Một số giải pháp nhằm hoàn thiện cơ chế quản lý Nhà nước đối với hoạt động xuất nhập khẩu - Pdf 11

Mục lục
Trang
Đề mục
Lời mở đầu
Chơng I: XNK và một số vấn đề lý thuyết liên quan
tới quản lý nhà nớc về XNK
I. XNK Những vấn đề lý luận
1. Khái niệm
2. Vai trò, ý nghĩa của hoạt động XNK
3. Các nhân tố ảnh hởng tới hoạt động XNK
4. Các hình thức XNK chủ yếu
II. Lý thuyết liên quan đến quản lý Nhà nớc về XNK
1. Sự cần thiết phải có quản lý Nhà nớc đối với hoạt động XNK
2. Các quan điểm về quản lý XNK
3. Các công cụ quản lý của Nhà nớc đối với với hoạt động XNK
Chơng II: Một số vấn đề trong quản lý Nhà nớc
về XNK Hàng hốa hiện nay ở Việt Nam
I. Khái quát quản lý Nhà nớc đối với với hoạt động XNK hàng hoá ở
Việt Nam thời gian qua
1. Giai đoạn trớc đổi mới nền kinh tế ( trớc 1986 )
2. Giai đoạn đổi mới nền kinh tế.
II. Quản lý Nhà nớc đối với với hoạt động XNK hàng hoá hiện nay
tại Việt Nam
1. Bộ máy quản lý Nhà nớc đối với với hoạt động XNK hàng hoá.
2. Cơ chế quản lý với hoạt động XNK hàng hoá hiện nay ở nớc ta.
3. Thủ tục hành chính.
Chơng III: Một số giải pháp nhằm hoàn thiện cơchế
quản lý Nhà nớc đối với với hoạt động XNK hàng hoá
I. Các quan điểm cơ bản chỉ đạo hoạt động và hoàn thiện các chính
sách cơ chế quản lý ngoại thơng.
1. Mở rộng hoạt động ngoại thơng

dựng một nền kinh tế hàng hoá nhiều thành phần vận hành theo cơ chế thị trờng
có sự quản lý của Nhà nớc theo định hớng XHCN. Hoạt động XNK đã tăng lên
không ngừng và mang lại nguồn thu không nhỏ cho thu nhập quốc gia.
Năm 2000, giá trị XNK đạt 30,119 tỷ $ ( trong đó kim ngạch XK đạt:
14,483 tỷ $, kim ngạch nhập khẩu đạt 15,637 tỷ$ )
Năm 2001 đạt 31,189 tỷ $ (trong đó kim ngạch XK đạt: 15,027 tỷ $, kim
ngạch nhập khẩu đạt 16,162 tỷ$ ).
Năm 2002 vừa qua giá trị XNK đạt 38,3 tỷ $ ( trong đó kim ngạch XK đạt:
17,8 tỷ $, kim ngạch nhập khẩu đạt 20,5 tỷ$ ).
Dự kiến năm 2003, giá trị XNK đạt tỷ $ ( trong đó kim ngạch XK
dự kiến: tỷ $, kim ngạch nhập khẩu dự kiến là tỷ$ ).
Tuy nhiên, trong hoạt động XNK hiện nay vẫn còn tồn tại nhiều bất cập,
mà trách nhiệm không nhỏ thuộc về phía Nhà nớc. Các pháp luật quy định về hoạt
động XNK, về bộ máy quản lý, kiểm tra, thanh tra và cơ chế khuyến khích hoạt
động XNK tuy có nhiều đổi mới, nhng nhìn chung cha đáp ứng đợc yêu cầu của
tình hình mới khiến hoạt động XNK bị cầm chừng. Doanh nghiệp ngoài Quốc
doanh chiếm tỷ trọng nhỏ, hoạt động trốn thuế khai khống diễn ra... gây thất thu
cho ngân sách nhà nớc, mất lòng tin cho ngời kinh doanh XNK. Trong tình hình
đó, nớc ta lại đang tiến hành CNH - HĐH, đất nớc cần rất nhiều sự hỗ trợ thông
qua hoạt động XNK. Đặc điểm năm 2003 chúng ta lại đang thực hiện quá trình
cắt giảm thuế suất cho hàng loạt các mặt hàng theo quy ớc chung AFTA. Điều đó
3
mang lại những cơ hội mới nhng cũng là những thách thức mới cho hoạt động
XNK ở nớc ta.
Nhận thức đợc tầm quan trọng của vấn đề này, trong thời gian thực tập tại
Bộ Kế hoạch và Đầu t tôi đã chọn và nghiên cứu đề tài "Một số giải pháp nhằm
hoàn thiện cơ chế quản lý nhà nớc đối với hoạt động XNK"
Kết luận:
Để hoàn thành đợc đè tài này, em đã nhận đợc sự giúp đỡ chỉ bảo tận tình
của TS Vũ Đình Tích - Phó biên tập Tạp chí Kinh tế và dự báo - Bộ Kế hoạch và

