
người kế tục xuất s
ắc của A.D.Smith. Theo C. Mac, A.D.Smith là nhà kinh tế của 4
thời kì công trường thủ công còn Ricacdo là nhà tư tưởng của thời đại cách mạng
công nghiệp. Ông sử dụng phương pháp khoa học tự nhiên, sử dụng công cụ trừu
tượng hoá, đồng thời áp dụng các phương pháp khoa học chính xác, đặc biệt là
phương pháp suy diễn để nghiên cứu kinh tế chính trị học.
Về lợi nhuận, Ricacdo cho rằng : “Lợi nhuận là số còn lại ngoài tiền lương
mà nha tư bản trả
cho công nhân”. Ông đã thấy xu hướng giảm sút tỉ suất lợi nhuận
và giải thích nguyên nhân của sự giảm sút nằm trong sự vận động, biến đổi thu
nhập giữa ba giai cấp: địa chủ ,công nhân và nhà tư bản. Ông cho rằng quy luật
màu mỡ đất đai ngày càng giảm, giá cả nông phẩm tăng lên làm cho tiền lương
công nhân tăng và địa tô tăng lên còn lợi nhuận không tăng. Như vậy, theo ông địa
chủ là người có lợ
i, công nhân không có lợi cũng không bị hại, còn nhà tư bản thì
có hại vì tỉ suất lợi nhuận giảm xuống. Nhưng hạn chế của ông là không phân biệt

động sản xuất hàng hoá có tính hai mặt là lao động cụ thể và lao động trừu tượng.
Theo Mác lao động cụ thể là lao động hao phí dưới một hình thức cụ thể của một
nghề nghiệp chuyên môn nhất định, có mục đích riêng, đối tượng riêng thao tác
riêng phương tiện riêng và kết quả riêng. Kết quả của lao động cụ thể tạo ra giá trị
sử dụng của hàng hoá. Lao
đông cụ thể càng nhiều loại thì giá trị sử dụng càng
nhiều loại. Tất cả các lao động cụ thể hợp thành hệ thống phân công lao động xã
hội ngày càng chi tiết. Lao động cụ thể là một phạm trù vĩnh viễn, là một điều kiện
không thể thiếu được trong mọi điều kiện của xã hội.
Lao động của người sản xuất hàng hoá nếu coi là sự hao phí sứ
c lực của con
người nói chung, không kể hình thức cụ thể của nó như thế nào gọi là lao động trừu
tượng.
Lao động bao giờ cũng là sự hao phí sức óc, sức thần kinh và bắp thịt của
con người. Nhưng bản thân sự hao phí lao động về mặt sinh lý đó chưa phải là lao
động trừu tượng. Chỉ trong xã hội có sản xuất hàng hoá mới có sự cần thiết khách
quan phải qui các loại lao độ
ng cụ thể khác nhau vốn không thể so sánh được với
nhau thành một thứ lao động đồng nhất có thể so sánh với nhau được tức là phải
quy lao động cụ thể thành lao động trừu tượng. Vì vậy lao động trừu tượng là một 6
phạm trù lịch sử. Lao động trừu tượng tạo ra giá trị hành hoá là một phạm trù lịch
sử. Lao động trừu tượng nó tạo ra giá trị của hàng hoá .
Trong nền sản xuất hàng hoá giản đơn, tính chất hai mặt của lao động sản
xuất hàng hoá là sự biểu hiện của mâu thuẫn giữa lao động tư nhân và lao động xã
7
ra giá trị hàng hoá-sức lao động. Quá trình sản xuất ra hàng hoá và tạo ra giá trị
mới lớn hơn giá trị của bản thân giá trị sưc lao động. Vởy quá trình sản xuất ra tư
bản là quá trình sản xuất ra giá trị sử dụng và quá trình sản xuất ra giá trị thặng dư.
C. Mac viết : “với tư cách là sự thống nhất giữa quá trình lao động và quá trình
sáng tạo ra giá trị thì quá trình sản xuất là quá trình sản xuất ra hàng hoá; với tư
cách là tăng giá trị thì quá trình sản xuất là một quá trình sản xuất tư bản chủ nghĩa,
là hình thái tư bản chủ nghĩa của nền sản xuất hàng hoá”.
Phần lớn giá trị mới lớn hơn giá trị sức lao động , nó được tính bằng giá trị
sức lao động cộng thêm giá trị thặng dư. Vởy giá trị thặng dư (m) là phần giá trị
mới dôi ra ngoài giá trị sức lao động do công nhân tạo ra và b
ị nhà đầu tư bản
chiếm đoạt. Qua đó chúng ta thấy tư bản là giá trị đem lại giá trị thặng dư bằng
cách bóc lột công nhân làm thuê.
Để nghiên cứu yếu tố cốt lõi tạo nên giá trị thặng dư trong quá trình sản xuất
của tư bản thì C.Mac đã chia tư bản ra làm hai bộ phận : tư bản bất biến và tư bản
khả biến.
Bộ phận t
ư bản tồn tại dưới hình thái tư liệu sản xuất mà giá trị được bảo tồn
và chuyển vào sản phẩm, tức là giá trị không biến đổi về lượng trong quá trình sản
xuất được C.Mac gọi là tư bản bất biến và ký hiệu là (c). Còn bộ phận tư bản biểu
hiện dưới hình thức giá trị sức lao động trong quá trình sản xuất đã tăng thêm về
lượng gọ
i là tư bản khả biến và ký hiệu là (v).
Như vậy, ta thấy muốn cho tư bản khả biến hoạt động được phải có một tư
bản khả biến đã được ứng trước với những tỉ lệ tương đương. Và qua sự phân chia
ta rút ra tư bản khả biến tạo ra giá trị thặng dư vì nó dùng để mua sức lao động.
Còn tư bản bất biến có vai trò gián ti

