TÌM HIỂU SỰ GIAO LƯU VĂN HÓA
QUA LỄ HỘI DÂN GIAN Ở MIỀN ĐÔNG
NAM BỘ
1
VNH3.TB4.46
TÌM HIỂU SỰ GIAO LƯU VĂN HÓA QUA
LỄ HỘI DÂN GIAN Ở MIỀN ĐÔNG NAM BỘ
ThS. Nguyễn Thị Nguyệt
Bảo tàng Đồng Nai
Đặt vấn đề
Miền Đông Nam Bộ bao gồm các tỉnh thành như: Bà Rịa - Vũng Tàu, Đồng Nai,
Bình Dương, Bình Phước, Tây Ninh và thành phố Hồ Chí Minh. Dân cư ở miền Đông Nam
Bộ ngoài người Việt chiếm đa số, còn có các dân tộc bản địa và nhập cư như: Chơro, Mạ,
Stiêng, Cơho, Hoa, Chăm, Khơmer, Tày, Nùng, Mường… Miền Đông Nam bộ có vị trí địa
lý thuận lợi cho việc phát triển nông nghiệp cũng như phát triển công nghi
ệp, kinh tế dịch
Giao lưu văn hóa (exchange culture) là khái niệm nói về một hiện tượng phổ biến
mang tính quy luật thường xuyên chi phối quá trình vận động, phát triển trong mọi nền văn
hóa dân tộc trên thế giới. Giao lưu văn hóa là hệ quả của sự tiếp xúc và là điều kiện cho sự
hội nhập của các nền văn hóa khác nhau khi có dịp gặp nhau trong bối cảnh lịch sử nhất
định. Giao lưu văn hóa chính là quá trình của s
ự gặp gỡ các giá trị văn hóa của dân tộc khác
nhau. Trong những điều kiện lịch sử cụ thể, sự tiếp xúc văn hóa có thể trực tiếp hoặc gián
tiếp, lâu dài hoặc ngắn ngủi, tự nhiên hoặc cưỡng bức… là những nhân tố trong quá trình
giao lưu, tiếp xúc văn hóa để hình thành nên những đặc trưng văn hóa mới, phù hợp cho cả
hai nền văn hóa ấy.
2. Những lễ hội dân gian tiêu biểu ở miền Đông Nam Bộ
Lễ hội dân gian là hệ thống những lễ hội được tổ chức mang tính chất dân dã, phổ
biến trong cộng đồng xã hội nhằm phục vụ cho nhu cầu về tâm linh của con người cầu
mong cho cuộc sống được tốt lành, may mắn.
2.1. Lễ hội núi Bà Đen- Linh Sơn Thánh mẫu (Tây Ninh)
Núi Bà Đen cách thị xã Tây Ninh 11km, có diện tích rộng 24km
2
gồm ba ngọn núi là:
núi Heo, núi Phụng và núi Bà tạo thành. Núi Bà Đen cao 986m là ngọn núi cao nhất Nam
Bộ. Nhìn từ xa, do luôn được bao phủ bởi những đám mây trắng trên đỉnh núi, Bà Đen trông
giống như được khoác một tấm lụa mỏng. Trên núi, có nhiều hang động, cây cỏ xanh tươi,
nước chảy theo khe róc rách tạo nên phong cảnh sơn thủy hữu tình giống như một bức
tranh thủy mặc.
Rải khắp từ chân núi lên đến đỉnh là những qu
ần thể kiến trúc gồm điện, chùa, miếu,
tháp hầu hết đều phản ánh những đặc trưng của văn hóa Phật giáo và tín ngưỡng dân gian.
Núi Bà Ðen có điện thờ Linh Sơn Thánh Mẫu (Điện Bà), bên trong có bức tượng đồng Bà
Đen - Linh Sơn Thánh Mẫu. Bên cạnh các tượng Phật còn có hệ thống các tượng thờ tín
ngưỡng dân gian như: Quan công, Tứ vị Sơn thần, Ngọc Hoàng, Nam Tào, Bắc Đẩu, Ông
Địa, Ông Tà, Tứ v
Bà bằng nước thơm nấu bởi các loại hoa: sen, lài, sứ, quế do các lễ sĩ dâng lên. Lễ sĩ là
những thiếu nữ được chia thành cặp trong các bộ lễ phục đẹp lộng lẫy, chân bước nhẹ, nhịp
nhàng "đăng đài" theo bộ "chữ Tâm" trong tiếng nhạc lễ qua các làn điệu Xuân, Đảo Nam
Bộ.
Mỗi dịp xuân về, lễ hội núi Bà Đen lạ
i thu hút hàng triệu lượt du khách trên khắp mọi
miền đất nước.
