Tạp chí khoa học & Công nghệ - Bộ Nông nghiệp & PTNT. Số 5; từ trang 4-9; tháng 6 năm 2008
1
Phân tích xu hướng và chiến lược sử dụng nguồn lực trong nông nghiệp
Đồng bằng sông Hồng từ 2007-2020
PGS.TS. Nguyễn Văn Song, Đỗ Thị Diệp, Trần Tấn Nhật, Nguyễn Thu Hằng, Đỗ Xuân Thấm
Đại học Nông nghiệp I – Hà Nội
SUMMARY
By using dynamic modeling, this study estimated the long run trends of population, agricultural
land and agricultural labor force of Red River Delta from 2007 - 2020. The results of the basic project
found out that population and ceultivated lands has been reaching 20.498.520 persons and 540.183ha,
respectively. In 2020, even if the increasing population and decreasing cultivated land, the average rice
production per person are still arounf 303kg per/person in the year of 2020 ensuring food security.
Expansion of husbandry, stabilizing population and improvement of humman resource's quality are
main sustainable development strategies for Red River Delta.
Key word: Dynamic modeling, population, cultivated land, agricultural labor force and rice production.
1. Đặt vấn đề
Đồng bằng Sông Hồng là dải đất nằm ở
hai bên tả, hữu ngạn Sông Hồng. Cái tên ĐBSH
không chỉ là địa danh của một vùng kinh tế lâu
đời, trù phú mà còn là tên riêng của một khu
vực dân cư đông đúc và quần tụ trong một môi
trường xã hội làng xã rất đặc trưng, một nền văn
hoá giàu bản sắc và độc đáo trong nước Việt
Nam thống nhất. Với tổng diện tích tự nhiên
1486,2 nghìn ha [2], trong đó 70% là đất phù sa
nông nghiệp được đặt ra cho nghiên cứu này.
Mục tiêu cơ bản của nghiên cứu là tìm ra
xu hướng biến động của các nguồn lực cơ bản
trong nông nghiệp, sản lượng lúa cho khu vực
đồng bằng sông Hồng từ nay tới năm 2020.
2. Phương pháp nghiên cứu
Nghiên cứu sử dụng mô hình phân tích
hệ thống động (dynamic modelling) của
BruceHanon & Matthias để xem xét sự thay đổi
của sự vật hiện tượng kinh tế-xã hội trong một
Tạp chí khoa học & Công nghệ - Bộ Nông nghiệp & PTNT. Số 5; từ trang 4-9; tháng 6 năm 2008
2
khoảng thời gian dài . Mô hình được áp dụng
rộng rãi trong nhiều lĩnh vực như: vi mô, vĩ mô,
sinh học, hoá học và quản lí môi trường.
William Grant &cs (1997) đã sử dụng mô hình
này để quản lí và sử dụng một số tài nguyên
thiên nhiên như: đất, nước, rừng và thuỷ sản.
Lar Hei (2005) đã sử dụng mô hình này để tính
toán lượng chất thải trong các nguồn nước của
con sông. Căn cứ vào đó các chính sách quản lí
ô nhiễm được ban hành nhằm tối thiểu hoá các
chi phí xã hội.
Nguồn số liệu thứ cấp sử dụng trong
nghiên cứu được thu thập từ các sở Nông
nghiệp và phát triển nông thôn, chi cục thống kê
của 11 tỉnh trong toàn vùng, sở kế hoạch và đầu
tư, sở khoa học công nghệ của các tỉnh trong
vùng. Số liệu sơ cấp được thu thập thông qua
chúng tôi sử dụng giá trị thực tế của các yếu tố
thu thập được từ các nguồn tài liệu thứ cấp của
các tỉnh trong vùng và số liệu sơ cấp thông qua
việc điều tra hộ nông dân trong vùng.