tiếp đó là chế độ nhà nớc phong kiến. Trong các xã hội nô lệ và phong kiến, do
kinh tế tự nhiên còn chiếm địa vị thống trị nên hoạt động XNK, nói cách khác là
nền ngoại thơng, chỉ phát triển với quy mô nhỏ bé sản phẩm sản xuất ra và chủ
yếu là để phục vụ cho tiêu dùng cá nhân của giai cấp thống trị đơng thời. Ngoại
thơng chỉ thực sự phát triển trong thời đại t bản chủ nghĩa, bởi dới chế độ này các
điều kiện cần có để ngoại thơng sinh ra, tồn tại và phát triển mới thực sự có đầy
đủ.
Ngày nay sản xuất đã đợc quốc tế hoá. Không một quốc gia nào có thể tồn
tại và phát triển kinh tế mà lại không tham gia vào phân công lao động quốc tế và
trao đổi hàng hoá với bên ngoài. Sự phát triển lớn mạnh đó của hoạt động ngoại
thơng không chỉ phản ánh vai trò to lớn của nó trong đời sống kinh tế xã hội mà
còn phản ánh sự lựa chọn một cách đúng đắn của các nớc trong xu thế hợp tác và
phân công lao động quốc tế.
2. Vai trò, ý nghĩa của hoạt động XNK.
2.1 Những vấn đề cơ bản liên quan tới cơ chế xuất hiện lợi ích từ ngoại th-
ơng ( Các lý thuyết về thơng mại Quốc tế ).
2.1.1. Quan niệm của các học giả trọng thơng
Các nhà kinh tế của chủ nghĩa trọng thơng đã coi tiền là tiêu chuẩn căn bản
của cải. Họ cho rằng: một quốc gia giàu là phải có nhiều tiền, từ đó mọi chính
sách của Nhà nớc đều nhằm mục đích gia tăng khối lợng tiền tệ.
Những ngời trọng thơng cho rằng lợi nhuận thơng nghiệp là kết quả của sự
trao đổi không ngang giá và lừa gạt giữa các quốc gia. Từ đó, họ giải thích rằng
trong hoạt động thơng nghiệp không một ngời nào thu lợi mà không làm thiệt hại
5
ngời khác, không một quốc gia nào thu đợc lợi mà không làm hại quốc gia khác.
Những ngời trọng thơng còn cho rằng của cải của một nớc chỉ có thể tăng lên nhờ
phát triển thơng nghiệp, đặc biệt là ngoại thơng. Theo họ, trong ngoại thơng phải
thựchiện xuất siêu, vì chỉ có suất siêu mới đạt đợc mục đích của hoạt động kinh tế
mới làm tăng khối lợng tiền tệ của một nớc. Họ đề nghị chính phủ phải can thiệp
mạnh vào lĩnh vực này này nhằm tạo điều kiện thuận lợi cho xuất khẩu, hạn chế

thuyết tỷ lệ các yếu tố, chu kỳ sồng quốc tế của sản phẩm, lý thuyết mới về thơng
mại, lợi thế cạnh tranh quốc gia. thì vai trò của ngoại thơng và những ý nghĩa to
lớn của nó đối với đồi sống kinh tế xã hội đã đợc hầu hết các quốc gia thừa nhận
và coi đó là động không thể thiếu trong đời sống kinh tế quốc gia.
Tổng kết thực tiễn hoạt động ngoại thơng của các quốc gia, ngời ta thấy có
những vai trò to lớn sau:
- Phát huy nội lực nền kinh tế, sự sáng tạo của mọi ngời, mọi đơn vị, tổ chức,
ngành nghề, địa phơng trong xã hội. Bởi hoạt động XNK để thu đợc hiệu quả cao
do đợc nhiều cá nhân và tổ chức thực hiện, các luồng thông tin đợc khai thông,
các mối quan hệ đợc sử dụng tích cực.
6
Chính phủ
Bộ Thơng
Các Bộ, cơ
quan ngang
UBND các tỉnh,
thành phố trực
Doanh nghiệp
kinh doanh th-
Sở Thơng Mại
Tổng công ty,
liên hiệp,
Doanh nghiệp
kinh doanh XNK
Đơn vị thành
viên
- Việc XNK trong điều kiện nền kinh tế hàng hóa nhiều thành phần tất yếu
dẫn đến sự cạnh tranh, theo dõi kiểm soát lẫn nhau rất chặt chẽ giữa các chủ thể
tham gia XNK. Nhờ sự cạnh tranh này mà chất lợng hàng hóa đợc nâng cao, áp
dụng KHKT mới một cách thờng xuyên và có ý thức.

quốc tế
khoa học
công nghệ
Dịch vụ
thu
ngoại
tệ
Tạo việc làm, tăng GDP/ đầu người, tăng mức sống thực tế.
Phân công lao
động quốc tế về
sự trao đổi các
lợi thế so sánh
+ Tăng GDP
+ Chuyển dịch
cơ cấu kinh tế
+ Cải thiện cán cân
thanh toán
+ Kiềm chế lạm phát
+ Mở rông quan hệ
kinh tế đối ngoại
+ ổn định kinh
tế vĩ mô
Tăng trư
ởng và
phát triển
nền kinh
tế vĩ mô
các mục tiêu CNH-HĐH, mặt khác nó cũng là điều kiện để nền sản xuất của nớc
ta bắt kịp với tốc độ phát triển của nền kinh tế thế giới trong giai đoạn hiện nay.
- Nhập khẩu nhằm bổ xung kịp thời những mặt mất cân đối của nền kinh tế

triển nền kimh tế mở. NXB Khoa học xã hội - Hà Nội 1997
Thứ nhất, do tồn tại cạnh tranh tất yếu dẫn đến rối trong mua bán. Nếu
không có sự kiểm soát chặt chẽ kịp thời sẽ gây ra các thiệt hại về kinh tế trong
quan hệ với nớc ngoài. Các hiện tợng xấu về kinh tế - xã hội, t tởng... cũng có đất
phát triển nh buôn lậu, trốn thuế...
Thứ hai, vì tồn tại cạnh tranh sẽ dẫn tới sự thôn tính lẫn nhau giữa các chủ
thể kinh tế bằng các biện pháp xấu nh: pha hoại công việc của nhau, gây cản trở
phức tạp cho nhau... con ngời dễ dẫn đến sự giảm sút nhân cách, cho nên việc
quản lý không chỉ tính toán hiệu quả đơn thuần về mặt kinh tế mà còn tính đến
các mặt khác về văn hoá, đạo đức, xã hội.
8
3. Các nhân tố ảnh hởng tới hoạt động XNK
Hoạt động XNK là việc buôn bán trao đổi hàng hoá với nhiều nét phức tạp
riêng, hoạt động XNK diễn ra chịu ảnh hởng của nhiều yếu tố khác nhau.
3.1.Yếu tố pháp luật.
Hoạt động XNK diễn ra với sự tham gia của các chủ thể ở các quốc gia
khác nhau. ở mỗi quốc gia đều có những bộ luật riêng, trình độ hành pháp, lập
pháp phụ thuộc vào trình độ phát triển kinh tế ở các quốc gia đó. Các yếu tố luật
pháp không chỉ chi phối tới hoạt động kinh doanh ở trên chính quốc gia đó mà
còn chi phối tới tất cả các hoạt động kinh doanh quốc tế.
Nh vậy, để có thể tham gia vào hoạt động thơng mại quốc tế, thì trớc hết
doanh nghiệp phải hiểu rõ môi trờng luật pháp ở chính quốc gia đó và quốc gia
của đối tác cùng thông lệ quốc tế hiện hành, vì chính các yếu tố đó có thể tạo điều
kiện cho doanh nghiệp mở rộng thị trờng, tạo ra những cơ hội mới cho các doanh
nghiệp để tăng doanh số bán hàng, tăng lợi nhuận kinh doanh, khai thác đợc các
cơ hội trong kinh doanh, mở rộng hoạt động kinh doanh trên thị trờng thế giới.
3.2. Các yếu tố kinh tế.
Các yếu tố thuộc về kinh tế bao gồm: chính sách tiền tệ, chính sách tài
chính, vấn đề lạm phát và thuế quan.
Yếu tố kinh tế có tác động mạnh mẽ tới hoạt động XNK ở cả tầm vĩ mô và