Ngoài ra còn một lễ Vía Bà vào ngày mồng 6 tháng 5 âm lịch. 0 giờ đêm ngày 5
tháng 5 âm lịch, diễn ra lễ Tắm Bà tại Điện thờ có màn che bên ngoài. Một số phụ nữ lớn
tuổi làm các nghi thức như: thắp hương xin phép Bà, lau Bà bằng nước dừa nấu với hoa, lá
và nước hoa, thay trang phục mới cho Bà, lễ Bà. Tắm xong, nhang đèn được thắp lên và cửa
đền rộng mở
đón khách thập phương đến viếng Bà. Lễ vật cúng Bà là hương, đăng, trà, quả,
rượu, bánh
Buổi sáng sớm ngày 6/5 Ban tổ chức làm lễ Trình Thập Cúng với 10 món lễ vật gồm:
hương, đèn, hoa, trà, quế, rượu, bánh ít chay, cặp dây chuyền, xuyến, bông tai (nữ trang
bằng vàng mã). Các lễ vật do các vị sư nhà Phật và Ban tế lễ (mặc áo thụng xanh, thắt đai
đen, mang hài và đội mũ tế) thực hiện trong tiếng nh
ạc lễ, trống, chiêng vang lên rộn rã
Buổi tối biểu diễn hát Bóng rỗi (múa Mâm vàng, Mâm bạc, Mâm đồ chơi ), hát
Chặp Địa Nàng.
Ngày 6/5 âm lịch nghi lễ theo Phật giáo, các hòa thượng tụng kinh sám hối, cúng
Ngọ, thí thực cô hồn Trước đây còn tổ chức hát Bội vào các ngày 7 và 8 tháng 5 âm lịch.
Có thể nói, lễ Vía bà Đen gồm cả hai lễ lớn vào dịp Rằm tháng giêng và ngày 6/5 âm
lịch. Lễ hội kết hợp với leo núi, vãn cảnh chùa tạo nên hoạt độ
ng văn hóa du lịch độc đáo
ở danh lam thắng cảnh này. Lễ hội núi Bà Đen với những lễ nghi và phần hội thể hiện sự
đan xen giữa Phật giáo và tín ngưỡng thờ Mẫu của người dân Nam Bộ.
2.2. Lễ hội đình thần Thắng Tam (Bà Rịa - Vũng Tàu)
Lễ hội đình thần Thắng Tam là một hoạt động văn hoá đặc sắc của ngư dân miền
biển Vũng Tàu. Lễ hội góp phần bảo tồn và làm phong phú cho sinh hoạt văn hóa tinh thần
ở miền Đông Nam bộ trong cuộc sống hiện đại hôm nay.
2.3. Lễ hội Nghinh Cô (Bà Rịa - Vũng Tàu)
Lễ hội Nghinh Cô nằm trong hệ thống lễ hội thờ Mẫu - nữ thần tiêu biểu củ
a ngư dân
Bà Rịa - Vũng Tàu. Nhưng đây không đơn thuần chỉ thờ nữ thần mà là sự kết hợp của lễ hội
Cầu Ngư với tục thờ cúng Thần Biển (Bà Thủy Long, cá voi của người Chăm) và tín
ngưỡng thờ Mẫu - nữ thần của cư dân địa phương.
Hàng năm, cứ đến ngày mồng 10 tháng hai âm lịch, hàng chục ngàn người ở khắp
các miền quê tề
tựu về Dinh Cô (thị trấn Long Hải, Bà Rịa - Vũng Tàu) tham dự lễ hội. Đây
là một trong những lễ hội lớn nhất của ngư dân ven biển Nam Bộ.
5
Lễ hội diễn ra ở Dinh Cô, dưới mỏm núi Thùy Vân thuộc ấp Hải Sơn, thị trấn Long
Hải, huyện Long Đất, tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu. Người dân địa phương thường gọi đây là lễ
hội Dinh Cô.
Dinh Cô trước còn gọi là miếu thờ Bà Cô được xây dựng và trùng tu khoảng năm
1930. Diện tích khoảng 100m
2
. Bên trong thờ
tượng Bà Cô cao khoảng 0,5m mặc áo choàng
đỏ, đội mão gắn hột màu trắng. Bên cạnh Bà Cô, người ta còn thờ các vị thần thánh khác
như: Diêu Trì Phật Mẫu, Chúa Cậu hay Nhị vị công tử (cậu Tài, cậu Quý con Bà Chúa
Ngọc), Ngũ Hành nương nương, Tứ Pháp nương nương, Ông Địa, Thần Tài Ngoài ra, còn
các miếu nhỏ xung quanh thờ Cửu Thiên Huyền nữ, Chúa Ngọc nương nương, Chúa Tiên
nương nương, Quán Thế Âm bồ tát, Hỏa Tinh Thánh mẫu, Quan Thánh Đế quân Tất c
ả
về Dinh Cô để chuẩ
n bị cho lễ Nghinh Cô.
6
7 giờ sáng ngày 10 tháng 2 âm lịch, lễ Nghinh Bà Lớn (Thủy Long thần nữ) và Ông
Nam Hải (tức cá Voi) từ dinh Ông Nam Hải về Dinh Cô. Đoàn rước có Ban tế lễ, học trò lễ,
ban nhạc lễ, 12 bạn chèo (trang phục áo đỏ, nẹp vàng, nón lá vàng, tay cầm chèo), đội lân
với hai long đình (một ngôi Nghinh Bà lớn còn một ngôi Nghinh Ông) và cầm cờ ngũ hành.
Ngày đầu tiên cúng Tiền hiền, Hậu hiền và tụng niệm cầu quốc thái dân an được tổ chức
dưới sự
điều khiển của vị Chánh bái, có sự tham gia của các nhà sư Phật giáo đến tụng kinh
cầu an cầu mong làng xóm yên vui, mọi người khoẻ mạnh, nghề nghiệp thuận lợi, làm ăn
phát đạt…
- Ngày thứ hai (11 tháng 2 âm lịch) là phần hội thi chèo thúng và bơi lội. Buổi tối
cúng Tiên thường, các nhà sư Phật giáo chủ trì tụng kinh cầu an.
