Lời nói đầu
Sau 15 năm thực hiện công cuộc đổi mới do Đảng khởi xớng và lãnh đạo, nớc ta
đã đạt đợc những thành tựu to lớn và toàn diện với mức tăng trởng kinh tế khá ổn
định. Trong quá trình đổi mới đó, hoạt động ngoại thơng có vai trò vô cùng quan
trọng đối với từng thành phần của nền kinh tế. Hoạt động ngoại thơng giúp mở rộng
thị trờng tiêu thụ hàng hoá, thúc đẩy sản xuất trong nớc, tạo nguồn thu ngoại tệ cho
Ngân sách Nhà nớc, giúp các doanh nghiệp đổi mới trang thiết bị công nghệ...
Chính vì vai trò quan trọng của hoạt động ngoại thơng nên việc thúc đẩy hoạt động
này là rất cần thiết. Và chính sự ra đời của nghiệp vụ tín dụng tài trợ xuất nhập khẩu
của ngân hàng là giải pháp để thúc đẩy sự phát triển hoạt động ngoại thơng.
Hoạt động ngoại thơng ngày càng phát triển làm cho nhu cầu thanh toán quốc
tế, mua bán ngoại tệ và đặc biệt là nhu cầu tài trợ ngoại thơng của các doanh nghiệp
kinh doanh xuất nhập khẩu ngày càng nhiều. Trớc sự đòi hỏi đó, ngành ngân hàng
phải nhanh chóng đổi mới, không ngừng hoàn thiện về tổ chức và cơ chế nghiệp vụ
kinh doanh đối ngoại.
Là một đơn vị trực thuộc Trung tâm điều hành NHN
o
&PTNTVN, đợc thành lập
theo quyết định số 15/TCCB ngày 25/11/1990 của Tổng giám đốc
NHN
o
&PTNTVN, Sở giao dịch I - NHN
o
&PTNTVN bắt đầu đi vào hoạt động từ
tháng 4/1991 và tiến hành hoạt động tài trợ xuất nhập khẩu từ năm 1998. Tuy còn
nhiều khó khăn, bỡ ngỡ trong quá trình thực hiện nghiệp vụ tín dụng tài trợ xuất
nhập khẩu nhng đến nay, hoạt động này tại Sở đã đạt đợc không ít thành tựu và góp
phần không nhỏ vào việc phát triển hoạt động đối ngoại của NHN
o
&PTNTVN.
Trong quá trình thực tập và học hỏi tại SGDI-NHN
kiến nghị nhằm phát triển hoạt động tín dụng tài trợ xuất nhập khẩu tại SGD I -
NHN
o
&PTNTVN.
Đối tợng và phạm vi nghiên cứu:
Khoá luận tập trung nghiên cứu, phân tích hoạt động tín dụng tài trợ xuất nhập
khẩu tại SGDI - từ năm 1999 tới nay và đề xuất biện pháp mở rộng hoạt động này
trong 5 - 10 năm tới.
Phơng pháp nghiên cứu:
Trên cơ sở lý luận về tín dụng tài trợ xuất nhập khẩu, khoá luận soi rọi vào thực
tiễn hoạt động tín dụng tài trợ xuất nhập khẩu tại SGDI - NHN
o
&PTNTVN bằng ph-
ơng pháp phân tích, so sánh, tổng hợp.
Ngoài lời mở đầu và kết luận, bản khoá luận đợc kết cấu thành 3 chơng:
Ch ơng 1 : Lý luận chung về tín dụng tài trợ xuất nhập khẩu của NHTM
Ch ơng 2 : Thực trạng hoạt động tín dụng tài trợ Xuất Nhập Khẩu tại Sở
Giao Dịch I - Ngân Hàng nông nghiệp và phát triển nông thôn Việt Nam.
