BỘ NÔNG NGHIỆP CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
VÀ PHÁT TRIỂN NÔNG THÔN Độc lập - Tự do - Hạnh phúc
VIỆN NGHIÊN CỨU HẢI SẢN
Số: /BC-VHS Hải Phòng, ngày 25 tháng 02 năm 2014
BÁO CÁO PHỤC VỤ KHẢO SÁT CỦA THÀNH UỶ HẢI PHÒNG
VỀ TỔNG KẾT 30 NĂM ĐỔI MỚI
Thực hiện công văn số 1128-CV/TU ngày 21/02/2014 của Thành ủy Hải Phòng về
việc khảo sát tổng kết 30 năm đổi mới theo kế hoạch số 68-KH/TU ngày 18-12-2013 của
Ban Thường vụ Thành ủy Hải Phòng về tổng kết “Phát triển nền kinh tế thị trường định
hướng xã hội chủ nghĩa” qua 30 năm đổi mới. Viện Nghiên cứu Hải sản báo cáo với những
nội dung như sau:
I. GIỚI THIỆU CHUNG VỀ VIỆN
1. Lịch sử hình thành và phát triển
Được thành lập vào năm 1961 với tên ban đầu Trạm Nghiên cứu Cá biển thuộc Vụ
Ngư nghiệp, Bộ Nông Lâm. Năm 1975, Chính phủ quyết định Trạm trở thành Viện Nghiên
cứu Hải sản thuộc Tổng cục Thuỷ sản; trực thuộc Bộ Hải sản từ 1976-1979, Bộ Thủy sản từ
1980-tháng7/2007; Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn từ tháng 8/2007 đến nay.
Từ khi thành lập đến nay Viện luôn hoàn thành tốt nhiệm vụ mà cấp trên giao cho, các
nghiên cứu phục vụ đắc lực cho công tác quản lý, sản xuất của ngành; Viện không ngừng
phát triển về mọi mặt; từ chỉ có 3-4 đơn vị trực thuộc đến nay Viện đã có 12 đơn vị; trong
đó 03 đơn vị nghiệp vụ, 09 đơn vị nghiên cứu (05 phòng, 03 trung tâm và 01 phân Viện
NCHS phía Nam) từ Bắc đến Nam. Viện có trụ sở chính tại Hải Phòng, 01 Phân viện NCHS
phía nam tại Vũng Tàu, 01 Trung tâm nghiên cứu tại Cát bà, 01 cơ sở thực nghiệm tại Hải
Thành, quận Dương kinh, 01 Trung tâm nghiên cứu sản xuất nuôi biển tại Bạch Long Vĩ.
Tập thể và cá nhân Viện NCHS đã nhận được tặng Giải thưởng Hồ Chí Minh, giải
thưởng cấp nhà nước, Huân chương hạng Nhất, bằng khen của Thủ tướng Chính phủ, Các
Bộ, thành phố Hải Phòng và các tỉnh khác; hàng chục cán bộ của Viện đã trở thành cán bộ
nòng cốt cho Bộ Thủy sản (trước đây), Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn (hiện nay)
và Tổng cục Thủy sản; Đảng bộ Viện Nghiên cứu Hải sản đạt trong sạch vững mạnh liên
tục trong 22 năm qua.
2. Chức năng, nhiệm vụ
a. Đào tạo và cung cấp nguồn cán bộ cho cơ quan cấp trên
Trong 10 năm có hơn 20 cán bộ của Viện đã được Bộ Thủy sản, Bộ NN&PTNT điều
động lên công tác tại Bộ, Tổng cục Thủy sản; trong số này rất nhiều người đảm đương các
trọng trách quan trọng trong cơ cấu lãnh đạo Bộ, Cục, Vụ.
b. Đào tạo sau đại học tại Viện cho cán bộ của TP Hải Phòng và các tỉnh phía Bắc
Viện NCHS là đơn vị duy nhất của Bộ NN&PTNT được Bộ Giáo dục Đào tạo cho
phép đào tạo Tiến sỹ cho ngành Thủy sản. Trong thời gian qua Viện đã đào tạo 16 Tiến sỹ;
hiện nay đang có 12 nghiên cứu sinh. Từ năm 2005,Viện đã phối hợp với Trường Đại học
Nha Trang đào tạo 56 thạc sỹ thủy sản (ngành khai thác, sau thu hoạch, nuôi trồng ) cho
Hải Phòng và các tỉnh phía Bắc; hiện nay có 22 học viên cao học đang học tại Viện.
Riêng Thành phố Hải Phòng đã có 12 người tốt nghiệp thạc sỹ và đang đảm đương
các chức vụ tại Sở NN&PTNT Hải Phòng và các đơn vị trực thuộc Sở (Chi cục Khai thác và
Bảo vệ nguồn lợi, Trung tâm Khuyến nông…).
c. Đào tạo sau đại học tại nước ngoài: Viện đã cử cán bộ sang các nước tiên tiến, có nghề
cá phát triển như Đan mạch, Bỉ, Newzeland, Na Uy, Nhật Bản, Hàn Quốc, Úc… để học tập,
nâng cao trình độ: đã có 12 người tốt nghiệp tiến sỹ, thạc sỹ. Hiện nay đang có 04 người
làm nghiên cứu sinh và cao học. Trong giai đoạn tới, Viện dự kiến cử 15-20 người đào tạo
tại nước ngoài để phát triển nguồn nhân lực chất lượng cao của Viện.
d. Đào tạo sau đại học trong nước: Viện đã cử nhiều nhiều người làm NCS, học cao học
tại các Trường Đại học Quốc Gia Hà Nội, Đại học Bách Khoa Hà Nội, Đại học Nha Trang
Hạn chế: Hiện tại, đội ngũ Tiến sỹ còn thiếu về số lượng và sẽ được khắc phục từng
bước từ năm 2015.