kinh tế, bóp nghẹt các đầu mối quan hệ giao lu về mọi mặt, đặc biệt là đối với
hoạt động XNK.
Nhiều nơi trên thế giới hiện nay, sự bất ổn về chính trị và cuộc chiến tranh
sắc tộc diễn ra mạnh mẽ. Tại đây, sự an toàn trong kinh doanh là không cao hoặc
không có. Điều này đã đang và sẽ buộc các doanh nghiệp phải ngừng hoạt động
kinh doanh của mình, bởi vì họ đang đánh giá lại các cơ hội kinh doanh trên thị tr-
ờng và phân bổ lại nguồn lực sang các thị trờng khác có độ an toàn cao hơn.
3.5. Các yếu tố thuộc về văn hoá xã hội.
Các yếu tố văn hoá xã hội có thể kể tới đó là lối sống, phong tục, tập quán,
tôn giáo, ngôn ngữ, thị hiếu tiêu dùng.
Yếu tố văn hoá xã hội có tác động mạnh mẽ đến nhu cầu thị trờng, nó có
tính chất quyết định đến hoạt động XNK của xí nghiệp.
3.6. Các yếu tố về đồng tiền thanh toán.
Phơng thức thanh toán luôn gắn liền với hoạt động XNK. Ngoại tệ là phơng
tiện thanh toán chủ yếu trong quan hệ thơng mại quốc tế. Khi đồng tiền ngoại tệ
một khi bị biến động thì một trong hai bên sẽ bị phơng hại.
Khi một hợp đồng XNK đợc ký kết với đồng tiền thanh toán là đồng tiền
của bên nhập với một thời hạn thanh toán nhất định. Đến hạn thanh toán, đồng
tiền của bên xuất tăng giá so với bên nhập, khi đó bên xuất sẽ mất một khoản thu
nhập đáng kể do sự biến động của tỷ giá hối đoái giữa hai đồng tiền và ngợc lại.
Do đó, lợi ích các bên có thể bị ảnh hởng. Hoạt động thơng mại tiếp tục hay
ngừng trệ, điều này phụ thuộc vào tỷ giá giữa hai đồng tiền thanh toán làm lợi ích
của họ đợc bảo đảm hay không bảo đảm. Chính sách tỷ giá hối đoái cân bằng linh
hoạt và đợc điều chỉnh theo giá cả thị trờng là chính sách hoàn toàn đáp ứng đợc
yêu cầu của hai bên xuất khẩu và nhập khẩu.
3.7. Các yếu tố thuộc về doanh nghiệp:
Đây là yếu tố ảnh hởng trực tiếp tới hoạt động XNK bởi doanh nghiệp là
ngời trực tiếp tạo ra sản phẩm, trực tiếp tiến hành ( hoặc uỷ thác ) hoạt đông
XNK. Các yếu tố thuộc về doanh nghiệp bao gồm: Ban lãnh đạo doanh nghiệp, cơ
cấu tổ chức bộ máy, đội ngũ cán bộ và các nguồn lực vật chất khác.

hoá chứ không phải giá trị ( tuy vậy vẫn phải cân bằng về giá trị để nhằm mục
đích cân bằng hai bên cùng có lợi ).
Hình thức hàng đổi hàng, trao đổi bù trừ, mua đối lu, giao dịch bồi hoàn;
chuyển giao nghĩa vụ và mua lại sản phẩm là các hình thức trong mua bán đối lu.
4.5. XNK uỷ thác:
XNK uỷ thác là hoạt động XNK hình thành giữa một doanh nghiệp trong n-
ớc có vốn ngoại tệ riêng và có nhu cầu xuất khẩu, nhập khẩu một số loại hàng hoá
nhng không có quyền tham gia quan hệ XNK trực tiếp đã uỷ thacá cho một doanh
nghiệp có chức năng trực tiếp giao dịch ngoại thơng để tiến hành XNK những
hàng hoá theo yêu cầu của mình. Bên nhận uỷ thác phải thực hiện yêu cầu của bên
uỷ thác và đợc hởng một khoản thù lao gọi là phí uỷ thác. Trong hoạt động XNK,
doanh nghiệp XNK ( nhận uỷ thác ) không phải bỏ vốn, không phải xin hạn ngạch
( nếu có ), không phải nghiên cứu thị trờng tiêu thụ do không phải tiêu thụ hàng
nhập mà chỉ đứng ra thay mặt cho bên uỷ thác tìm và giao dịch với bạn hàng nớc
ngoài, ký hợp đồng và làm thủ tục XNK hàng hoá cũng nh thay mặt bên uỷ thác
khiếu nại ( nếu có ).
4.6. Gia công xuất khẩu:
Gia công xuất khẩu là việc một bên nhập nguyên liệu, bán thành phẩm các
linh kiện phụ tùng đem về sản xuất, chế biến lắp ráp thành dạng hoàn chỉnh hơn
rồi giao lại cho phía bên kia và đợc hởng một khoản tiền thù lao gọi là phí gia
công.
4.7. XNK liên doanh: là hoạt động XNK hàng hoá trên cơ sở liên kết một
cách tự nguyện giữa các doanh nghiệp ( trong đó ít nhất một doanh nghiệp XNK
trực tiếp ) nhằm phối hợp khả năng để cùng nhau giao dịch và đề ra các chủ trơng
biện pháp có liên quan đến hoạt động XNK, thúc đẩy hoạt động này theo hớng có
lợi nhất cho tất cả các bên cùng hởng lãi và cùng chịu lỗ.
II. Lý thuyết liên quan đến quản lý Nhà nớc về XNK.
1. Sự cần thiết phải có quản lý Nhà nớc đối với hoạt động XNK.
11
Sau một thời gian áp dụng lý thuyết "bàn tay vô hình" của ADAMSMITH,