mặt lượng. Các phạm trù tỉ
suất giá trị thặng dư và khối lượng giá trị thặng dư mà ta nghiên cứu sau đây sẽ
biểu hiện về mặt lượng của sự bóc lột.
Tỷ suất giá trị thặng dư là tỉ số giữa giá trị thặng dư và tư bản khả biến. Ký hiệu
của tỉ suất giá trị thặng dư là m’ ta có :
m’ =
v
m %100.

Tỷ suất giá trị thặng dư vạch ra một cách chính xác trình độ bóc lột công nhân.
Thực chất đây là tỉ lệ phân chia ngành lao động thành thời gian lao động cần thiết 9
và thời gian lao động thặng dư. Nhưng nó không biểu hiện lượng tuyệt đối của sự
bóc lột tức là khối lượng giá trị thặng dư. Khối lượng giá trị thặng dư là tích số giữa
tỉ suất giá trị thặng dư và tổng tư bản khả biến (v). Gọi M là giá trị thặng dư thì (v
là một đơn vị tư bản thể hiện ra bên ngoài như
tiền lương của một công nhân). Nó
nói lên quy mô bóc lột của tư bản.
Nhà tư bản luôn tìm cách tạo ra giá trị thặng dư nhiều nhất bằng nhiều thủ
đoạn. Trong đó Mac chỉ ra hai phương pháp mà chủ nghĩa tư bản sử dụng đó là sản
xuất giá trị thặng dư tương đối, sản xuất giá trị thặng dư tuyệt đối. Ngoài ra còn có
phương pháp sản xuất giá tr
ị thặng dư siêu ngạch.
Mac đã chỉ ra trong giai đoạn phát triển đầu của chủ nghĩa tư bản, khi kỹ
thuật còn thấp hay tiến bộ chậm thì việc tăng giá trị thặng dư tuyệt đối bằng cách