Ch ơng 3 : Một số giải pháp nhằm phát triển hoạt động tín dụng tài trợ
XNK tại SGD I - Ngân Hàng nông nghiệp và phát triển nông thôn Việt
Nam
Ch ơng 1 :
Lý luận chung về tín dụng tài trợ
xuất nhập khẩu của NHTM
1.1 Tín dụng tài trợ xuất nhập khẩu & vai trò của Hoạt động này.
1.1.1 Khái niệm tín dụng tài trợ xuất nhập khẩu
Ngày nay, với xu hớng toàn cầu hoá, nền kinh tế của từng quốc gia luôn chịu
ảnh hởng và tác động của nền kinh tế thế giới. Trong bối cảnh đó, một quốc gia
không thể tồn tại độc lập với quốc gia khác về mặt kinh tế, không thể không hội
nhập với kinh tế thế giới nếu quốc gia đó không muốn bị cô lập. Thông qua hoạt
mục đích và đúng với phơng án sản suất kinh doanh nh đã cam kết với ngân hàng
thì khoản tín dụng ngân hàng cấp mới đảm bảo an toàn và hiệu quả. Để làm đợc
điều này, cán bộ tín dụng của ngân hàng phải thờng xuyên kiểm tra giám sát quá
trình sử dụng tiền vay.
4. Vốn vay phải có tài sản tơng đơng làm đảm bảo.
Đây là một nguyên tắc cần thiết bởi tài sản làm đảm bảo sẽ là nguồn thu thứ hai
cho ngân hàng khi khách hàng không thanh toán đợc nợ vay. Bằng cách phát mãi tài
sản cầm cố, thế chấp, ngân hàng có thể thu hồi một phần vốn cho vay khi khách
hàng không còn khả năng trả nợ ngân hàng.
Cùng với sự phát triển của ngoại thơng và của hệ thống ngân hàng, các phơng
thức thanh toán quốc tế ngày càng đa dạng đáp ứng đòi hỏi ngày càng cao của các
doanh nghiệp. Nhờ đó, nghiệp vụ tín dụng tài trợ xuất nhập khẩu của ngân hàng
cũng phát triển dới nhiều hình thức, góp phần phục vụ tích cực và có hiệu quả cho
hoạt động xuất nhập khẩu.
Tóm lại : Tín dụng tài trợ xuất nhập khẩu là một mảng dịch vụ trong hệ thống
tất cả các dịch vụ chuyên biệt của ngân hàng nhằm hỗ trợ các nhà kinh doanh
xuất nhập khẩu trong giao dịch thơng mại quốc tế. Mảng dịch vụ này mang nét
chung là ngân hàng cung ứng vốn bằng tiền hoặc bảo lãnh bằng uy tín cho các
bên xuất khẩu, nhập khẩu, giúp họ gia tăng hiệu quả trong kinh doanh và thực
hiện thơng vụ thành công.
1.1.2 Vai trò của tín dụng tài trợ xuất nhập khẩu
Tín dụng tài trợ xuất nhập khẩu là một mảng dịch vụ có ý nghĩa cực kỳ quan
trọng không những đối với các doanh nghiệp mà còn đối với cả ngân hàng và đối
với nền kinh tế. Nhờ hoạt động tài trợ xuất nhập khẩu của ngân hàng mà tất cả các
bên tham gia vào thơng mại quốc tế đều đợc hởng lợi từ chính hoạt động này.
1.1.2.1 Đối với nền kinh tế
Thông qua các hình thức tín dụng tài trợ xuất nhập khẩu của các ngân hàng thơng
mại, hoạt động mua bán hàng hoá xuất nhập khẩu theo yêu cầu của thị trờng đợc
thực hiện thờng xuyên, liên tục; các sản phẩm trong nớc có thể thâm nhập thị trờng
quốc tế dễ dàng hơn. Hoạt động tài trợ xuất nhập khẩu góp phần nâng cao tính năng
giao dịch của doanh nghiệp, tránh tình trạng doanh nghiệp đợc tài trợ vốn sử dụng
vốn sai mục đích, giúp cho ngân hàng tránh rủi do tín dụng.
Lợi ích quan trọng khác mà hoạt động tín dụng tài trợ xuất nhập khẩu mang lại
cho ngân hàng là không những giúp thắt chặt mối quan hệ bền vững giữa ngân hàng
với các doanh nghiệp kinh doanh xuất nhập khẩu mà cón giúp mở rộng hoạt động
và nâng cao uy tín của ngân hàng trên thị trờng quốc tế.