3.1.1 Xu hướng biến động của dân số-lao động
nông nghiệp
Kết quả mô hình cho thấy, dân số của
ĐBSH trong những năm tiếp theo tiếp tục tăng
lên. Năm 2010 dân số của vùng ĐBSH là
18.834.907 người, năm 2015 là 19.649.114
người và đạt mức 20.498.520 người vào năm
2020. Kết quả mô hình cũng cho thấy, lao động
nông nghiệp và lao động sản xuất lúa vẫn tiếp
tục tăng lên. Từ năm 2007 đến năm 2009 (giai
đoạn 1), tốc độ tăng lao động cho sản xuất lúa
nhanh hơn tốc độ tăng dân số và lao động nông
nghiệp. Từ năm 2009 đến năm 2020 (giai đoạn
2), tốc độ này có xu hướng tăng chậm hơn so
với tốc độ tăng dân số. Ta thấy rằng giai đoạn 2
kéo dài hơn là do ĐBSH đang trong giai đoạn
đầu của quá trình CNH nên tỉ lệ lao động nông
nghiệp chuyển sang các lĩnh vực phi nông
nghiệp còn chậm. Vì khu vực công nghiệp có
nhiều khả năng lựa chọn và ứng dụng tiến bộ kĩ
thuật công nghệ nên có thể tiếp nhận lao động
dư thừa từ nông nghiệp. Nhưng một trong
những điều kiện đủ ở đây là công nghiệp chỉ thu
hút được lao động dư thừa ở nông nghiệp khi
thu nhập từ khu vực công nghiệp (Tcn) lớn hơn
hoặc ít ra cũng bằng thu nhập ở nông thôn
hình, tức với tốc độ CNH Là 5000 ha như hiện
nay, thì đến năm 2020 diện tích đất canh tác lúa
giảm xuống còn 540.183ha, bình quân mỗi năm
giảm hơn 6 nghìn ha.
Từ thực tế và những phân tích ở trên
chúng tôi thấy, một trong những kế hoạch đề ra
cho vấn đề sử dụng đất canh tác là tiếp tục chuyển
đất canh tác lúa sang các mục đích sử dụng khác
như: xây dựng khu công nghiệp, đô thị, đường
giao thông, thuỷ lợi hoặc chuyển những vùng đất
trũng, trồng lúa kém hiệu quả sang nuôi trồng
thuỷ sản sao cho có hiệu quả. Tuy nhiên sự giảm
sút với tốc độ nào, đến diện tích bao nhiêu thì
thích hợp đối với các mục tiêu của tỉnh sẽ được
chúng tôi phân tích ở các phần sau.
3.1.3 Xu hướng biến động sản lượng lúa và cân
bằng lúa gạo
Sản lượng lúa của đồng bằng Sông Hồng
có chiều hướng giảm qua các năm. Như đã phân
tích ở phần trước, sản lượng lúa chịu ảnh hưởng
của năng suất, tổng diện tích và cơ cấu diện tích
gieo trồng. Mặc dù năng suất lúa trên toàn vùng
có tăng từ 60,7 tạ/ha năm 2007 lên 65,2 tạ/ha
vào năm 2020, nhưng do diện tích đất canh tác
lúa giảm nhanh hơn nên sản lượng lúa gạo vẫn
có xu hướng giảm: Năm 2007 sản lượng lúa của
đồng bằng Sông Hồng là 6,764 triệu tấn, đến
năm 2020 giảm xuống còn 6,213 triệu tấn. Trên
thực tế, điều này hoàn toàn phù hợp với xu
hướng phát triển của ngành sản xuất lương thực,
cấu thu nhập, song hệ số sử dụng đất lúa của
vùng chỉ ở mức 1,8 lần. Có thể nói, đây là hệ số
sử dụng đất tương đối thấp, đặc biệt trong điều
Tạp chí khoa học & Công nghệ - Bộ Nông nghiệp & PTNT. Số 5; từ trang 4-9; tháng 6 năm 2008
4
kiện công nghiệp hoá, hiện đại hoá làm diện tích
đất trồng lúa giảm dần thì hệ số quay vòng đất
cần phải tăng cao. Vì vậy trong phương án này
hcúng tôi giả định hệ số sử dụng đất lúa của
ĐBSH tăng từ 1,8 lên 1,9 lần (theo phuơng
hướng phát triển vùng). Kết quả mô hình khi có
sự thay đổi gọi là phương án 1.
