Lời mở đầu
Trong nền kinh tế thị trờng nớc ta hiện nay, một doanh nghiệp muốn hoạt
đông hiệu quả và trở thành ngời chiến thắng trên thơng trờng thì doanh nghiệp
đó phải biết rõ mình là ai? hoạt động nh thế nào? hiệu quả kinh tế và tình hình
tài chính ra sao? Để làm đợc điều đó thì họ phải có trong tay những công cụ
quản lý hữu hiệu. Một trong những công cụ đó là các thông tin trên báo cáo tài
chính. Sau mỗi chu kỳ hoạt động sản xuất kinh doanh, các doanh nghiêp phải
lập báo cáo tài chính nhằm tổng hợp đánh giá một cách khái quát tình hình tài
sản, công nợ, nguồn vốn và tình hình tài chính. Trên cơ sở những số liệu phản
ánh trên báo cáo tài chính, doanh nghiệp sẽ đánh giá đợc thực trạng tình hình tài
chính của mình đồng thời phân tích những nhân tố ảnh hởng tới quá trình hoạt
động sản xuất kinh doanh và tìm ra những giải pháp thích hợp để khắc phục cho
những kỳ kinh doanh tiếp theo. Báo cáo tài chính không chỉ có ý nghĩa quan
trọng đối với doanh nghiệp mà nó còn là đối tợng quan tâm của các nhà đầu t,
các nhà cho vay, các nhà cung cấp, ngân hàng, ngời lao động... Mỗi đối tợng
quan tâm đến báo cáo tài chính của doanh nghiệp dới một góc độ khác nhau.
Song tất cả đều có một mục đích chung là nắm đợc thực trạng của hoạt động
sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp để da ra quyết định cuối cùng của mình.
Tuy nhiên, các thông tin trên báo cáo tài chính chỉ thực sự có ý nghĩa khi
nó phản ánh chính xác tình hình tài chính của doanh nghiệp. Vì vậy, việc kiểm
tra báo cáo tài chính là công việc cần thiết đầu tiên để đảm bảo cơ sở pháp lý
cho việc xét duyệt báo cáo quyết toán, đồng thời tạo niềm tin cho ngời sử dụng
báo cáo tài chính. Về thực chất, kiểm tra báo cáo tài chính bao gồm những ph-
ơng pháp phân tích, khảo sát, so sánh đối chiếu một cách có hệ thống các thông
tin, dữ liệu qua các tài liệu, báo cáo và sổ sách kế toán nhằm phát hiện và sửa
chữa những sai lầm, bảo đảm tính chính xác của số liệu.
Có thể nói, so với hệ thống báo cáo tài chính áp dụng trong các doanh
nghiêp trớc đây, hệ thống báo cáo tài chính hiện hành là một bớc đột phá căn
bản. Hệ thống biểu mẫu đã đợc xây dựng trên cơ sở các nguyên tắc và chuẩn
mực kế toán quốc tế. Số lợng báo cáo kế toán giảm đáng kể, việc lâp và xét
duyệt đơn giản ít tốn kém về thời gian. tuy nhiên hệ thống báo cáo tài chính
toán. Nói cách khác, báo cáo tài chính là những phơng tiện trình bày việc tiếp
nhận và sử dụng kinh phí cũng nh khả năng sinh lời và thực trạng tài chính của
đơn vị cho những ngời quan tâm.
Bên cạnh đó, báo cáo tài chính còn cung cấp các thông tin kinh tế tài
chính cần thiết cho việc kiểm tra, kiểm soát các khoản chi theo từng nguồn kinh
phí, cung cấp thông tin cho việc quản lí tài sản của nhà nớc, tổng hợp, phân
tích, đánh giá các hoạt động của mỗi đơn vị nói riêng và toàn xã hội nói chung.