1.1.2.3 Đối với các doanh nghiệp
Thông qua tín dụng tài trợ xuất nhập khẩu của ngân hàng mà nhu cầu tài chính
cho các thơng vụ lớn của các thơng nhân đợc đáp ứng. Trong kinh doanh quốc tế, có
những thơng vụ ngoại thơng đòi hỏi một nguồn vốn rất lớn để thanh toán tiền hàng
mà nguồn vốn lu động của doanh nghiệp nhiều khi không đáp ứng kịp thời cho nhu
cầu thanh toán hàng nhập hoặc chuẩn bị hàng xuất. Chính nhờ hoạt động tài trợ của
ngân hàng mà doanh nghiệp có thể thực hiện những hợp đồng lớn này.
Bên cạnh đó, hiệu quả của doanh nghiệp trong quá trình thực hiện hợp đồng tăng
lên nhờ có nghiệp vụ tài trợ ngoại thơng. Đối với doanh nghiệp xuất khẩu, vốn tài
trợ giúp doanh nghiệp thu mua hàng đúng thời vụ; gia công chế biến và giao hàng
đúng thời điểm. Đối với doanh nghiệp nhập khẩu, vốn tài trợ của ngân hàng giúp
doanh nghiệp mua đợc lô hàng lớn, giá cả hạ hơn. Cả hai trờng hợp này đều giúp
tăng hiệu quả kinh doanh của doanh nghiệp.
Tín dụng tài trợ xuất nhập khẩu cũng tạo điều kiện thuận lợi cho các doanh
nghiệp tiểu thủ công nghiệp phát triển sản xuất, tăng nhanh sản lợng, đa dạng hoá
mặt hàng xuất khẩu, giúp cho các sản phẩm trong nớc có thể thâm nhập thị trờng n-
ớc ngoài dễ dàng hơn.
Tín dụng tài trợ xuất nhập khẩu của ngân hàng còn giúp doanh nghiệp nâng cao
uy tín trên thị trờng quốc tế. Nhờ có bảo lãnh của ngân hàng, các doanh nghiệp có
thể thực hiện các hợp đồng lớn trôi chảy, quan hệ làm ăn với các khách hàng lớn
trên thế giới, từ đó không ngừng nâng cao uy tín doanh nghiệp trên thị trờng quốc
tế.
1.2 Một số hình thức tín dụng tài trợ Xuất Nhập Khẩu
Hoạt động kinh doanh quốc tế ngày càng phát triển và nhu cầu tài trợ của ngân
(3) Ngân hàng phục vụ nhà nhập khẩu mở L/C theo yêu cầu của nhà nhập khẩu và thông báo về việc
mở L/C với ngân hàng phục vụ nhà xuất khẩu.
(4) Ngân hàng phục vụ nhà xuất khẩu thông báo toàn bộ L/C đã đợc xác định tính chân thực cho
nhà xuất khẩu.
(5) Nhà xuất khẩu có đợc L/C nh yêu cầu sẽ tiến hành giao hàng.
(6) Nhà xuất khẩu tập trung chứng từ chuyển cho ngân hàng phục vụ mình và ngân hàng này có
trách nhiệm kiểm tra bộ chứng từ.
(7) Ngân hàng phục vụ nhà xuất khẩu gửi toàn bộ chứng từ kèm theo lệnh đòi tiền sang ngân hàng
phục vụ nhà nhập khẩu
(8) Ngân hàng phục vụ nhà nhập khẩu kiểm tra toàn bộ chứng từ xem có phù hợp với L/C không.
Nếu phù hợp thì sẽ trả tiền cho nhà xuất khẩu thông qua ngân hàng phục vụ nhà xuất khẩu.
(9) Ngân hàng phục vụ nhà nhập khẩu đòi tiền nhà nhập khẩu.