c. Trả đũa các hoạt động thơng mại không công bằng. Khi một chính phủ
này áp dụng các biện pháp để hạn chế hàng hoá của một nớc thì nớc đó cũng ngay
lập tức tiến hành các biện pháp để hạn chế hàng hoá của nớc kia vào thị trờng nớc
mình.
d. Tạo lập ảnh hởng: Kinh tế - Chính trị - Quốc phòng an ninh là các yếu
tố có quan hệ mật thiết với nhau. Không thể nói một quốc gia có nền chính trị ổn
định, quốc phòng an ninh vững chắc, "bất khả xâm phạm", nếu kinh tế kém phát
triển lạc hậu. Ngợc lại, chính trị ổn định, quốc phòng an ninh vững vàng sẽ tạo
điều kiện cho kinh tế phát triển, đặc biệt thông qua hoạt động XNK, quốc gia sẽ
có những thế và lực mới trong mở rộng hợp tác song phơng và địa phơng, tạo lập
ảnh hởng của mình trên chính trờng quốc tế.
1.3. Các lý do về kinh tế.
a. Bảo vệ các ngành công nghiệp non trẻ: Khi một ngành công nghiệp mới
ra đời, tất yếu sẽ gặp nhiều vớng mắc. Nhà nớc sẽ tiến hành bảo hộ cho các ngành
12
này để họ có thể đứng vững trong thơng trờng. Tất nhiên bảo hộ sẽ có hại nhiều
hơn là có lợi, nhng ở một chừng mực nào đó điều này là cần thiết.
b. Theo đuổi chính sách thơng mại chiến lợc nhằm tiến tới các mục tiêu
kinh tế xã hội nhất định.
Lý thuyết thơng mại mới cho rằng sự can thiệp của chính phủ có thể giúp
doanh nghiệp khai thác đợc tính kinh tế theo quy mô và trở thành ngời đến trớc
trong các ngành sản xuất. Vì thế, khi Nhà nớc theo đuổi một chính sách thơng mại
chiến lợc nào ( nổi bật là chính sách ngoại thơng ), sẽ hớng nền kinh tế đi đến con
đờng đó. Một Nhà nớc theo đuổi một chính sách thơng mại tích cực sẽ góp phần
tăng trởng kinh tế, mở rộng hợp tác quốc tế song phơng và đa phơng về mọi mặt.
Rõ ràng với các lý do trên, có thể thấy vai trò của Nhà nớc trong hoạt động
XNK là không thể thiếu. Quản lý Nhà nớc đối với nền ngoại thơng là một tất yếu
khách quan.
Thực tiễn đã tổng kết: Điều kiện để ngoại thơng sinh ra, tồn tại và phát
triển là:

nghiêm trọng. Vì vậy, trong điều kiện sản xuất hàng hoá còn cha phát triển, giá
13
thành còn cao thì Nhà nớc cần áp duụng một chính ách bảo hộ ôn hoà, có điều
kiện để bảo hộ sản xuất nền công nghiệp non trẻ.
2.1.2. Chế độ bảo hộ ( Chế độ XNK hạn chế ): là chế độ ngoại thơng trong
đó Nhà nớc trực tiếp can thiệp vào quá trình điều tiết ngoại thơng, dựa trên mọi
hạn chế về số lợng thông qua chế độ giấy phép và tỉ giá hối đoái theo công giá.
Ưu điểm của những Nhà nớc theo đuổi chế độ ngoại thơng này là có thể
bảo hộ cho sản xuất trong nớc, giúp cho các ngành sản xuất non trẻ đứng vững
trên thị trờng, đồng thời cũng hạn chế đợc những ảnh hởng ngoại lai tiêu cực từ
bên ngoài tràn theo khi hàng ngoại nhập lu thông trong thị trờng trong nớc.
Nhng những Nhà nớc theo đuổi chế độ ngoại thơng này sẽ gặp những khó
khăn rất nghiêm trọng, bất lợi nhiều hơn có lợi, bởi trong thơng mại quốc tế có
một nguyên lý mà bất kỳ ai cũng biết là không có gì tốt đẹp bằng tự do trao đổi.
Một chính sách nhập khẩu thông thoáng sẽ thức đẩy đợc sản xuất trong nớc theo
một cơ cấu phù hợp với tiêu dùng trong nớc và quốc tế. Việc hạn chế nhập khẩu
không đúng, chính là lại hạn chế việc xuất khẩu, hạn chế sản xuất trong nớc. Hơn
nữa, việc Nhà nớc tiến hành bảo hộ sẽ gây ra tâm lý ỷ lại, phơng hại đến lợi ích
của ngời tiêu dùng và có thể dẫn đến sự suy thoái của cả nền kinh tế. Cuộc khủng
hoảng kinh tế của nớc ta, giai đoạn trớc năm 1986 là một minh chứng cho việc
theo đuổi chế độ ngoại thơng đó.
Nh vậy, về lý thuyết hai xu hớng này là hai hệ thống đối lập nhau. Nhng
trong thực tế đã và đang diễn ra việc áp dụng xu hớng tự do buôn bán ở nớc này
đồng thời lại duy trì bảo hộ ở những nớc khác. Thậm chí trong một quốc gia thực
hiện tự do buôn bán, đồng thời trong một chừng mực nhất định lại áp dụng những
biện pháp bảo hộ.
Tuy nhiên trong điều kiện kinh tế thế giới hiện nay, xu hớng tự do buôn
bán đang là xu hớng nổi bật. Tự do buôn bán là xu hớng tất yếu của một nền kinh
tế mở.
Đối với nớc ta, chúng ta cần khẳng định không lấy chính sách bảo hộ mậu