- Ngày thứ ba (ngày 12 tháng hai âm lịch) là Chính hội. Ngay từ buổi sáng ngư dân
đã tổ chức lễ Nghinh Cô (ngoài biể
n) về Dinh để nhập điện. Ghe Nghinh Cô được chuẩn bị
kỹ lưỡng, trang hoàng rực rỡ. Đoàn ghe Nghinh Cô gồm hàng trăm chiếc, trong đó có hai
ghe chính và 6 ghe hộ tống. Ở hai ghe chính có bày bài vị hương án và cúng phẩm. Phẩm
vật dâng Cô và thần thánh trong các lễ cúng gồm thịt heo sống để nguyên con, heo quay,
xôi, chè, các thứ đồ xào, hoa quả… Trên hai ghe chính có chủ tế, ban nhạc lễ, 12 lễ sinh và
12 bạn chèo.
Đúng 7 giờ đoàn ghe Nghinh Cô bắt đầu khơi hành, tiến th
ẳng ra khơi. Khi đoàn ghe
cách bờ hơn chừng 1km, chủ tế ra lệnh đoàn ghe dừng lại. Lúc ấy nghi lễ được bắt đầu. Chủ
tế niệm hương, ban nhạc lễ và lễ sinh xướng. Sau khi niệm hương xong, đoàn ghe tiếp tục
diễu hành một vòng lớn trên biển, đi qua miếu Bà Thủy Long rồi trở về bãi biển phía Tây,
cách Dinh Cô chừng trăm mét. Trên bờ hai "Bóng chàng" và 10 thanh niên cầm cờ ngũ hành
đứng thành hai hàng
Điền, tỉnh Phúc Kiến, Trung Quốc. Khi mới lọt lòng mẹ, bà đã t
ỏa ánh hào quang và hương
thơm. Lớn lên, Bà thường cưỡi thảm bay lượn trên biển và du ngoạn nhiều nơi. Năm 27 tuổi
Bà từ giã cõi trần và hiển linh. Đời Nguyên, Bà được phong là Thiên Phi, đến đời Thanh,
vua Khang Hy gia phong làm Thiên Hậu. Và danh hiệu Thiên Hậu tồn tại mãi cho đến nay.
Từ truyền thuyết dân gian đã chuyển hóa thành tín ngưỡng và Bà được những thế hệ
sau hương khói, phụng thờ ở nhiều nơi. Dân gian đều ca ngợi suy tôn Bà là một người phụ
nữ đức hạnh có lòng hiếu thảo xả thân cứu người đời và khi chết trở thành hiển linh, được
các triều đại phong kiến Trung Quốc phong tặng. Đề cao Bà Thiên Hậu, ngưỡng mộ và
phụng thờ Bà như một vị hiển thánh, bà con người Hoa muốn thông qua tấm gương của Bà
mà giáo dục cộng đồng của mình hãy học tập lòng hiếu thuận, đức nhân hậu của Bà, sống có
đạo nghĩa. Mặt khác, trên con đườ
ng vượt sóng gió biển khơi, đi về hướng nam tìm đất lập
nghiệp đầy gian truân, họ luôn cầu nguyện Bà giúp đỡ, phù hộ và sau khi đã định cư, ổn
định đời sống, sum họp đông vui, làm ăn phát đạt trên đất Việt Nam, quê hương thứ hai của
họ, họ cùng nhau lập đền thờ để tỏ lòng biết ơn sâu xa đối với Bà.
Lễ hội chùa Bà hàng năm được tổ chức trong ba ngày từ
13 đến 15 tháng giêng âm
lịch. Đêm 13/1 âm lịch, nhân dân ở thị xã Thủ Dầu Một bày bàn ra trước nhà để cúng tế
chuẩn bị cho lễ rước Bà ngày hôm sau. Dân chúng các vùng lân cận cũng đổ về đây khá
đông.
Sáng 14/1 lễ rước Bà được tổ chức theo nghi thức cổ truyền: kiệu Bà được rước đi
khắp các đường phố cùng với những đội múa hẩu, lân, sư tử, rồng, cờ xí ngợp trời.
Ngày 15/1 dân chúng l
ại kéo nhau về chùa Bà để thắp hương cúng lễ, cầu phúc, cầu
lộc cho năm mới.
Hàng năm, vào ngày rằm tháng Giêng (và ngày vía Bà 23/3 âm lịch) lễ hội diễn ra tại
chùa bà Thiên Hậu trở thành ngày hội long trọng của cư dân người Hoa, người Việt tại Nam
Bộ với nhiều nghi lễ cùng bái, cầu phước lộc, rước kiệu Bà… thu hút hàng trăm ngàn khách
hành hương. Các đoàn hẩu, lân sư rồng của 4 bang người Hoa đều tề tựu, u
mắn, người người khỏe mạnh, hạnh phúc, nhà nhà sung túc, nhóm hội đoàn kết, tương trợ.