Từ đó, chính phủ có cơ sở để khai thác các nguồn thu, điều chỉnh các khoản chi
một cách hợp lý đồng thời định ra đờng lối phát triển xã hội lành mạnh và đúng
đắn. Đối với các đơn vị cơ sở, báo cáo tài chính là nguồn thông tin đáng tin cậy,
là cơ sở cho việc lập kế hoạch kinh phí cho mỗi kỳ hoạt đông một cách hợp lý.
Ngoài ra nó còn giúp cho các đơn vị phân tích đợc xu hớng phát triển, từ đó
định ra chiến lợc phát triển và biện pháp quản lý tài chính ở đơn vị.
Tuy nhiên, chúng ta hãy cùng xem xét báo cáo tài chính dới giác độ là
đối tợng nghiên cứu của kế toán tài chính.
I. Khái quát chung về hệ thống báo cáo tài chính.
1.Khái niệm, nội dung, bản chất của báo cáo tài chính
2
Báo cáo kế toán là kết quả của công tác kế toán trong một kỳ kế toán. Nó
cung cấp thông tin một cách toàn diện về tình hình tài sản, nguồn vốn cũng nh
kết quả hoạt động của doanh nghiệp trong kỳ kế toán đó. Báo cáo kế toán là
nguồn thông tin quan trọng không chỉ cho doanh nghiệp mà còn cho nhiều đối
tợng khác ở bên ngoài có quyền lợi trực tiếp hoặc gián tiếp đối với hoạt động
của doanh nghiệp trong đó có các cơ quan chức năng của nhà nớc. Báo cáo kế
toán của doanh nghiệp đợc phân thành báo cáo tài chính và báo cáo kế toán
quản trị.
Báo cáo tài chính là một phân hệ thuộc báo cáo kế toán cung cấp thông
tin về tài sản, nguồn vốn, tình hình và kết quả hoạt động của doanh nghiệp để
phục vụ cho yêu cầu quản lý của doanh nghiệp cũng nh của các đối tợng khác ở
bên ngoài nhng chủ yếu là phục vụ cho các đối tợng ở bên ngoài. Báo cáo tài
Thuyết minh báo cáo tài chính trình bày khái quát đặc điểm hoạt động của
doanh nghiệp. Nội dung một số chế độ kế toán đợc doanh nghiệp chọn để áp
dụng, tình hình và lý do biến động của một số đối tợng tài sản và nguồn vốn
quan trọng, phân tích một số chỉ tiêu tài chính chủ yếu và các kiến nghị của
doanh nghiệp.
2 - Mục đích, ý nghĩa của báo cáo tài chính:
- Sau mỗi chu kỳ hoạt động sản suất kinh doanh, các doanh nghiệp lập báo cáo
tài chính nhằm tổng hợp, đánh giá một cách khái quát tình hình tài sản, công
nợ, nguồn vốn và tình hình tài chính của doanh nghiệp.
- Báo cáo tài chính không chỉ có ý nghĩa quan trọng đối với chủ doanh nghiệp
mà còn là nguồn thông tin chính đối với các chủ ngân hàng, các nhà đầu t, nhà
cung cấp...
Mỗi nhóm ngời có nhu cầu thông tin khác nhau do vậy họ có xu hớng tập trung
vào những khía cạnh riêng trong bức tranh tài chính của doanh nghiệp.
+ Đối với chủ doanh nghiệp, mối quan tâm hàng đầu của họ là kinh doanh có
lãi và thanh toán đợc những khoản nợ đến hạn. Vì một doanh nghiệp nếu lỗ liên
tục trong nhiều năm thì rốt cuộc cũng sẽ khánh kiệt và tất yếu dãan tới phá sản.