Ưu điểm chiến lợc này là
- Phát huy tốt nhất các tiềm năng, thế mạnh về lao động, tài nguyên... để
phát triển mạnh sản xuất với các sản phẩm thay thế nhập khẩu có chi phí giá
thành hợp lý nhất. Nhờ vậy, quốc gia đạt đợc tăng trởng phát triển kinh tế cao.
- Các chủ trơng, biện pháp khuyến khích tiêu dùng hàng nội địa, bảo hộ sản
xuất và mậu dịch trong nớc bằng hàng rào thuế quan và phi thuế quan nhằm
chống lại sự ra tăng hàng ngoại nhập, nhất là đối với những hàng cao cấp xa xỉ;
không phù hợp với thuần phong mỹ tục truyền thống của dân tộc và khả năng thu
nhập của dân c...đều là những biểu hiện tích cực đề cao ý thức tự lập tự cờng của
dân tộc, không để phụ thuộc bên ngoài.
Nhng chiến lợc thay thế nhập khẩu cũng có những nhợc điểm:
Một là, với việc gia tăng các điều kiện bảo hộ sản xuất và mậu dịch trong
nớc cho phép ngời ta sản xuất ra nhiều loại hàng hoá thay thế nhập khẩu với bất
kỳ giá nào, gây lãng phí các nguồn lực sản xuất và làm cho giá thành quá cao so
với giá thành thế giới.
Hai là, không phải thực hiện chiến lợc này là giảm đợc tỷ trọng nhập khẩu.
Kinh nghiệm cho thấy 6 trong 38 nớc thực hiện chiến lợc này là giảm đợc, còn lại
đều tăng, khiến cán cân thơng mại và do đó cán cân thanh toán quốc tế thờng
xuyên bị thiếu hụt, nợ nớc ngoài vì thế vẫn không giảm. Lý do dễ hiểu là công
nghiệp thay thế nhập khẩu thờng phải tách rời những khu vực sản xuất vật chất
truyền thống. Vì thế có một mâu thuẫn nảy sinh là càng phát triển mạnh công
nghiệp thay thế nhập khẩu thì càng phải tăng nhập khẩu máy móc gây lãng phí
ngoại tệ.
Ba là, chiến lợc sản xuất hàng nội địa thay thế hàng nhập khẩu thực chất
nhằm vào thoả mãn nhu cầu trong nớc là chính, chú trọng nhiều đến tỷ lệ tự cấp
của thị trờng nội địa. Với chiến lợc nh vậy, ngoại thơng không đợc coi trọng, coi
nhẹ ảnh hởng tích cực của kinh tế thế giới đối với sự phát triển kinh tế trong nớc.
Và điều đó tất sẽ hạn chế việc khai thác tiềm năng của đất nớc trong việc phát
triển ngoại thơng và các quan hệ kinh tế đối ngoại khác.
Bốn là, nó hạn chế tự do hoá ngoại thơng, vi phạm quy luật lợi thế so sánh

đầu t trực tiếp cũng nh hỗ trợ của t bản nớc ngoài để tạo ra khả năng cạnh tranh
cao của hàng xuất klhẩu.
Nhờ áp dụng chiến lợc này, nền kinh tế nhiều nớc đang phát triển trong vài
ba thập kỷ qua đã đạt đợc một tốc độ tăng trởng cao, một số ngành công nghiệp
( chủ yếu là các ngành chế biến xuất khẩu ) đạt trình độ kỹ thuật tiên tiến, có khả
năng cạnh tranh trên thị trờng thế giới. Ngoại thơng trở thành "đầu tàu" của nền
kinh tế. Tiêu biểu trong số nớc thành công nhừ áp dụng chiến lợc này là "nền kinh
tế thần kỳ", Nhật Bản, "bốn con rồng" châu á.
Tuy vậy, áp dụng chiến lợc này cũng bộc lộ những nhợc điểm:
- Do tập trung hết khả năng cho xuất khẩu và các ngành có liên quan đẫn
đến tình trạng mất cân đối trầm trọng giữa các ngành xuất khẩu và các ngành
không xuất khẩu.
- Do ít chú ý đến các ngành công nghiệp thiết yếu, nên mặc dù tốc độ tăng
trởng nhanh, nhng nền kinh tế đã gắn chặt vào thị trờng bên ngoài và dễ bị tác
động bởi những biến đổi thăng trầm của thị trờng các nớc lớn.
Tuy có những hạn chế nh vậy nhng có thể nói đây là loại chiến lợc có ít nh-
ợc điểm hơn cả, phù hợp với xu thế phát triển của thời đại ngày nay là quốc tế hoá
đơi sống kinh tế thế giới và hợp tác vì sự phát triển chung của nhân loại.
2.2.4. Chiến lợc phát triển hỗn hợp:
Sự phân định thành ba loại chiến lợc phát triển trên đây trong thực tiễn phát
triển của nhiều nớc chỉ mang tính chất ớc lệ tơng đối. Hầu hết các nớc này đều
không theo đuổi hẳn một chiến lợc nào mà đã thực hiện sự liên kết hợp ddồng bộ
16
của hai hay ba loại chiến lợc thành chiến lợc phát triển hỗn hợp; mặc dù trong khi
thực hiện nó, tuỳ theo từng thời kỳ lịch sử cụ thể, do những đặc điểm quy định cụ
thể của tiến trình CNH mà mỗi đất nớc đều có thể nhấn mạnh trọng tâm phát triển
vào loại chiến lợc này hay chiến lợc khác. Kinh nghiệm của các nớc trên thế giới
cho thấy, ở giai đoạn đầu CNH ngời ta thờng áp dụng chiến lợc thay thế nhập
khẩu ( CNH dựa vào thay thế nhập khẩu- ISI: Uniport SUbstitution industriali
zation ), sau đó sẽ sử dụng chiến lợc xuất khẩu sản phẩm thô và sơ chế để chuẩn