Bảng 1: So sánh phương án gốc và phương án 1
ĐVT: Nghìn tấn
2007 2010 2020
Chỉ tiêu
PAG PA1 SS (+,-) PAG PA1 SS (+,-) PAG PA1 SS (+,-)
- DTGT (Ng.ha) 1114,23 1187,5 +73,27 1081,8 1141,9 +60.1 972,33 1026,35 54,02
- Sản lượng lúa 6764,434 6997,42 +233 6673,762 6934,183 +260,42 6212,208 6627,098 +414,9
- Phân phối
+ Nhu cầu cho người 4957,925 5000,06 0 5085,404 5085,424 0 5534,6 5534,6 0
+ Nhu cầu cho chăn nuôi 593,016 651,383 +58,37 629,232 690,549 +61,32 415,795 543,412 +127,17
+ Xuất khẩu 593,016 651,383 +58,37 629,232 690,549 +61,32 415,795 543,412 +127,17
Phương án gốc: Hệ số sử dụng đất lúa: 1,8 lần
Phương án 1: Hệ số sử dụng đất lúa: 1,9 lần Bảng 1 minh chứng sự biến động của sản lượng
5500 ha/năm. Kết quả mô hình khi có sự thay
đổi gọi là phương án 2.
Bảng 2: So sánh kết quả của phương án gốc và phương án 2
2007 2010 2020
Chỉ tiêu ĐVT
PAG PA2 SS (+,-) PAG PA2 SS (+,-) PAG PA2 SS (+,-)
- Sản lượng lúa Ng.tấn 6764,434
6486,066
-278,37
6673,762
6379,69
-294,072
6212,208
6021,8
-190,397
- Đất lúa Ng.ha 619,018
618,169
-0,849
-SL lúa/người Kg 368,38
353,22
-15,16
354,33
338,71
-15,62
303,056
293,768
-9,288
-Đất lúa/người Ha 0,0337
0,0336
0,0001
0,0319
0,0317
0,0002
(-11893 ha). Trong điều kiện năng suất lúa không
đổi, hệ số sử dụng đất không tăng thêm được nữa
thì sự giảm sút diện tích này dẫn tới sản lượng bị
giảm đi đáng kể.
Bình quân thóc/ người năm 2007 giảm
so với phương án gốc là 15,16 kg; năm 2010
giảm 15,62 kg, năm 2020 giảm 9,2 kg. Con số
này so với tiềm năng của vùng tuy không cao
nhưng vẫn có thể chấp nhận được khi mà chúng
ta chấp nhận đánh đổi để có một cơ cấu kinh tế
phù hợp với xu hướng chung của cả nước.
3.2.3 Biến động sản lượng lúa khi năng suất lúa
tăng
Năng suất ảnh hưởng trực tiếp đến sản
lượng lúa sản xuất ra. Có rất nhiều các yếu tố
khác nhau tác động đến năng suất lúa của vùng
như giống, phân bón, đất đai, lao động… Theo
điều tra của chúng tôi, phân bón và lao động là
2 yếu tố có tác động lớn tới năng suất lúa của
vùng. Do đó trong phần này chúng tôi giả định
lượng phân bón tăng từ 170 kg/ha lên 180 kg/ha
và lao động cho sản xuất lúa tăng từ 60% lên
65%. Vì năng suất lúa tuân theo quy luật năng
suất biên giảm dần nên cần chú ý tăng đầu tư
lao động cho sản xuất lúa ở một mức độ nhất
định để thu được năng suất cao nhất (VMPL=W
tức giá trị sản phẩm biên của lao động bằng với
tiền lương). Cũng như vậy khi bón phân đạm
phải chú ý kết hợp với lân, kali và các loại phân
khác theo một tỉ lệ thích hợp để đạt hiệu quả
6212,208
6662,22
+450
- Cân bằng lúa gạo Ng.tấn 7412,704
7754,56
+341085
7865,404
8882,25
+1016,8
5562,562
7192,57
1630
-BQ thóc/người Kg 368,38
386,91
+18,53
nữa. Vì thế, tìm tòi thử nghiệm các giống lúa
mới năng suất cao song song với việc áp dụng
các phương thức canh tác hiện đại sẽ giúp tỉnh
duy trì sản lượng lúa cần thiết khi diện tích canh
tác lúa ngày một giảm.