thức biến tướng thành lợi nhuận” từ đó ta có thể thấy P chính là con đẻ của tổng tư
bản ứng trước c+v.
Để hiểu rõ hơn về P chúng ta có thể đi sâu vào phân tích chi phí thực tế xã
hội và chi phí sản xuất tư bả
n chủ nghĩa xuất phát từ giá trị của hàng hoá c+v+m.
Muốn sản xuất hàng hoá phải chi phí lao động nhất định bao gồm chi phí cho mua
tư liệu sản xuất c gọi là lao động quá khứ và lao động tạo ra giá trị mới (v+m).
Đứng trên quan điểm toàn xã hội, quan điểm của người lao động thì chi phí đó là
chi phí thực tế để tạo ra giá trị hàng hoá (c+v+m). Nhưng đối với nhà tư bản thì họ
không hao phí thực tế
để sản xuất ra hàng hoá nên nhà tư bản chỉ xem hết bao
nhiêu tư bản chứ không tính xem chi phí hết bao nhiêu lao động cần thiết. Thực tế
họ chỉ ứng ra số tư bản để mua tư liệu sản xuất (c) và mua sức lao động (v). Chi phí
đó được Mac gọi là chi phí tư bản chủ nghĩa và ký hiệu là k (k=c+v). Như vậy chi
phí tư bản chủ nghĩa luôn luôn nhỏ hơn chi phí thực tế. Giữa giá trị hàng hoá và chi
phí sản xuất tư bản chủ nghĩa có sự chênh lệch nhau một lượng đúng đắn bằng m.
Do đó nhà tư bản hàng hoá sẽ thu về một phần lời đúng bằng giá trị thặng dư m, số
tiền này gọi là lợi nhuận.
Giá trị hàng hoá lúc này bằng chi phí sản xuất tư bản chủ nghĩa cộng với lợi nhuận
: giá trị = k + P
Về mặt lượng P có nguồ
n gốc là kết quả lao động không công của công nhân
làm thuê. 11
Về mặt chất P xem như toàn bộ tư bản ứng trước đẻ ra. Do đó P che dấu

Cạnh tranh trong nội bộ ngành là sự cạnh tranh giữa các xí nghiệp trong cùng một
ngành, cùng sản xuất ra một loại hàng hoá nhằm mục đích tiêu thụ hàng hoá có lợi
hơn để th lợi nhuận siêu ngạch. 12
Do bản chất của cạnh tranh chính là một hình thức đấu tranh gay gắt giữa
những người sản xuất hàng hoá dựa trên chế độ tư hữu về tư liệu sản xuất, nhằm
dành giật những điều kiện có lợi nhất của sản xuất và tiêu thụ hàng hoá. Vì vậy cho
nên cạnh tranh trong nội bộ ngành buộc các xí nghiệp phải tìm cách giảm giá trị cá
biệt của hàng hoá thấp h
ơn giá trị xã hội để dành thắng lợi trong cạnh tranh. Kết
quả là do điều kiện sản xuất bình quân trong một ngành thay đổi, giá trị xã hội của
hàng hoá giảm xuống.
Cạnh tranh giữa các ngành là cạnh tranh giữa các nhà tư bản ở các ngành sản
xuất khác nhau nhằm tìm nơi đầu tư có lợi hơn, ở các ngành sản xuất khác nhau có
những điều kiện khác nhau, do đó tỷ suất lợi nhuận c
ũng khác nhau. Các nhà tư bản
chọn ngành có lợi nhuận cao để đầu tư. C.Mac viết : “Do ảnh hưởng của cạnh tranh
những tỉ suất lợi nhuận khác nhau đó san bằng đi thành một tỉ suất lợi nhuận chung,
đó là con số bình quân của tất cả những tỉ suất lợi nhuận khác nhau. Lợi nhuận của
một tư bản có một lượng nhất định thu được, theo tỉ su
ất lợi nhuận chung đó, không
kể cấu tạo hiện có đó như thế nào gọi là lợi nhuận bình quân”.
Quá trình bình quân hoá tỉ suất lợi nhuận là sự hoạt động của quy luật tỉ suất
lợi nhuận bình quân trong xã hội tư bản. sự hoạt động của tỉ suất lợi nhuận bình
quân là biểu hiện cụ thể của sự hoạt động của quy luật giá trị


Nhờ tải bản gốc
Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status