1.2.1.1.2 Cho vay ký quỹ L/C
Ngân hàng phục vụ
nhà xuất khẩu
(Advising Bank)
Ngân hàng phục vụ
nhà nhập khẩu
(Issuing Bank)
Ngời xuất khẩu Ngời nhập khẩu
Ký quỹ là quy định của ngân hàng phát sinh trong trờng hợp khách hàng đề nghị
ngân hàng phát hành L/C, xác nhận L/C hoặc bảo lãnh cho doanh nghiệp vay vốn n-
ớc ngoài. Khách hàng sẽ phải nộp một khoản tiền nhất định vào tài khoản của họ tại
ngân hàng và khoản tiền đó sẽ bị phong toả cho đến khi nghĩa vụ của ngân hàng
chấm dứt. Khoản ký quỹ thờng tỷ lệ với giá trị L/C phát hành hoặc giá trị mà khách
hàng xin bảo lãnh. Để đề phòng rủi ro, với những khách hàng thiếu sự tin cậy hoặc
với thơng vụ tiềm ẩn rủi ro cao, ngân hàng thờng yêu cầu ký quỹ đủ 100% giá trị L/
C hoặc 100% giá trị khách hàng xin bảo lãnh. Trong thực tế, ngân hàng thờng phân
loại khách hàng của mình tuỳ theo tình hình tài chính, uy tín, khả năng thanh toán
bù đắp chi phí gánh chịu rủi ro. Khoản phí này thờng nhỏ mà rủi ro do nghiệp vụ
này mang lại rất lớn nên các ngân hàng thờng ít thực hiện nghiệp vụ này.
Tín dụng chấp nhận hối phiếu này xảy ra trong trờng hợp ngời xuất khẩu không
tin tởng vào khả năng thanh toán của ngời nhập khẩu nên nhà xuất khẩu đề nghị
nhà nhập khẩu yêu cầu một ngân hàng đứng ra chấp nhận hối phiếu do ngời xuất
khẩu ký phát. Nếu ngân hàng không tin tởng vào nhà nhập khẩu thì ngân hàng có
thể đồng ý chấp nhận hối phiếu nếu nhà nhập khẩu ký quỹ 100% giá trị hối phiếu.
Trong trờng hợp này thì ngân hàng là ngời tài trợ uy tín cho nhà nhập khẩu.
1.2.1.1.5 Tín dụng thuê mua (leasing)
Đây là hình thức cam kết giữa ngời cho thuê và ngời đi thuê để thuê một tài sản
nhất định do ngời thuê chọn lựa, ngời thuê đợc quyền sử dụng tài sản này trong
khoảng thời gian nhất định và phải trả tiền dần từng kỳ theo hợp đồng thuê mua.
Khi kết thúc hợp đồng, ngời mua đợc quyền chọn mua tài sản cho thuê theo giá cả
ấn định.
Ngời cho thuê là công ty thuê mua của ngân hàng và ngời đi thuê chính là các
doanh nghiệp kinh doanh nhập khẩu. Hình thức tín dụng này thờng là trung dài hạn,
nó tạo điều kiện cho doanh nghiệp đổi mới công nghệ, máy móc, thiết bị mà không
phải trả tiền ngay một lúc.
Sơ đồ 1.2 : Quy trình nghiệp vụ tín dụng thuê mua
(2)
(4) (3) (1) (5)
(1) Nhà nhập khẩu ký hợp đồng thuê mua
(2) Nhà nhập khẩu lựa chọn nhà xuất khẩu để mua hàng hoá
(3) Công ty thuê mua của ngân hàng ký hợp đồng mua tài sản với nhà xuất khẩu
(4) Nếu nhà xuất khẩu chấp nhận giá mua và công ty thuê mua đồng ý với các điều kiện thoả thuận
thì nhà xuất khẩu bán 100% giá trị tài sản cho công ty thuê mua
(5) Trong thời gian thuê mua, nhà nhập khẩu (ngời đi thuê) phải đặt cọc một khoản tiền và phải trả
tiền thuê cho công ty thuê mua.
1.2.1.2 Tài trợ xuất khẩu
nhợng khống hoặc chuyển nhợng cho ngân hàng cấp tín dụng ứng trớc. Nếu những
giấy tờ có giá trị trên không cho phép chuyển nhợng thì ngời vay vốn phải sử dụng
hình thức cấp vốn khác.
Mức độ cấp vốn ứng trớc phụ thuộc vào các yếu tố sau:
- Khả năng thanh toán của nhà nhập khẩu
- Khả năng cạnh tranh của hàng hoá và giá trị hàng hoá dự kiến
- Chính sách kinh tế, chính trị của nớc nhập khẩu đối với ngân hàng phục vụ nhà
xuất khẩu
- Những rủi ro về tỷ giá hối đoái
Điểm khác biệt lớn giữa tài trợ chiết khấu và tài trợ ứng trớc là ở mức giá trị tài
trợ. Tơng ứng với sự khác biệt này, quyền hạn của ngân hàng đối với việc thụ hởng
giá trị hối phiếu, các quyền hạn khác liên quan tới hối phiếu và quyền hạn trong
việc xử lý bộ chứng từ.