Người chết thì được ơn siêu thoát, không còn vương vấn quấy phá xónm làng. C
ầu mưa
thuận gió hòa, quốc thái dân an, công việc thuận lợi, phát tài phát lộc…
Đi đầu là các đoàn lân sư rồng vừa đi vừa múa lẫn trong những người cầm cờ, trướng
dẫn đầu cuộc rước. Tiếp sau là dàn nhạc ngũ âm và bàn hương án và những người cầm bát
bửu. Đoàn rước từ Thiên Hậu cổ miếu lần lượt thỉnh các bài vị Bà Thiên Hậu ở miếu Cây
Quăn, bài vị
Tiên Cô nương nương ở miếu Nương Tơ, bài vị Thổ công ở miếu Thổ thần và
bài vị Thiên Hậu ở Thiên Hậu cung. Trên các con đường đoàn rước đi qua, các gia đình
người Hoa sắp sẵn một mâm hoặc cỗ đồ cúng hình tháp gồm giấy vàng bạc, nhang, đèn dầu,
bánh trái ở trước nhà để nghênh đón Tổ và các thần.
Khai quang điểm nhãn: Đạo sĩ chủ lễ tiến hành khai quang điểm nhãn t
ất cả các đồ
thờ và các vị trí trong miếu như: bàn thờ tam vị Tổ, Thiên Hậu, Quan Công, Phúc Đức
Chính thần, hương án Trương Thiên Sư, đèn lồng, cờ, trướng, hình nhân Phán Quan, cây
phướng (cây nêu) ngoài sân và Ông Tiêu. Sau khi điểm nhãn, các tượng hoặc hình nhân
trước đó phong kín mặt bắt đầu được mở ra.
* Ngày 11 tháng 6 âm lịch: Khai kinh cầu an
9
Rước các mâm cỗ cúng từ các gia đình về miếu để cúng cô hồn. Đúng 8 giờ, vị chủ tế
bắt đầu khai kinh cầu an. Lễ vật cúng gồm có trái cây, ba chung trà, ba chung rượu, nhang
và bông tươi. Sau ba tuần trà rượu, vái lạy, đốt giấy vàng bạc cho các thần. Lần lượt cúng
trước điện thờ ở rạp chay, Phán Quan, Ông Tiêu ngoài sân và cây nêu, các bàn thờ chính
trong miếu.
Lễ Ngọ môn đáp tướng: các đạo sĩ làm lễ nhập đàn, vái l
ạy, vẩy rượu tẩy uế, tụng
kinh múa dẻo bắt ấn trừ tà khí. Lễ Ngọ môn đáp tướng mang đậm sắc thái của Đạo giáo
theo triết lý âm dương ngũ hành nhằm cầu an cho cộng đồng. Sau mỗi tuần trà rượu, một
sự
miếu thỉnh Mễ Đẩu đi từ từ qua cầu vải vào trong chánh điện nơi bàn thờ Tổ. Mễ Đẩu là
một đấu gỗ đổ đầy gạo, bên trên cắm long đình chóp kiểu tứ trụ cao khoảng 70m, có bài vị
giấy, kiếm lệnh, một cây thước mộc treo chiếc gương nhỏ, một cây kéo, 5 tép chỉ ngũ sắc,
một cành dương liễu, một chiếc
đèn dầu nhỏ. Việc rước Mễ Đầu có ý nghĩa trăm họ cùng
đón Tổ về ban phước cho cộng đồng.
10
* Ngày 13 tháng 6 âm lịch: Kết lễ xô giàn làm chay
Hai giờ sáng, người ta sắp bàn hương án ngoài sân với hai đài cắm đèn cầy, một bình
bông, ba chung trà, ba chung rượu, một dĩa gạo, một dĩa muối, một dĩa tàu hũ ki, ba tháp
bàn tay Phật làm bằng rau cải, bánh bao chay và xôi nếp trắng. Đúng giờ, Pháp sư mặc áo
Bách gia Đạo bào màu vàng, đầu đội mão (giống trang phục đi phóng đăng phóng sanh)
tụng kinh cầu siêu, bắt ấn, rung chuông, tung giấy tiền vàng bạc… Giữa sân lễ
, người ta rải
kín giấy tiền vàng bạc với 3.600 bộ giấy áo, bên trên mặt đặt những chén đồ chay. Xô giàn,
Pháp sư phóng hỏa Ông Tiêu (Tiêu diện đại sĩ), Phán quan và các hình nhân. Lúc này,
người ta chen nhau giành giựt cho được lưỡi Ông Tiêu trước khi bị phóng hỏa. Ba tháp đồ
chay được quăng ra ngoài thí thực cho cô hồn. Người ta hạ cây nêu, đem 52 chiếc đèn lồng
ra đốt trong sự giành giật của đám đông, kết thúc nghi thức xô giàn.
Buổi sáng người ta bày một số l
ễ vật như: một con dê đực làm thịt để sống, một con
heo sống làm thịt, một con heo quay đỏ, gà luộc, trái cây, nhang đèn… trên các bàn thờ
trong miếu. Vị đạo trưởng làm lễ an vị các chư vị đưa trở về các miếu kết thúc lễ làm chay.