quốc tế cảu hàng hoá bị đánh thuế vợt quá xa giá cả trong nớc ( chứ không phải là
ngợc lại ), hay nói cách khác nó hạ thấp tơng đối mức giá cả trong nớc của hàng
hoá của hàng hoá có thể xuất khẩu xuống so với mức giá cả quốc tế. Điều đó sẽ
làm cho sản lợng trong nớc của hàng hoá có thể xuất khẩu giảm đi và sản xuất
trong nớc sẽ thay đổi bất lợi cho mặt hàng này ( Trong một số trờng hợp việc đánh
thuế xuất khẩu không làm cho khối lợng xuất khẩu giảm đi nhiều mà vẫn có lợi
nhiều cho nớc xuất khẩu ). Vì vậy mà các nớc công nghiệp phát triển hiện nay hầu
nh không áp dụng thuế xuất khẩu. Còn thuế nhập khẩu đợc áp dụng phổ biến ở
mọi nơi, tuy rằng mức thuế có khác nhau. Đơng nhiên, kết quả kinh tế của thuế
nhập khẩu là làm cho giá trị hàng hoá trong nớc vợt cao hơn mức giá nhập khẩu
và chính ngời tiêu dùng trong nớc phải trang trải cho gánh nặng thuế quan này.
17
Về cách tính thuế quan, thuế quan có thể đợc tính bằng nhiều hình thức.
Một là tính theo mỗi đơn vị vật chất của hàng hoá XNK. Cách tính này đơn
giản, dễ tính và không phụ thuộc vào giá cả.
Hai là tính theo giá trị hàng hoá. Cách tính này cũng có u điểm là đơn giản,
dễ tính nhng lại phụ thuộc vào sự biến động của giá cả.
Ba là thuế quan hỗn hợp, kết hợp cách tính của hai loại trên.
3.2. Hạn ngạch:
Hạn ngạch là quy định số lợng ( hoặc giá trị ) XNK đối với từng thị trờng,
từng mặt hàng. Nó là một công cụ kinh tế phục vụ cho công tác điều tiết quản lý
Nhà nớc về XNK vừa nhằm bảo hộ sản xuất trong nớc, bảo vệ tài nguyên, vừa bảo
vệ cán cân thanh toán.
Hạn ngạch nhập khẩu hạn chế số lợng nhập khẩu do đó nó ảnh hởng đến
giá trị nội địa của hàng hoá. Do hạn ngạch nhập khẩu ảnh hởng đến mức cung nên
giá cân bằng sẽ cao hơn trong điều kiện thơng mại tự do. Nh vậy, hạn ngạch mhập
khẩu tơng đối giống với thuế nhập khẩu. Giá hàng nhập nội địa đối với ngời tiêu
dùng tăng lên và chính giá cao này cho phép các nhà sản xuất nội địa sẽ sản xuất
ra đợc một lợng sản phẩm cao hơn so với điều kiện thơng mại tự do. hạn ngạch
cũng dẫn đến sự lãng phí của xã hội giống nh đối với thuế nhập khẩu.

tăng lên nhanh chóng, còn thị phần xe của Mỹ bị giảm trên trờng . Sau đó đã có
những biện pháp chính trị mạnh mẽ, yêu cầu bảo hộ ngành công nghiệp ô tô của
Mỹ. Để tránh cuộc chiến tranh thơng mại và tránh hành động đơ phơng. Chính
phủ Mỹ yêu cầu chính phủ Nhật hạn chế việc xuất khẩu của họ. Nhật Bản lo sợ sự
trả đũa đơn phơng của Mỹ cũng đã đồng ý hạn chế xuất khẩu ở mức 1,68 triệu xe
vào năm 1981 và năm 1984 hạn chế ở mức là 1,85 triệu chiếc.
Thực hiện hạn chế xuất khẩu tự nguyện cũng có tác động kinh tế nh một
hạn ngạch xuất khẩu tơng đơng. Tuy nhiên, hạn ngạch xuất khẩu mang tính chủ
động và thờng là biện pháp bảo vệ thị trờng trong nớc hoặc nguồn tài nguyên
trong nớc, còn hạn chế xuất khẩu tự nguyện mang tính miễn cỡng và gắn với
những điều kiện nhất định.
3.4. Những quy định về điều kiện kỹ thuật.
Đây là những quy định về tiêu chuẩn, vệ sinh, đo lờng an toàn lao động,
bao bì đóng gói, đặc biệt là các tiêu chuẩn về vệ sinh thực phẩm, vệ sinh phòng
dịch đối với động vật tơi sống, tiêu chuẩn về bảo vệ môi trờng sinh thái đối với
máy móc thiết bị và dây chuyền công nghệ ( không có chất phế thải độc hại, tiếng
ồn không quá mức cho phép ... ).
3.5. Trợ cấp xuất khẩu:
Bên cạnh các công cụ nhằm hạn chế xuất khẩu còn có những công cụ dùng
để nâng đỡ hoạt động xuất khẩu. Chính phủ có thể áp dụng các biện pháp trợ cấp
trực tiếp hoặc cho vay vốn với lãi xuất thấp đối với nhà xuất khẩu trong nớc. Bên
cạnh đó, chính phủ còn có thể thực hiện một khoản cho vay u đãi đối với các bạn
hàng nớc ngoài để họ có thể có điều kiện mua các sản phẩm do nớc mình sản xuất
ra và để xuất khẩu ra nớc ngoài. Đây chính là khoản tín dụng "viện trợ" mà chính
phủ các nớc công nghiệp áp dụng khi cho các nớc đang phát triển vay ( thờng kèm
theo các điều kiện chính trị ).
3.6.Kiểm soát ngoại tệ:
Ngoại tệ là phơng tiện thanh toán chủ yếu trong thơng mại quốc tế. Đồng
tiền ngoại tệmột khi biến động thì một trong hai bên ( xuất khẩu hoặc nhập khẩu)
Sẽ bị phơng hại. Do vậy, kiẻm soát ngoại tệ từ lâu đã đợc Nhà nớc sử dụng và trở