- Trong tài trợ chiết khấu, ngân hàng có toàn quyền ra chỉ thị xử lý và yêu cầu
ngân hàng xuất trình thực hiện
- Trong tài trợ ứng trớc, ngân hàng chỉ đơn giản là ngân hàng chuyển giao chỉ
thị của nhà xuất khẩu
Đối với nghiệp vụ chiết khấu bộ chứng từ cũng nh tài trợ ứng trớc, ngân hàng
chỉ có quyền truy đòi nhà xuất khẩu khi bị bên mua từ chối thanh toán.
1.2.1.2.3 Chiết khấu hối phiếu
Đây là nghiệp vụ tín dụng ngắn hạn đợc thực hiện dới hình thức khách hàng
chuyển quyền sở hữu hối phiếu cha đáo hạn cho ngân hàng để nhận một số tiền
bằng mệnh giá của hối phiếu trừ đi lãi chiết khấu và hoa hồng phí chiết khấu.
Thông qua hình thức chiết khấu hối phiếu ngân hàng tài trợ một khoản tín dụng
cho nhà xuất khẩu để họ tiếp tục quá trình tái sản xuất. Đặc trng của nghiệp vụ này
là ngân hàng khấu trừ tiền lãi ngay khi chiết khấu và chỉ chuyển cho ngời xuất khẩu
số tiền còn lại. Điều này có nghĩa là ngân hàng thu lãi của khoản tín dụng ngay khi
cấp tín dụng. Khi kết thúc thời hạn chiết khấu, ngân hàng sẽ đòi tiền ở ngời có
nhiệm vụ trả tiền hối phiếu. Ngân hàng sẽ gặp rủi ro khi ngời có trách nhiệm trả tiền
hối phiếu từ chối trả tiền hối phiếu hoặc không có khả năng trả tiền khi hối phiếu
gia tăng. Nhà xuất khẩu cần có sự bảo lãnh của ngân hàng khi nhà nhập khẩu yêu
cầu bởi nhà nhập khẩu không biết hay không tin tởng vào khả năng thực hiện hợp
đồng của nhà xuất khẩu. Ngợc lại, nhà nhập khẩu cũng cần có sự bảo lãnh của ngân
hàng khi nhà xuất khẩu yêu cầu bởi vì nhà xuất khẩu không nắm chắc khả năng tài
chính, khả năng thanh toán hay mức độ tín nhiệm của nhà nhập khẩu.
Trên thực tế, có rất nhiều loại bảo lãnh ngân hàng tuỳ theo yêu cầu của các bên
mua bán trong quá trình thực hiện hợp đồng. Một số loại bảo lãnh ngân hàng cho
ngời xuất khẩu là bảo lãnh đấu thầu, bảo lãnh thực hiện hợp đồng, bảo lãnh tiền cọc,
bảo lãnh bảo hành, bảo lãnh bảo lu... Một số hình thức bảo lãnh ngân hàng dành cho
ngời nhập khẩu là : tài trợ xác nhận L/C...
Thực chất việc ký xác nhận vào L/C phát hành của ngân hàng ở nớc xuất khẩu là
nghiệp vụ bảo lãnh uy tín thanh toán cho ngân hàng phát hành, đây là một dạng tài
trợ liên ngân hàng. Khi thực hiện nghiệp vụ tài trợ này, ngân hàng xác nhận đã đảm
nhận trớc nhà xuất khẩu tất cả rủi ro liên quan đến uy tín và khả năng thanh toán
của nhà nhập khẩu, của ngân hàng phát hành L/C và cả của quốc gia nhập khẩu.
Hình thức tín dụng bảo lãnh mang lại nhiều lợi ích cho các bên liên quan:
- Đối với nhà xuất khẩu: nếu nhà nhập khẩu là ngời đợc bảo lãnh thì nhà xuất
khẩu hoàn toàn yên tâm là mình sẽ đợc thanh toán khi đến hạn nếu thực hiện đúng
hợp đồng. Còn nếu nhà xuất khẩu là ngời đợc bảo lãnh thì ngời xuất khẩu có thể ký
đợc hợp đồng và bán đợc hàng do ngân hàng đã bảo lãnh thực hiện hợp đồng cho
anh ta.