Tạp chí khoa học & Công nghệ - Bộ Nông nghiệp & PTNT. Số 5; từ trang 4-9; tháng 6 năm 2008
6
3.2.4 Biến động về phân phối sản lượng khi nhu
cầu lương thực bình quân đầu người giảm.
Cùng với quá trình phát triển kinh tế-xã
hội, mức sống của người dân ngày một nâng cao
và theo quy luật kinh tế của Engel thì nhu cầu
lương thực sẽ giảm xuống, thay thế vào đó là
nhu cầu về các thực phẩm cao cấp như: rau, thịt,
trứng, sữa Theo xu hướng đó, chúng tôi giả
định lượng thóc tiêu dùng bình quân/người/năm
giảm từ 270 kg xuống mức 240 kg. Kết quả mô
hình gọi là phơng án 4.
Bảng 4: So sánh kết quả phương án gốc và phương án 4
ĐVT: Nghìn tấn
2007 2010 2020
Chỉ tiêu
PAG PA4 SS (+,-) PAG PA4 SS (+,-) PAG PA4 SS (+,-)
1,SL lúa
6764,434 6764,434 0 6673,762 6673,762 0 6212,208 6212,208 0
2,Nhu cầu cho người
4957,925 4407,04 -550,88 5085,404 4520,37 -565,034 5534,6 4919,64 -614,96
3,Cho chăn nuôi
593,016 636,715 +43,699 629,232 762,193 +132,96 415,795 681,324 +265,529
1,05% xuống còn 0,9% (theo phương hướng
phát triển dân số của vùng). Kết quả mô hình
khi có sự thay đổi gọi là phương án 5.
Bảng 5: So sánh kết quả phương án gốc với phương án 5
2007 2010 2020
Chỉ tiêu ĐVT
PAG PA5 SS (+,-) PAG PA5 SS (+,-)
PAG PA5 SS(+,-)
1.CBLT Ng.tấn 7412,704
7412,704
0
7865,40
7865,404
0
5562,562
5562,56
0
2.Đất lúa Ha 619018
20215,8
-282,73
4.Đất ở Ha 1349,66
1348,32
-1,34
1384,37
1378,88
-5,49
1506,64
1485,865.N.cầu cho
người
Ng.Tấn 4957,925
4953
-4,925
5085,404
phát triển theo hướng CNH-HĐH và chuyển
dịch cơ cấu kinh tế ngành. Điều này không
những giảm bớt gánh nặng, sức ép cho nền
kinh tế- xã hội mà còn làm tăng GDP bình
quân đầu người, cải thiện chất lượng cuộc
sống.
3.2.6 Biến động sản lượng lúa, diện tích đất
canh tác lúa khi có sự thay đổi đồng thời của
các yếu tố
Ở các phần trên chúng ta đã xem xét sự
thay đổi riêng rẽ của các yếu tố dẫn đến sự thay
đổi trong cân bằng lương thực, đất canh tác lúa,
dân số. Trong phương án này, chúng tôi sẽ xem
xét sự thay đổi đồng thời của các yếu tố nói trên
tác động như thế nào đến cân bằng tổng thể của
mô hình. Phương án này được gọi là phương án 6.