2.6. Lễ hội Nghinh Ông ở Cần Giờ (thành phố Hồ Chí Minh)
Đây là tín ngưỡng có nguồn gốc từ người Chăm được người Việt tiếp thu. Lễ h
ội
hàng năm diễn ra từ ngày 14 đến 17/8 âm lịch tại xã Cần Thạnh, huyện Cần Giờ, thành phố
Hồ Chí Minh. Lễ hội nghinh Ông là tục thờ cá ông phổ biến từ Quảng Bình trở vào Nam
Theo thông lệ, sau vài giờ tới giữa biển khơi, cả đoàn dừ
ng lại làm lễ cúng
Ông. Các nghi lễ như dâng hương, dâng rượu, dâng trà, đọc văn tế. Người ta ném
các lễ vật xuống biển để cúng người chết biển. Kết thúc cả đoàn quay về bờ. Không
khí nhộn nhịp bởi tiếng trống, chiêng, vang cả một vùng trời biển. Trên bến một đoàn
múa lân, sư tử, rồng đã đợi sẵn để đón Ông về Lăng đúng nghi thức cổ truy
ền đón - tế trang
trọng.
Trở về Lăng Ông, người ta tổ chức đại lễ rước Ông rất long trọng với đoàn
múa lân sư rồng trong tiếng trống nhạc vang lên rộn rã. Hàng ngàn người kéo theo
đoàn rước xen lẫn những bàn hương án tỏa nhang khói mù mịt của các gia đình đặt
trước nhà ở hai bên đường. Sau khi an vị Ông tại Lăng, buổi tối diễn ra lễ tế Tiền
Hiền, Hậu Hi
ền. Khoảng 12 giờ khuya, lễ Chánh tế được cử hành với nghi thức và
lễ vật tương tự lễ Kỳ yên ở đình Nam Bộ. Sau đó là hát Bội kèm theo liên hoan ăn
uống vui vẻ tại Lăng.
Trong suốt thời gian này, các lễ cầu an, xây chầu đại bội, hát Bội diễn ra đồng thời
với các hoạt động văn hóa văn nghệ, thể thao thu hút đông đảo bà con trogn vùng đến
thưởng thứ
c.
Lễ hội Nghinh Ông là một trong những lễ hội lớn của Ngư dân Cần Giờ nói riêng,
dân miền biển Trung Bộ và Nam Bộ nói chung thể hiện sự giao lưu tiếp biến văn hóa giữa
dân tộc Chăm và Việt trong hoạt động tín ngưỡng dân gian.
3. Giao lưu văn hóa qua lễ hội dân gian
3.1. Đặc trưng văn hóa các dân tộc qua lễ hội
* Đối tượng thờ tự:
Tín ngưỡng người Việt thờ Thành hoàng Bổn cảnh, Linh Sơn thánh Mẫu, anh
hùng dân tộc, cô Hồng… Người Hoa thờ: Quan Công, Thiên Hậu Thánh Mẫu, Kim
Hoa nương nương Người Khmer: thần Khneur, Niết Tà. Người Chăm: Ông cá Voi,
chúa Tiên, chúa Ngọc, Thiên Y A Na, bà Chúa Xứ…
lớn tuổi dự lễ hội thường mặc áo dài truy
ền thống, vai quàng khăn vuông cột chéo trước
ngực. Tóc chải ngược rồi búi gọn kiểu bánh lái sau gáy cài lên chiếc trâm vàng hay chiếc
lược đồi mồi.
- Trang phục người Hoa: Lễ phục các đạo sĩ Đạo giáo là những bộ áo choàng đỏ,
xanh có hình biểu tượng âm dương, đầu đội mão; khi đi phóng đăng phóng sanh hoặc xô
giàn thì mặc trang phục Bách gia Đạo bào đầu đội mão (trống trang phục Địa Tạng vương).
Các hòa thượng mặc áo vàng khoác tấm cà sa trên vai. Ban trị
sự miếu mặc lễ phục với áo
dài gấm màu xanh hoặc lam, đầu đội mũ có lưỡi trai. Trang phục của các thiếu nữ gánh hoa
trong lễ hội chùa Bà Bình Dương là bộ trang phục với áo và váy đặc trưng cho trang phục
nữ giới Hoa.
* Nghi lễ:
+ Mộc dục: tắm Bà lễ hội Bà Đen (Tây Ninh) với loại hoa lá: sen, lài, quế - văn hóa
Việt, cành dương liễu ảnh hưởng người Hoa.
+ Lễ hội đình thần Thắng Tam (Bà Rịa - Vũng Tàu): phần lễ diễn ra rất cầu kỳ: cúng
tế, lễ vật tế thần, dâng hương quỳ lạy, chiêng trống, kèn nhạc và có rất nhiều điều kiêng kỵ
như heo dùng để tế lễ phải có bộ lông cùng màu, người có tang không được tham gia vào
việc nghi thức tế lễ.
13
+ Lễ hội Chùa Bà (Bình Dương) với nghi lễ rước Bà được tổ chức theo nghi thức cổ
truyền: kiệu Bà được rước đi khắp các đường phố cùng với những đội múa hẩu, lân, sư tử,
rồng, cờ xí ngợp trời. Bà con kéo nhau về chùa Bà để thắp hương cúng lễ, cầu phúc, cầu lộc
cho năm mới.
+ Lễ hội Nghinh Ông (thành phố Hồ Chí Minh): đêm trước, ngư dân làm lễ thả
đèn
và thả thuyền hoa đăng trên biển, một lễ nghi quan trọng tưởng nhớ tiền nhân đã gắn bó với
biển cả. Ngày Chánh lễ, bắt đầu bằng lễ Nghinh (rước) Ông trên biển. Tại lăng Ông,
các vị chủ tế trong Hội Lăng làm lễ rước kiệu của Nam Hải Tướng quân xuống thuyền rồng
* Giao lưu văn hóa Việt
Ngôn ngữ Việt được sử dụng chính thức trong các lễ hội người Việt, người Hoa và
các dân tộc thiểu số. Đặc biệt trong nghi thức đấu giá đèn lồng của người Hoa (xướng
song ngữ).