- Đối với nhà nhập khẩu: nếu nhà nhập khẩu là ngời đợc bảo lãnh thì nhà nhập
khẩu sẽ đợc hởng một khoản vốn của bên xuất khẩu mà không phải trả lãi, chỉ trả
một khoản phí cho ngời bảo lãnh. Nếu nhà xuất khẩu là ngời đợc bảo lãnh thì nhà
nhập khẩu yên tâm là mình sẽ mua đợc hàng và không bị mất thời cơ trong kinh
doanh vì không có hàng.
- Đối với ngân hàng (ngời bảo lãnh): thực hiện nghiệp vụ bảo lãnh nghĩa là ngân
hàng có đợc uy tín, đợc sự tín nhiệm của bên xuất khẩu hay nhập khẩu. Bên cạnh đó
ngân hàng còn có thu nhập là khoản phí bảo lãnh.
1.3 Những rủi ro trong tín dụng tài trợ Xuất Nhập Khẩu
Rủi ro này làm ngân hàng mất uy tín và có thể dẫn đến phá sản ngân hàng.
1.3.5 Rủi ro tác nghiệp
Đây là loại rủi ro phát sinh từ các dịch vụ thu phí của ngân hàng , theo đó một
sai sót hay một sự bất cẩn khiến cho ngân hàng phải gánh chịu những tổn thất tài
chính to lớn. Những yếu tố gây rủi ro loại này có thể là sự gian lận của khách hàng,
sự vị phạm đạo đức nghề nghiệp của cán bộ ngân hàng, rủi ro pháp lý, rủi ro môi tr-
ờng...
1.4 Quy trình thực hiện tín dụng tài trợ Xuất Nhập Khẩu của các
Ngân Hàng Thơng Mại
1.4.1 Thủ tục tài trợ
Khi có nhu cầu về tài trợ xuất nhập khẩu của ngân hàng, khách hàng đến ngân
hàng xin tài trợ và nộp các hồ sơ liên quan để ngân hàng có căn cứ xét duyệt. Các
giấy tờ liên quan gồm có:
* Hồ sơ pháp lý gồm :
Giấy phép thành lập; giấy phép hành nghề của cơ quan chuyên môn; giấy
chứng nhận đăng ký kinh doanh; giấy phép trú đóng; bảng điều lệ công ty; giấy bổ
nhiệm giám đốc, kế toán trởng.
Đối với doanh nghiệp có vốn đầu t nớc ngoài phải có: Giấy phép đầu t, góp đủ
vốn pháp định.
* Hồ sơ kinh tế gồm :
Bảng báo cáo kết quả kinh doanh, bảng cân đối kế toán, bảng báo cáo lu chuyển
tiền tệ, bảng báo cáo kiểm toán, bảng thuyết minh.
* Hồ sơ cho vay gồm :
Đơn xin vay hoặc đơn xin bảo lãnh; các hợp đồng thơng mại, hợp đồng ngoại
thơng; hợp đồng uỷ thác (trong trờng hợp doanh nghiệp không có chức năng kinh
doanh xuất nhập khẩu); bảng liệt kê tài sản thế chấp, cầm cố (nếu có) kèm theo giấy
chứng nhận quyền sở hữu; các giấy tờ liên quan khác.
1.4.2 Thẩm định hồ sơ
Thẩm định hồ sơ là việc cán bộ tín dụng thẩm tra lại các thông tin về khách
hàng dựa trên cuộc phỏng vấn tiếp xúc trực tiếp với khách hàng và qua hồ sơ khách
Cán bộ tín dụng kiểm tra việc sử dụng vốn vay phải xác định đợc cả hình thái
hiện vật và giá trị thực tế tiền vay của đơn vị về các mặt nh : hiệu quả kinh tế, mục
đích và đối tợng sử dụng vốn, khả năng hoàn trả cả gốc lẫn lãi.