nghiệp XNK đều do Nhà nớc thu, các khoản lỗ sẽ đợc Nhà nớc bù. Nguyên tắc
Nhà nớc độc quyền trong việc thực hiện hoạt động xuất khẩu là nguyên tắc bất di
bất dịch trong chính sách thơng mại của Việt Nam thời kỳ này. Điều này đã đợc
hợp pháp hoá trong Điều 21 của Hiến pháp nớc Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt
Nam năm 1992 "Nhà nớc giữ độc quyền ngoại thơng và các quan hệ kinh tế khác
với nớc ngoài".
Thực chất của cơ chế quản lý hoạt động XNK trong giai đoạn này là cơ chế
trao đổi hiện vật, mang tính chất mệnh lệnh hành chính thông qua việc cấp phát và
giao nộp, bỏ qua các quan hệ hàng hoá tiền tệ và các nguyên tắc của chế độ hạch
toán kế toán kinh tế. Các sản phảm của sự vận hành cơ chế này là tình trạng tách
rời xuất khẩu với Nhập khẩu. Nhiều vật t hàng hoá nhập khẩu vừa không đáp ứng
đủ nhu cầu vừa không đúng với yêu cầu của quá trình sản xuất trong nớc. Các
doanh nghệp XNK không có quyền tự chủ trong hoạt động XNK và có xu hớng
trông chờ, ỷ lại Nhà nớc. Điều này cũng đồng nghĩa với việc sản xuất bị "bịt mắt"
và "đóng cửa" trong quan hệ với thị trờng nớc ngoài. Mặt khác, do tỷ giá hối đoái
Nhà nớc quy định quá thấp so với thị trờng tự do làm cho các doanh nghiệp XNK
không đủ vốn để tái tạo nguồn hàng xuất khẩu. Thể chế ngoại thơng đợc xây dựng
trên cơ sở một nền kinh tếa hai thành phần ( kinh tế quốc doanh và kinh tế tập
thể ), nhng cũng chỉ có doanh nghiệp quốc doanh, mà chủ yếu là các tổng công ty
XHK mới đợc quyền XNK. Phạm vi của các quan hệ XNK trong giới hạn chủ yếu
với Liên Xô và các nớc xã hội chủ nghĩa đã "trói buộc", hoạt động thơng mại của
Việt Nam vào thị trờng nhỏ hẹp này ( chỉ chiếm 4% kim ngạch thơng mại toàn thế
giới ), gây tình trạng khan hiếm vật t, hàng hoá tiêu dùng trong nớc và dẫn Việt
Nam tới thế bị động trong ứng xử các quan hệ thơng maị.
Kể từ năm 1980, vấn đề quản lý hoạt động XNK của Việt Nam đã đợc bổ
sung thêm cơ chế mới: Cơ chế tự cân đối, tự trang trải " áp dụng chủ yếu đối với
21
các quan hệ thơng mại của Việt nam với cấc nớc khu vực II ( ngoài xã hội chủ
nghĩa ). Lợi thế của cơ chế bổ sung này là việc tạo điều kiện mở rộng quyền tự
chủ trong hoạt động XNK cho các doanh nghiệp. Các doanh nghiệp tự tạo nguồn

ra bớc ngoặt cơ bản trong việc hoạch định chính sách thơng mại quốc tế thời kỳ
này.
2.1. Thời kỳ 1986 đến năm 1995.
Trong thời kỳ này Việt Nam đã mở rộng quan hệ thơng mại với nhiều quốc
gia và các tổ chức quốc tế, dẫn đến XNK tăng nhanh, cơ cấu kinh tế và cơ cấu
XNK có sự thay đổi đáng kể.
Đặc điểm nổi bật của chính sách ngoại thơng thời kỳ này là: Mở rộng
quyền hoạt động ngoại thơng cho các doanh nghiệp thuộc các thành phần kinh tế
đi đôi với sự quản lý thống nhất của Nhà nớc trong lĩnh vực ngoại thơng bằng
luật pháp và các đòn bẩy kinh tế. Nhà nớc cũng cho phép các đơn vị xuất khẩu đ-
ợc gửi lại một tỷ lệ ngoại tệ lớn hơn trớc đây do xuất khẩu, cho phép các cá nhân
và doanh nghiệp đợc mở tài khoản ngoại tệ ở ngân hàng Nhà nớc, không kể nguồn
gốc ngoại tệ và cho phép các doanh nghiệp vay nợ nớc ngoài. Các doanh nghiệp
22
sản xuất đợc phép tham gia XNK mà không phải thông qua các Tổng công ty
XNK. Quyền cấp giấy phép XNK đợc cấp cho các tỉnh. Xoá bỏ bao cấp và bù lỗ
trong kinh doanh XNK, xoá bỏ tỷ giá kết toán nội bộ.
Đây chính là một bớc phân cấp và nới lỏng quản lý hành chính cho các địa
phơng trong XNK, một sự khởi động có ý nghĩa rất quan trọng cho sự tham gia
của t nhân vào hoạt động XNK cũng nh hệ thống quản lý khu vực này trong XNK,
khiến số lợng các công ty XNK của các tỉnh tăng dần. Trong 2 năm 1986 - 1987,
số lợng các công ty nhập khẩu của các tỉnh tăng từ 6 đến 8 công ty, các công ty
xuất khẩu tăng từ 15 lên 18.
Về các chính sách quản lý, có thể nói thời kỳ này các chính sách quản lý
cũng có những đổi mới rất đáng ghi nhận:
- Chính sách thuế: Trong những năm này thuế áp dụng đối với 30 mặt hàng
xuất khẩu ( mức thế chủ yếu vào khoảng 10% ) và đối với 124 mặt hàng ( có mức
thuế 5 - 10% ) đã đợc áp dụng và lần đầu tiên tạo đợc nguồn thu cho ngân sách.
Đến 1-4-1989, số lợng hàng hoá xuất khẩu phải chịu thuế quan đã giảm từ 30
xuống còn 12. Các mặt hàng phải chịu thuế nhập khẩu cũng đợc phân loại thành