Ngợc lại, dú doanh nghiệp đó kinh doanh có lãi mà không thanh toán kịp các
khoản nợ đến hạn thì cũng sẽ bị đóng cửa. Không những thế, các chủ doanh
nghiệp còn phải giải quyết các vấn đề về nâng cao chất lợng sản phẩm, cung
cấp hàng hoá với chi phí thấp, giải quyết công ăn việc làm cho công nhân...Nh
vậy, hơn ai hết, chính những ngời chủ doanh nghiệp cần phải nắm rõ các thông
tin để có thể đánh giá thực trạng tình hình tài chính của mình, xem xét khả năng
thanh toán, khả năng sinh lời, đánh giá những rủi ro có thể xảy ra trong quá
trình hoạt động và dự đoán tình hình tài chính nhằm đề ra quyết định đúng đắn.
+ Đối với các chủ ngân hàng, những ngời cho vay tín dụng thì mối quan tâm
của họ là khả năng trả nợ của doanh nghiệp. Không có một chủ ngân hàng nào
dám mạo hiểm cho vay tiền nếu họ không biết chắc rằng khoản tiền của họ sẽ
đợc thanh toán khi đến hạn. Vì vậy, họ đặc biệt chú trọng tới lợng tiền và các tài
sản có thể chuyển đổi nhanh thành tiền. Đồng thời, so sánh với số nợ ngắn hạn
nếu bỏ sót hoặc xác định sai những thông tin đó có thể ảnh hởng nghiêm trọng
tới quyết định kinh tế của ngời sử dụng thông tin.
- Tính đáng tin cậy: thông tin có chất lợng đáng tin cậy khi chúng không mắc
những sai lầm nghiêm trọng hoặc phản ánh méo mó một cách cố ý. Để đảm bảo
tính đáng tin cậy, thông tin trên báo cáo tài chính phải thoả mãn những tính chất
sau:
+ Trình bày trung thực: cấc thông tin phải đợc trình bày một cách trung thực về
những giao dịch và các sự kiện khác có liên quan.
+ Khách quan: các thông tin trên báo cáo tài chính phải khách quan, không bị
xuyên tạc, bóp méo. Các báo cáo tài chính sẽ không đợc coi là khách quan nếu
nh bằng việc lựa chọn hoặc trình bày chúng có ảnh hởng đến việc ra quyết định.
5
+ Thận trọng: Ngời lập báo cáo tài chính thờng phải trình bày các nội dung về
nhiều sự kiện, tình thế không chắc chắn. Ví dụ nh khả năng thu hồi các khoản
nợ khó đòi, đánh giá thời gian sử dụng của thiết bị máy móc...Các yếu tố đó cần
đợc trình bày một cách thận trọng. Thận trọng bao gồm cả mức độ lờng trớc các
sự kiện cần xét đoán trong quá trình hạch toán trên cơ sở những dữ liệu không
thật chắc chắn.
+ Đầy đủ: các thông tin phải đợc phản ánh đầy đủ trong phạm vi của tính trọng
yếu. Các thông tin sẽ không đợc coi là tin cậy nếu có sự bỏ sót dẫn đến sai lệch
về bản chất của thông tin, ảnh hởng đến việc ra quyết định của ngời sử dụng
báo cáo tài chính.
- Tính so sánh đợc: những ngời sử dụng thông tin phải có khả năng so sánh các
thông tin trên báo cáo tài chính giữa các kỳ với nhau để phân tích xu hớng phát
triển của doanh nghiệp. Ngoài ra, ngời sử dụng báo cáo tài chính còn phải so
sánh số liệu giữa các doanh nghiệp với nhau để đánh giá mối tơng quan về tình
hình tài chính, kinh doanh và sự biến động của chúng giữa các doanh nghiệp.
Vì vậy việc xây dựng, tính toán và trình bày các sự kiện kinh tế lên báo cáo tài
chính phải đợc tiến hành một cách nhất quán giữa các kỳ trong phạm vi một
doanh nghiệp và giữa các doanh nghiệp với nhau.
sách bán hàng của Doanh nghiệp. Số liệu để ghi vào chỉ tiêu này là số luỹ kế
phát sinh Có của tài khoản 531.