Cán bộ tín dụng có thể kiểm tra thông qua 2 loại thông tin chủ yếu sau:
- Thông tin từ khách hàng vay vốn. Thông tin này thu đợc thông qua kiểm tra
các loại chứng từ gốc nh : chứng từ ghi sổ, bản kê chi phí sử dụng tiền vay, các hợp
đồng kinh tế, sổ sách kế toán thống kê, bảng cân đối tài sản, tồn kho thực tế vật t
hàng hoá, công nợ phải trả...
- Các loại thông tin khác do ngân hàng tự điều tra hoặc xác minh từ nhiều
nguồn khác nhau: từ bạn hàng và khách hàng của ngời vay, từ cơ quan quản lý kinh
tế của Nhà nớc...
1.4.6 Tính lãi - thu lãi - thu nợ - gia hạn
Ngân hàng sẽ tính lãi theo lãi suất hai bên đã thoả thuận tại thời điểm ký kết hợp
đồng. Sắp đến ngày đáo hạn thì ngân hàng phải thông báo cho khách hàng biết để
chuẩn bị tiền trả nợ cho ngân hàng.
Trong trờng hợp đến ngày đáo hạn mà khách hàng không trả đợc nợ thì ngân
hàng buộc phải chuyển nợ quá hạn và khách hàng phải chịu lãi suất phạt do nợ quá
hạn. Lãi suất phạt này thờng bằng 150% lãi suất của hợp đồng tín dụng.
Trong trờng hợp bất khả kháng nên khách hàng không thể thanh toán tiền vay
đúng hạn thì khách hàng phải xin gia hạn nợ và thời gian gia hạn nợ không đợc vợt
quá thời gian tài trợ vốn. Trong trờng hợp này thì khách hàng không phải trả lãi suất
theo lãi suất nợ quá hạn.
1.4.7 Thanh lý hợp đồng tín dụng
Sau khi khách hàng hoàn trả đầy đủ cả gốc và lãi tiền vay, cán bộ tín dụng đối
chiếu xác nhận với kế toán và đóng hồ sơ tài trợ lại, chuyển vào hồ sơ lu của khách
hàng.
Quy trình thực hiện tài trợ đến đây là kết thúc.
1.5 Các hình thức tín dụng tài trợ xuất nhập khẩu tại các NHTM
Việt Nam hiện nay
Tín dụng tài trợ xuất nhập khẩu có ý nghĩa cực kỳ quan trọng đối với các doanh
đồng ngoại
thơng
đã ký
Chiết khấu
bộ chứng
từ hàng
xuất
Mở L/C
thanh
toán
hàng
nhập
khẩu
Cho
vay
thanh
toán bộ
chứng
từ hàng
nhập
Nghiệp
vụ bảo
lãnh
Phát
hành
th bảo
lãnh
Mở L/
C trả
chậm
o
&PTNTVN là một trong bốn ngân hàng thơng mại quốc doanh lớn nhất Việt
Nam hiện nay đợc thành lập theo mô hình Tổng công ty Nhà nớc với thời gian hoạt
động là 99 năm.
Qua 14 năm hoạt động, NHN
o
&PTNTVN đang trên đà phát triển ổn định và
không ngừng lớn mạnh. Từ số vốn ban đầu do Nhà nớc cấp là 2200 tỷ VND, đến
cuối năm 2001, ngân hàng có tổng nguồn vốn đạt 73635 tỷ VND, tăng 33,7% so
với năm 2000. Nguồn vốn hiện có của ngân hàng chủ yếu đầu t cho các thành phần
kinh tế, đến nay đã giải ngân tới hơn 8 triệu hộ trong đó cho vay hơn 2,6 triệu hộ
nghèo và gần 20.000 doanh nghiệp. Tổng d nợ của ngân hàng đạt 66.230 tỷ VND
trong đó d nợ cho vay hộ nghèo là 6200 tỷ VND. Ngân hàng có tỷ lệ nợ quá hạn
thấp : 0,7% (giảm 0,4 % so với năm 2000). Hiện nay NHN
o
&PTNTVN có hơn
24000 cán bộ công nhân viên với mạng lới rộng khắp gồm gần 1600 chi nhánh
trên toàn quốc.