14
Một số món ăn Việt như trái cây, bánh ú, bánh gói lá chuối, kiểm, mắm chay
và bánh ít… của người Việt được người Hoa sử dụng trong lễ hội miếu Tổ Nghề đá ở
Đồng Nai thể hiện sự giao lưu trong văn hóa ẩm thực giữa người Hoa và người Việt.
Cúng thịt heo sống là tục lệ người Việt nhưng được người Hoa và các dân tộc sử
dụng làm lễ vật cúng thần.
Cây tre biểu trưng cho văn hóa Việt được người Hoa sử dụng dựng làm cây nêu
trong lễ hội tổ nghề đá ở Đồng Nai và một số lễ hội khác của các dân tộc ở Nam Bộ.
Ngoài các hát Tuồng, hát Quảng, vào các đêm lễ hội người Hoa còn mời các đoàn
nghệ thuật người Việt ở địa phương về biểu diễn mừng lễ hội, thể hiện sự đoàn kết giao
lưu văn hóa trong cộng đồng.
* Giao lưu văn hóa Hoa:
Thờ Bà Thiên Hậu, Quan Công, Quan Thế Âm là những đối tượng thờ của người
Hoa được người Việt tiếp thu và trong tín ngưỡng dân gian.
Lễ vật cúng heo quay, vịt quay, bánh bò đặc trưng của người Hoa thường được
người Việt dùng làm lễ vật cúng thần.
Tục thả đèn giấy trên sông nước hay biển cả ảnh hưởng từ phong tục thả đèn trên
sông siêu độ cho âm hồn của người Hoa được người Việt tiếp thu trong lễ Nghinh Ông và
lễ Nghinh Cô.
Lễ hội người Việt ảnh hưởng tục đốt giấy vàng bạc nhiều, văn khấn văn cúng bằng
chữ Hán của người Hoa.
Món bánh hỏi thịt heo quay của người Hoa được người Việt sử dụng đãi khách
trong lễ cúng đình, cúng miếu.
Trong tục thỉnh đèn lồng của lễ hội người Hoa, nhiều người Việt cũng đến thỉnh
đèn đem về gia đình thờ, thể hiện sự giao lưu văn hóa trong tín ngưỡng dân gian.
với nam Tây Nguyên có địa hình bán sơn địa và vùng hạ lưu sông Đồng Nai, trong
đó đoạn từ Sài Gòn đổ ra biển có cảnh quan tương tự như đồng bằng sông Cửu
Long.
Các cư dân ở
tiểu vùng văn hóa Đông Nam Bộ bao gồm các cư dân bản địa
như Chơro, Mạ, Stiêng, Cơho và cộng đồng các cư dân Việt, Hoa, Chăm đến khai
phá lập nghiệp từ thế kỷ XVII đến nay tạo nên tiểu vùng văn hóa có những nét đặc
trưng của vùng miền Đông Nam Bộ là gạch nối giữa văn hóa miền Trung và miền
Nam.
Những yếu tố cơ bản của văn hóa mới tại đất Đông Nam Bộ từ phía Bắc đã tác động
trực tiếp tạo nên sắc thái văn hóa địa phương. Người Việt, Hoa, Chăm, Khơmer cùng các
dân tộc bản địa đã và đang chung tay góp sức tạo nên đặc trưng văn hóa của tiểu vùng văn
hóa Đông Nam Bộ ngày nay.
4.2. Bảo tồn và phát huy giá trị văn hóa trong lễ hội dân gian ở miền Đông Nam
Bộ
- Tính cộng đồng, thể hiện tình đoàn kết, giúp đỡ lẫn nhau trong lễ hội (lễ kỳ yên
mỗi nhà đều đem một bó tranh lợp lại đình, tha thứ bỏ lỗi cho nhau…)
- Bảo lưu trang phục truyền thống của các dân tộc. Chỉ vào mỗi dịp lễ hội, các dân
tộc mới mặc những bộ lễ phục tươm tất để dự lễ (đặc biệt người Việt, Hoa)
16
- Tưởng nhớ ơn, ghi công những người có công khai phá lập làng, những Tổ nghề
nghiệp, những người có công với dân tộc, đất nước.
- Bảo tồn tín ngưỡng dân gian, kết hợp với các tôn giáo khác luôn đuợc duy trì.
- Bảo tồn những nghệ thuật làm đồ thủ công truyền thống như nghệ thuật làm đồ
giấy, đèn lồng, trang trí, mỹ thuật…
- Bảo tồn và phát huy những nghệ thuật biểu diễn dân gian như: nhạc lễ; hát Chặp
Bóng rỗi, Địa nàng, hát Bội; múa lân sư rồng, hát Quảng…
- Bảo tồn những nghệ thuật ẩm thực dân gian của các dân tộc: các món lễ vật cúng,
vững vàng trong sự nghiệp phát triển kinh tế của đất nước và hội nhập với thế giới.
17
TÀI LIỆU THAM KHẢO
1. Huỳnh Quốc Thắng, Lễ hội dân gian ở Nam bộ, Viện Văn hóa và NxbVăn hóa Thông
tin, Hà Nội, 2003, 385 tr.