+ Thuế tiêu thụ đặc biệt, thuế xuất khẩu phải nộp: Số liệu để ghi vào chỉ tiêu
này là tổng luỹ kế phát sinh Có của tài khoản 3332, 3333.
* Doanh thu thuần: chỉ tiêu phản ánh số doanh thu bán hàng hoá thành phẩm
sau khi đã trừ các khoản giảm trừ.
* Giá vốn hàng bán: chỉ tiêu này phản ánh tổng giá trị của hàng hoá, giá thành
sản xuất của thành phẩm. Số liệu để ghi vào chỉ tiêu vào chỉ tiêu này là luỹ kế
số phát sinh Có tài khoản 632 Giá vốn hàng bán.
* Lợi nhuận gộp về hàng bán và cung cấp dịch vụ: chỉ tiêu này phản ánh số
chênh lệch giữa doanh thu thuần với giá vốn.
* Doanh thu hoạt động tài chính: chỉ tiêu này phản ánh các khoản thu từ hoạt
động tài chính trong kỳ kế toán. Số liệu để ghi vào chỉ tiêu này là luỹ kế phát
sinh Có tài khoản 515.
* Chi phí tài chính: số liệu để ghi vào chỉ tiêu này là phần phát sinh Nợ tài
khoản 635.
* Chi phí bán hàng: chỉ tiêu này phản ánh tổng chi phí bán hàng phân bổ cho
thành phẩm, hàng hoá đã bán trong kỳ. Số liệu để ghi vào chỉ tiêu này là tổng
phát sinh tài khoản 641 Chi phí bán hàng với phát sinh Có tài khoản 1422 chi
tiết phần chi phí bán hàng đối ứng với nợ tài khoản 911.
* Tổng chi phí quản lý doanh nghiêp: Số liệu để ghi vào chỉ tiêu này là tổng
cộng số phát sinh Có tài khoản 642 với phát sinh Có tài khoản 1422 chi tiết
phần chi phí quản lý Doanh nghiệp đối ứng nợ tài khoản 911.
* Lợi nhuận thuần từ hoạt động kinh doanh: chỉ tiêu này đợc tính toán trên cơ
sở lợi tức gộp trừ đi chi phí bán hàng và chi phí quản lý phân bổ cho hàng hoá,
thành phẩm, dịch vụ đã tiêu thụ trong kỳ báo cáo.
* Thu nhập khác: Chỉ tiêu này phản ánh các khoản thu nhập bất thờng ngoài
hoạt động kinh doanh và hoạt động tài chính phát sinh trong kỳ báo cáo. Số liệu
7
để ghi vào chỉ tiêu này là phát sinh nợ tài khoản 711 đối ứng bên Có tài khoản
9. Các loại thuế khác căn cứ số phát sinh Nợ và Có tài khoản 3338.
Mục II: Các khoản phải nộp khác.
Là chỉ tiêu tổng hợp phản ánh các khoản phải nộp, đã nộp, còn phải nộp về các
khoản khác theo quy định của Nhà nớc, chi tiết theo các khoản sau:
+ các khoản phụ thu.
+ các khoản lệ phí,
+ các khoản phải nộp khác.
8
Các khoản phải nộp khác căn cứ vào số phát sinh Nợ, Có chi tiết tài khoản
3339.
Tổng số thuế phải nộp khác năm trớc chuyển sang kỳ này: là chỉ tiêu phản ánh
số thuế phải nộp của năm trớc đến đầu kỳ báo cáo vẫn cha nộp trong đó chi tiết
riêng cho chỉ tiêu thuế thu nhập Doanh nghiệp.
3 - Phần III: Thuế Giá trị gia tăng đợc trừ, thuế Giá trị gia tăng đợc hoàn lại,
thuế Giá trị gia tăng đợc miễn giảm, thuế Giá trị gia tăng hàng bán nội địa.
a - Mục I: Thuế Giá trị gia tăng đợc khấu trừ:
Chỉ tiêu 1: Số thuế Giá trị gia tăng còn đợc khấu trừ còn đợc hoàn lạiđầu kỳ:
ssó liệu để ghi vào chỉ tiêu này đợc căn cứ vào số d Nợ điều khoản của tài
khoản 133.