23
XNK thời kỳ này tuy có tăng trởng khá nhng cha tơng xứng với tiềm năng, hoạt
động XNK vẫn có thiên hớng "đặc quyền" cho khu vực kinh tế Nhà nớc, các thủ
tục hành chính rờm rà...
2.2 Thời kỳ 1991 1995.
Thời kỳ này, chính sách và cơ chế quản lý hoạt động XNK tiếp tục đổi mới
với tốc độ cao hơn thời kỳ trớc, nhng vẫn còn nhiều vớng mắc thể hiện tính chất
quá độ.
Các thành phần kinh tế đợc khuyến khích khai thác nguồn lực trong nớc và
các mối quan hệ với nóc ngoài để tham gia XNK. Điều kiện để tham gia XNK đ-
ợc quy định theo Nghị định số 114/HĐBT
(1)
( tháng 4 1992 ). Tuy vậy việc
tham gia vào hoạt động XNK có tính chất chuyên ngành vẫn còn rất hạn chế đối
với khu vực t nhân. Các doanh nghiệp t nhân muốn tham gia vào hoạt động XNK
phải có giấy phép đặc biệt của Chủ tịch Hội đồng Bộ trởng. Điều kiện về số lợng
vốn tối thiểu để tham gia XNK chỉ có lợi cho các công ty lớn. Chủ yếu là các
công ty XNK của Nhà nớc.
Các yêu cầu để tham gia XNK đã đợc cắt giảm đối với doanh nghiệp sản
xuất. Các doanh nghiệp này không còn phải đáp ứng yêu cầu có doanh thu hoặc
vốn lu động tối thiểu nữa để có thể đợc cấp giấy phép XNK. Đòi hỏi chủ yếu là
các doanh nghiệp phải tự sản xuất hàng hoá. Các doanh nghiệp đợc xuất khẩu trực
tiếp sản phẩm và nhập khẩu các nguyên liệu đầu vào cần thiết. Mặc dù vậy trên
thực tế, số doanh nghiệp t nhân đợc cấp giấy phép XNK rất ít ỏi chỉ từ 2 đến 4
doanh nghiệp. Tuy vậy, cũng phải khẳng định đây là một sự cởi trói cơ bản
trong cơ chế quản lý đối với hoạt động XNK, đặc biệt với việc thông qua Hiến
pháp năm 1992, các doanh nghiệp thuộc các thành phần kinh tế khác nhau đơc
tham gia trực tiếp vào hoạt động XNK.
Chính sách thuế thời kỳ 1991-1995 tiếp tục có những cải biến tích cực.
Luật thuế XNK đợc thông qua ngày 26/12/1991 đã tạo một bớc ngoặt trong quản

thả nổi có quản lý của Việt Nam cho phép kết hợp đợc những điều tiết của thị tr-
ờng và việc điều tiết của Chính phủ theo chính sách tỷ giá mục tiêu. Tuy vậy, cha
có chính sách tiền tệ mạnh mẽ nên việc sử dụng tỷ giá hối đoái này để khuyến
khích tăng trởng cha đợc thực hiện hữu hiệu. Nạn đô la hoá đã làm hạn chế tác
động của chính sách tiền tệ và còn gây biến động có tính chất hành chính trong
các quan hệ XNK.
Đối với chính sách hạn ngạch, khoảng thời gian này, việc quản lý XNK có
nội dung là giảm tối đa các mặt hàng XNK bằng hạn ngạch. Tăng các mặt hàng
cấm xuất khẩu, cấm nhập khẩu nh cấm xuất khẩu gỗ và xoá bỏ một bớc kế hoạch
cứng, thực hiện chế độ quản lý hàng hoá XNK theo định lợng. Việc cấp hạn
ngạch và giấy phép XNK hàng hoá đợc thực hiện theo Quyết định số 725/TN-
XNK ngày 28/9/1990 của Bộ trởng Bộ thơng nghiệp. Trong trờng hợp giấy phép
kinh doanh XNK hết hạn các đơn vị có thể làm đơn xin gia hạn, doanh nghiệp có
thể làm đơn xin bổ sung giấy phép kinh doanh XNK nếu cần thiết. Ngày
7/4/1992, Hội đồng Bộ trởng ban hành Nghị định số114/NĐ-HĐBT đã mở rộng
đến tất cả các doanh nghiệp sản xuất thuộc mọi thành phần kinh tế, không phân
biệt quy mô sản xuất đều đợc xuất khẩu các sản phẩm do mình sản xuất ra và đợc
nhập nguyên vật liệu phục vụ quá trình sản xuất của mình. Còn các doanh nghiệp
kinh doanh thuần tuý, nếu có đủ vốn lu động từ 200.000USD trở lên và lãnh đạo
doanh nghiệp đáp ứng tiêu chuẩn quy định cũng đợc quyền XNK hàng hoá. Đây
là sự khẳng định lại đờng lối đổi mới chính sách quản lý XNK của Nhà nớc ta,
cùng với đó là Quyết định số 166/CT của Hội đồng Bộ trởng về danh mục và số l-
ợng hàng hoá XNK bằng hạn ngạch, Quyết định số 294/TMDL/XNK của Bộ th-
ơng mại và Du lịch về danh mục hàng cấm xuất khẩu và cấm nhập khẩu
Tóm lại, thời kỳ này, cơ chế quản lý hoạt động XNK tuy vẫn còn mang tính
mệnh lệnh hành chính, tính kế hoạch hoá vẫn còn mang hơi hớng, nhng các
chính sách quản lý đã có những bớc chuyển biến tích cực, mang tính đột phá
tạo diều kiện cho hoạt động XNK phát triển mạnh mẽ. Việt Nam tích cực chuẩn
bị gia nhập các tổ chức thơng mại khu vực và thế giới.
2.3. Thời kỳ 1996-2000.


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status