2. Hội Văn nghệ dân gian Việt Nam và Sở Văn hóa Thông tin Thể thao Đồng Nai, Giữ gìn
và phát huy tài sản văn hóa các dân tộc ở Đông Nam Bộ, Nxb Khoa học xã hội, Hà Nội,
1997, 331 tr.
3. Hội Văn nghệ dân gian Việt Nam và Trường Đại học Cần Thơ, Tìm hiểu đặc trưng di
sản văn hóa văn nghệ dân gian Nam Bộ, Nxb Khoa học xã hội, Hà Nội, 2004, 532 tr.
4. Nguyễn Thị Nguyệt, Lễ hội cầu an, cầu siêu của người Hoa ở Đồng Nai, Luận văn Cao
học chuyên ngành Văn hóa học, Bộ môn Văn hóa học, Đại học Khoa học xã hội và nhân
văn, Đại học Quốc gia thành phố Hồ Chí Minh, 2005, 215 tr.
18
STUDYING THE CULTURAL EXCHANGING THROUGH
TRADITIONAL FESTIVALS IN THE SOUTHERN EAST OF
VIETNAM
Nguyen Thi Nguyet
Dong Nai Museum
Set problem.
Southern East, including the provinces such as Ba Ria-Vung Tau, Dong Nai, Binh
Duong, Binh Phuoc, Tay Ninh and Ho Chi Minh. Residents in Southern East besides the
Vietnamese accounting for most, there are other local ethnic and immigration as: Choro,
Ma, Stieng, Coho, Hoa, Cham, Khomer, Tay, Nung, Muong Southern East have a
location convenient for agricultural development as well as industrial development,
economic services and urban expanding. The local leading of the national industrial
the cultural values of ethnic differences. In these conditions the specific history, the cultural
exposure may directly or indirectly, long-term or short, natural or forced are factors in the
process of exchange, for exposure to the culture to be the featured new culture, suitable for
both cultures it.
2. The festival had been typical in Southern East.
Folk festival is a system of the festival is organized popularly in the
community, to serve the needs of the human spirit that wish a lucky and fortunate life.
2.1. Festival Ba Den mountain-Linh Son Thanh Mau (Tay Ninh).
Ba Den mountain is 11km from Tay Ninh, with an area of 24km
2
. It includes three
ridges: Heo mountain, Phung mountain and Ba mountain created. Ba Den mountain with its
hight 986m is the highest mountain in the South of Vietnam. From a long distance, covering
with so white clouds, it seems to have a thin silk. On the mountain, there are many caves,
green plants, water flows under block created landscape of mountains and water.
Scattered across from the foot of the mountain over top of the architectural including,
pagodas, shrines, towers almost all reflect the characteristics of the culture of Buddhism
and folk beliefs. On Ba Den mountain there is the shrine of Linh Son Thanh Mau with the
bronze statue of Ba Den inside. In addition to the Buddha, there is a system of worship
statues popular beliefs such as: Quan Cong, Tu Vi Son than, Ngoc Hoang, Nam Tao, Bac
Dau, Mr. Dia, Mr. Ta, Tu Vi Thien Vuong. Special, system worship Mau-the Goddess
numerous as : Cuu Thien Huyen Nu, Dieu Tri Kim Mau, Thien Hau Thanh Mau, Dia Mau,
Princess Xu and Tai’son, Quy’son, Mss. Hong, Mss. Hanh and statue Quan The Am
Bodhisattva But the center is still the Linh Son Thanh Mau statue with main worshipping
place-at the Ba Den Shrine height 400m of this mountain.
Talking about the mountains Ba Den, we think of the Linh Son An Phuoc pagoda
(Hang pagoda), Linh Son Tien Thach pagoda, Doc Thuong, Huyen Mon cave, Thanh Long
cave, Ma Ha cave, Gio cave, Ong Ho cave… Many legends of Ba Den, such as a folk story
Ly Thi Thien Huong. The story was about a couple of lovers in Quang Hoa region (now the
Trang Bang district). They were engaged. The boy was Le Si Triet and the girl was Ly Thi
th
May (lunar calendar). At
the midnight, the Ritual of cleaning Statue takes place inside the shrine with a curtain cover
around. Some of elder women do their rituals such as: burn incense to ask Ba’s permission,
clean the Statue Ba with coconut milk, flowers water; change new dress… After this ritual,
whole the shrine will be lighted with candles, incense, to welcome guests. Worshipping
materials offer to Ba includes incense, candles, tea, fruits, wine, cakes
Early morning on 6
th
May lunar calendar, the organizers do the Ritual with ten
materials: incenese, candles, flowers, tea, cinnamon, wine, cake, strings, bracelets (paper
jewelry). The ceremony will be taken place by Buddhist Monks and Ceremony Board in the
sound of music, drum and gongs In the evening, the actors and actress display Bong Roi
(dance with Gold Tray, Silver Tray, Toy Tray ); singing Chap Dia Nang.
On 6
th
May (lunar calendar) they do Buddhist Ritual. Monks pray the repenting
prayer, worship Ngo, giving alms… Even they hold the Boi stage on 7
th
and 8
th
May (lunar
calendar).