Chỉ tiêu 2: Số thuế Giá trị gia tăng đợc khấu trừ phát sinh: căn cứ vào số phát
sinh bên nợ tài khoản 133 để xác định số thuế Giá trị gia tăng đợc khấu trừ
trong kỳ báo cáo.
Chỉ tiêu 3: Số thuế Giá trị gia tăng đã khấu trừ, đã hoàn lại, thuế Giá trị gia tăng
hàng mua trả lại và không đợc khấu trừ trong kỳ. Số liệu ghi vào chỉ tiêu này
căn cứ vào số phát sinh bên Có tài khoản 133.
Trong đó:
* Số thuế Giá trị gia tăng đã khấu trừ căn cứ vào số phát sinh bên Có tài khoản
133 đối ứng Nợ tài khoản 33311.
* Số thuế Giá trị gia tăng đã hoàn lại dựa vào Sổ kế toán chi tiết tài khoản 133,
chi tiết thuế Giá trị gia tăng hoàn lại, phần phát sinh bên có tài khoản 133 đối
d - Mục 4: Thuế Giá trị gia tăng hàng bán nội địa.
- Thuế Giá trị gia tăng hàng bán nội địa còn phải nộp đầu kỳ: số d Có cuối kỳ
trớc tài khoản 33311.
- Thuế Giá trị gia tăng đầu ra phát sinh: phản ánh toàn bộ số thuế Giá trị đầu ra
của hàng bán nội bộ đã phát sinh trong kỳ luỹ kế đến cuôí kỳ. Số liệu ở chỉ tiêu
này là số phát sinh Có tài khoản 33311.
- Thuế Giá trị gia tăng đầu vào đã khấu trừ là số phát sinh có tài khoản 133 đối
ứng Nợ tài khoản 33311.
- Thuế Giá trị gia tăng hàng bán bị trả lại, bị giảm giá là số phát sinh Có tài
khoản 111, 112, 131 đối ứng nợ tài khoản 33311.
- Thuế Giá trị gia tăng đợc giảm trừ vào số thuế phải nộp là số phát sinh Có tài
khoản 721 đối ứng Nợ tài khoản 33311.
- Thuế Giá trị gia tăng hàng bán nội địa đã nộp vào ngân sách nhà nớc là số
phát sinh có tài khoản 111, 112 đối ứng nợ tài khoản 33311 chi tiết thuế giá trị
gia tăng đã nộp ngân sách trong kỳ.
- Thuế Giá trị gia tăng hàng bán nội địa còn phải nộp cuối kỳ: chỉ tiêu này căn
cứ vào số d có tài khoản 33311.
Nh vậy, so với hệ thống báo cáo tài chính của các nớc phát triển nh Pháp và Mỹ
thì hệ thống báo cáo taì chính của chúng ta có rất nhiều điểm khác biệt.
ở Mỹ, báo cáo kết quả hoạt động kinh doanh đợc gọi là báo cáo thu nhập đợc
lập theo mẫu sau:
Chỉ tiêu Số tiền
Doanh thu bán hàng hoá, dịch vụ
Doanh thu khác
10
Tổng doanh thu
Giá vốn hàng bán
Chi phí bán hàng
Chi phí quản lý Doanh nghiệp
Các loại chi phí khác
phòng chi phí kinh doanh.
I. Thu nhập kinh doanh
- TK từ 70 - 75 thu nhập kinh
doanh.
- TK 781 hoàn nhập khấu hao
dự phòng thu nhập kinh doanh.
Cộng chi phí kinh doanh Cộng thu nhập kinh doanh
II. Chi phí tài chính II. Thu nhập tài chính
11