Bảng 6: So sánh kết quả phương án gốc và phương án 6
2007 2010 2020
Chỉ tiêu ĐVT
PAG PA6 SS (+,-)
PAG PA6 SS (+,-)
PAG PA6 SS (+,-)
1.Sản lượng lúa Ng.tấn
6764,434
7151,15
521290,15
-18893
3.Dân số Ng.người
18362,66
18362,66
0
18834,9
18834,9
0
20498,52
20498,52
0
-BQ thóc/người Kg
368,38
389,43
+21,05
-0,023
Phương án gốc: Tốc độ CNH: 5000 ha; tỉ lệ lao động nồng nghiệp: 61%; LĐ SX lúa: 60%; phân bón: 170 kg; HSSDĐ:1,8 lần
Phương án 6: Tốc độ CNH:5500 ha; tỉ lệ lao động nồng nghiệp: 55%; LĐ SX lúa: 65%%; phân bón: 180 kg; HSSDĐ: 1,9 lần
Do tốc độ CNH tăng lên 5.500 ha nên
diện tích đất canh tác lúa giảm đi một lượng so
với phương án gốc là: 1349 ha năm 2007, giảm
5.398 ha năm 2010 và 18893 ha năm 2020. Mặc
dù diện tích đất canh tác lúa giảm đi do quá
trình công nghiệp hoá, đô thị hoá và chuyển
dịch cơ cấu kinh tế nhưng do tăng hệ số sử dụng
đất lúa từ 1,8 lên 1,9 lần; tăng lượng phân đạm
(180kg/ha), lao động đầu tư cho sản xuất lúa
tăng nên sản lượng lúa nhìn chung vẫn tăng so
với phương án gốc: năm 2007 tăng 386,72
nghìn tấn; năm 2010 tăng 347,44 nghìn tấn; năm
2020 tăng 336,67 nghìn tấn. Ta thấy rằng tốc độ
tăng của sản lượng lúa có xu hướng giảm dần là
do mức độ giảm sản lượng lúa do tăng tốc độ
công nghiệp hoá, đô thị hoá nhanh hơn mức
tăng năng suất lúa do các biện pháp đầu tư thâm
canh. Với sự ổn định về dân số, sản lượng lúa
tăng lên làm cho bình quân thóc/đầu người tăng
lên mức 319,48kg năm 2020. Mức bình quân
này tuy không cao nhưng có thể chấp nhận
được. Đặc biệt khi xã hội phát triển, đời sống
con người được nâng lên, nhu cầu lương thực
bình quân/đầu người giảm đi thì phân phối cho
chăn nuôi, xuất khẩu và các mục đích khác tăng
lên. Điều này hết sức có ý nghĩa trong quá trình
quả. Ngoài ra trong phương án này, số lượng lao
động nông nghiệp của vùng giảm từ 61% xuống
55% hoàn toàn phù hợp với xu hướng phát triển
hiện nay khi mà tốc độ CNH tăng từ 5000 ha lên
5500 ha/năm
Ba là: Mức tiêu dùng hiện tại của người
dân vùng ĐBSH trung bình là 270 kg thóc và
300 kg lương thực quy thóc/người/năm. Với
mức bình quân đó, hàng năm toàn vùng dành ra
khoảng 70% sản lượng thóc sản xuất ra để ăn,
8% cho chăn nuôi, 8% con số đó dành cho xuất
khẩu.
Trong phương án 4, với mức giả định
nhu cầu thóc của người dân ở mức 240
kg/người/năm chúng tôi thấy rằng lượng thóc
dành cho chăn nuôi và xuất khẩu tăng lên đáng
kể. Do yêu cầu thực tế về lao động và việc làm
của vùng hiện nay thì trong những năm tới
vùng cần có chiến lược đẩy mạnh phát triển
chăn nuôi đặc biệt là chăn nuôi lợn, gia cầm để
tận dụng sản lượng thóc dư thừa.
Bốn là: Giữa dân số - lao động có mối
quan hệ chặt chẽ không thể tách rời. Với tỉ lệ
gia tăng dân số dao động từ 0,95 – 1,1% giai
đoạn 2001-2005, bình quân hàng năm vùng
ĐBSH phải giải quyết việc làm cho khoảng
200.000 lao động. Với khu vực diện tích nhỏ,
đất đai màu mỡ, dân cư đông đúc như ĐBSH thì
đây là một sức ép rất lớn. Vì thế chiến lược dân
số của vùng trong thời gian tới là phải ổn định