Cùng với việc mở rộng hoạt động kinh doanh đối nội, NHN
o
&PTNT vẫn tiếp tục
quan hệ quốc tế và kinh doanh đối ngoại. Ngân hàng hiện có quan hệ với 740 tổ
chức tài chính tín dụng, ngân hàng nớc ngoài ở Việt Nam và ở 89 quốc gia trên thế
giới. Đến cuối 2001, đã có 55 chi nhánh NHN
o
&PTNTVN trực tiếp tham gia thanh
toán quốc tế. Trong năm 2001, doanh số thanh toán quốc tế là 1754 triệu USD,
doanh số mua bán ngoại tệ đạt 4038 triệu USD. Bên cạnh đó, hoạt động đối ngoại
và thanh toán biên giới đã đợc mở rộng tới nhiều chi nhánh trong toàn hệ thống, góp
phần đa dạng hoá sản phẩm dịch vụ, thu hút thêm nhiều khách hàng và tạo điều
o
&PTNTVN và tiến hành hoạt động tài trợ xuất nhập
khẩu từ năm 1998.
SGDI có trụ sở đặt tại số 4 Phạm Ngọc Thạch, Đống Đa, Hà Nội.
2.1.2.1 Cơ cấu tổ chức của SGDI
Cán bộ công nhân viên của sở gồm có 82 ngời trong đó có một giám đốc và ba
phó giám đốc. Giám đốc sở là ngời trực tiếp điều hành và chịu trách nhiêm trực tiếp
trớc Tổng giám đốc NHN
o
&PTNTVN. Hiện nay Sở gồm có 6 phòng ban:
- Phòng hành chính
- Phòng tổ chức
- Phòng kế hoạch kinh doanh
- Phòng kế toán
- Phòng kiểm tra, kiểm toán nội bộ
- Phòng ngân quỹ.
Ngoài ra, SGDI còn có 2 chi nhánh ở Tây Sơn, Trung Yên và 2 phòng giao dịch.
Sơ đồ 2.1 : Cơ cấu tổ chức của SGDI (trang bên)
2.1.2.2 Hoạt động kinh doanh của SGDI
Nhiệm vụ chính của SGDI là thực hiện các lệnh thanh toán, điều chuyển vốn
trong toàn hệ thống NHN
o
&PTNTVN và trực tiếp kinh doanh tiền tệ, tín dụng, cung
cấp các dịch vụ ngân hàng trên địa bàn Hà Nội.
Nhằm thực hiện tốt hai nhiệm vụ trên, Sở có các hoạt động kinh doanh cụ thể nh
sau:
- Hoạt động huy động vốn:
Sở huy động vốn thông qua nhận tiền gửi tiết kiệm không kỳ hạn và có kỳ hạn
bằng cả nội tệ và ngoại tệ của các tổ chức, cá nhân thuộc mọi thành phần kinh tế
trong và ngoài nớc. Bên cạnh đó Sở còn phát hành chứng chỉ tiền gửi, kỳ phiếu, trái
có giá, thẻ thanh toán uỷ thác cho vay ngời nghèo, uỷ thác cho thuê tài chính...
Đầu mối cân đối điều hoà nguồn vốn kinh doanh nội tệ đối với các chi nhánh
trong hệ thống NHN
o
&PTNTVN.
Thực hiện các nhiệm vụ khác đợc Tổng giám đốc NHN
o
&PTNTVN giao cho.
2.2 Tình hình xuất nhập khẩu của Việt Nam trong thời gian
qua và triển vọng trong tơng lai
2.2.1 Tình hình xuất nhập khẩu của Việt Nam trong thời gian qua
Từ sau đại hội Đảng toàn quốc lần thứ VI đến nay, nền kinh tế nớc ta đang từng
bớc phát triển và hội nhập cùng nền kinh tế thế giới. Với sự phát triển không ngừng
của kinh tế quốc tê, trong thời gian qua, hoạt động xuất nhập khẩu ở Việt Nam đã
góp phần đáng kể vào công cuộc Công nghiệp hoá - Hiện đại hoá đất nớc và góp
phần hoàn thành những nhiệm vụ đề ra trong Kế hoạch 5 năm 1996 - 2000.
Kế hoạch 5 năm 1996 - 2000 cho lĩnh vực xuất nhập khẩu tuy gặp khó khăn trong
quá trình thực hiện do tác động tiêu cực của cuộc khủng hoảng tài chính nhng đã