It can be said, the ritual of Spirit Ba include two great ceremonies on 15
th
January
and 6
th
May (lunar calendar). The festival associated with mountain climbing, sightseeing
pagoda creating activities and cultural tourism. The Ritual part and the festival part of this
music… They abstain from offering previous color pigs; letting no people bearing funeral
rites enjoy the ritual. In addition, part games had many shows to entertainment as dancing
with the unicorns, sing classical opera
The festival in Thang Tam temple is a cultural activity of the fishermen in
Vung Tau seaside. It has contributed to preserve and thrive the spiritual activities of the
Southeast in modern life.
2.3. The festival Nghinh Co (Ba Ria-Vung Tau).
The festival Nghinh Co is in the system of festivals worshiping Mau - the
Goddess typical of fishermen in Ba Ria - Vung Tau. They have not only worshiped the
Goddess but the Sea Saints (Thuy Long, Whale of the Cham) and beliefs worship Mau - the
goddess of local residents.
Every year, on 10
th
February (lunar calendar), thousands of people from every where
around the countryside together at Dinh Co (Long Hai, Ba Ria - Vung Tau) to enjoy the
festival. This is one of the greatest festivals of fishermen along the South coastline.
This festival takes place at the foot of Thuy Van mountain (Hai Son hamlet, Long
Hai town, Long Dat district, Ba Ria-Vung Tau province). Native people call it Dinh Co
festival.
22
Dinh Co (Ba Co temple) was built and restored about in 1930. Area of 100m
2
. Inside
there is the Ba Co statue (0,5m high) with a red coat, an attached bead hat. Next to this
statue, they worship other Saints such as: Dieu Tri Phat Mau, God Uncle or Nhi Vi Princes
(Tai son, Quy son are Princess Ngoc’son), Ngu Hanh nuong nuong, Tu Phap nuong nuong,
Mr. Dia, Than Tai Besides, the small temple around worship the Cuu Thien Huyen Nu,
Princess Ngoc, Quan The Am Bodhisattva, Hoa Tinh Thanh Mau, Quan Thanh De Quan
All of these worshiping objects come from different sources that are the representatives of
February lunar calendar, the residents solemnly welcome Ba Lon
(Thuy Long Goddess) and Mr. Nam Hai (Whale Saint) from Dinh Ong Nam Hai to Dinh
Co. The Welcoming Board includes: Ritual Board, Ritual students, Ritual Music Board, 12
oaring men, unicorn dancing team… On the first day, they worship the ancestors and pray
of peace, thriving.
- On the second day (11
th
February lunar calendar) they compete to oar, swim… At
night, Buddhist monks pray to peace.
23
- On the third day (12
th
February lunar calendar) is the main ceremony. In the early
morning, they welcome Co from the sea to the shrine on a glorious boat. The Welcome
teams include hundreds of boats. Ritual food includes a raw pig, sticky rice, sweat soup,
fruit… On the two main boats there is a Master ceremony, Ritual Music Board, 12 Ritual
students and 12 oaring men.
At 7 A.M, the Welcome Co boats start. When they sail up about one kilometer,
Master of Ceremony orders to stop and begins the ceremony. Master of Ceremony burns
incense, the Ritual Music Board and Ritual Students call out. After burning incense, the
boats team continues to sail a large round on the sea, from Ba Thuy Long region returned to
the West that was distance Dinh Co about 100 meters. On the beach, 2 “Bong chang” and
10 boys hold Positive- Negative flags to welcome an incense altar Co at Dinh Co.
From 8 A.M to 10 A.M, the residents offer to Ba Thuy Long a fried pig, to Mr. Nam
Hai a raw pig, to Ba Co vegetarian food. After then, the releasing ritual takes place. In the
evening, there are some Tuong, Boi Art Bands and traditional Art Band. They display the
dancing with five color trays, golden trays… In addition, there are some shows of unicorn-
lion dancing and folk games as: fishing, rowing. The festival part always becomes attractive
and interesting so they are interested in by many young people.
rd
March lunar calendar (her Spirit Day) it is the
solemn festival occassion to Chinese and Vietnamese in the South of Vietnam.
24
The main part of this festival is the Welcome Her sedan-chair. All of this region will
be brighter more bustling than any time in year.
2.5. The Spirit Day of Career Saints (Dong Nai).
One of three years, Chinese in Buu Long, Bien Hoa, Dong Nai hold this festival
(from 10
th
to 13
th
June lunuar calendar) to remember The Saint of Stone Carving work. They
offer to Him vegetarian food. This festival has been held at Thien Hau ancient Temple
(formely it was the temple of Stone Carving Saint) of Chinese (He branch). In the major
altar, they worship: Ngu Dang Tien Su- Stone carving Saint; Lo Ban Tien Su –Carpenter
Saint; Uat Tri Tien Su- Black Smith Saint. On the left and on the right of major altar, they
worship Thien Hau Thanh Mau and Quan Thanh De Quan.
Preparing for the vegetarian offering ritual, the controlling Board have invited some
Taoists (in Ho Chi Minh city) to direct the ritual during the 3, 4 days and nights.
* On 10
th
June (lunar calendar): Opening vegetarian ritual.
The first is the ritual of invitation Saints, the ritual of taking Ancestral Tablet of
Career Saints, Thien Hau Thanh Mau and Quan Thanh De Quan.
- Leading delegation is a an unicorn-lion dancing band. Behind it is an octet band and
an altar. On the way to the temple, we can see the offering trays or towers which Chinese
prepare to welcome the Saints.
- “Khai quang diem nhan”: After the Master Taoist has finished Khai quang diem