2.2 Thành tựu Khoa học công nghệ
2.2.1 Thành tựu chung
- Nguồn lợi Hải sản: Từ năm 2000 đến nay, công tác điều tra nguồn lợi đã được chú trọng
cả về chất và về lượng, gắn liền với sự phát triển ngành thủy sản. Các nghiên cứu tập trung
vào các mục tiêu: (1) đánh giá trữ lượng nguồn lợi, đặc biệt là ở vùng biển xa bờ phục vụ
công tác quản lý; (2) nghiên cứu dự báo ngư trường khai thác phục vụ sản xuất; và (3)
nghiên cứu các cơ sở khoa học để bảo tồn và phát triển nguồn lợi. Các nghiên cứu đã bao
phủ hầu hết các nhóm đối tượng nguồn lợi hải sản và các vùng biển thuộc đặc quyền kinh tế
cá ngừ đại dương; Bổ sung hoàn hiện bộ át lát ngư cụ khai thác hải sản; Điều tra thực trạng
và giải pháp đăng ký, đăng kiểm và quản lý tàu cá Việt Nam; Nghiên cứu ngư trường và
công nghệ khai thác cá ngừ đại dương giống phục vụ nuôi thương phẩm; Nghiên cứu cơ sở
khoa học phục vụ cho việc điều chỉnh cơ cấu đội tàu và nghề nghiệp khai thác hải sản;
Nghiên cứu cải tiến, ứng dụng nghề lưới rê hỗn hợp; Đánh giá tình hình sử dụng nguồn sáng
trong nghề chụp mực ở vùng biển vịnh Bắc Bộ và đề xuất các giải pháp sử dụng hợp lý
nguồn sáng; Nghiên cứu sử dụng ánh sáng đèn màu, đèn ngầm cho nghề lưới vây và chụp
mực ở vùng biển xa bờ miền Trung; Nghiên cứu cải tiến lưới vây mạn sang lưới vây đuôi;
Nghiên cứu xây dựng mô hình dịch vụ hậu cần cho nghề khai thác hải sản xa bờ ở vùng
biển miền Trung”; Nghiên cứu các giải pháp nâng cao chất lượng cá ngừ đại dương; Xây
dựng một số định mức kinh tế - kỹ thuật và TCVN về khai thác hải sản. Các kết quả nghiên
cứu đã góp phần nâng cao hiệu quả sản xuất cho ngành cũng như giúp cho các nhà quản lý
hoạch định các chính sách quản lý và phát triển nghề một cách hợp lý.
- Công nghệ bảo quản sau thu hoạch: Các nghiên cứu của Viện về công nghệ bảo quản
lạnh bằng nước đá, Phơi khô, ướp muối, bảo quản sống các loài có giá trị cao (tôm hùm, cá
song…); xử lý bảo quản trên tàu khai thác xa bờ đối với các loài thủy sản có giá trị kinh tế:
tôm, mực, cá ngừ, cá thu…; cải tiền hầm bảo quản; đã góp phần nâng cao chất lượng thủy
sản để phục vụ tiêu dùng hoặc làm nguyên liệu cho chế biến thủy sản.
- Công nghệ chế biến thủy sản: Đã có nhiều nghiên cứu chế biến các sản phẩm giá trị gia
tăng như: agar, surimi, đồ hộp tôm cua, các sản phẩm từ mực xà, cá chép xông khói, sứa
3
miến trong bao bì nhỏ…; Công nghệ chế biến các sản phẩm từ phế liệu thủy sản như: canxi
cacbonat từ vỏ hàu, chondroitin từ xương sụn cá nhám, cá đuối, glucosamin từ vỏ tôm cua,
TTX từ cá nóc…để ứng dụng trong Y, Dược; đã xây dựng 11 Quy chuẩn kỹ thuật quốc gia
(QCVN) về quản lý chất lượng vệ sinh an toàn thực phẩm. Đây là những QCVN cơ bản
nhất của ngành chế biến thủy sản Việt Nam. Các nghiên cứu đã góp phần đa dạng hóa sản
phẩm GTGT, ứng dụng vào sản xuất và phục vụ công tác quản lý ngành chế biến thủy sản.
Đào tạo, tư vấn, hướng dẫn và hỗ trợ các doanh nghiệp chế biến thuỷ sản trên phạm vi cả nước về
các hoạt động quản lý, bảo vệ môi trường; hướng dẫn và chuyển giao kỹ thuật, công nghệ xử lý ô
nhiễm, áp dụng sản xuất sạch hơn và áp dụng Hệ thống quản lý môi trường tiên tiến, theo tiêu
tăng như Công nghệ sản xuất agar chất lượng cao áp dụng tại công ty TNHH Dịch vụ
thương mại Duy Mai; công nghệ sản xuất dịch đạm thủy phân giàu acid amin từ moi bằng
enzyme protease, được ứng dụng phối trộn khi sản xuất sản phẩm ăn liền như bim bim
(snack), mì, miến, bún, hạt nêm. Công nghệ sản xuất thức ăn nuôi ba ba từ con giống đến
thương phẩn ứng dụng tại trại nuôi Tiên Lãng
- Công nghệ sản xuất giống và nuôi biển: Nhiều công nghệ sản xuất giống và nuôi các đối
tượng hải sản kinh tế đã được áp dụng sản xuất tại HP như: cá song, cá giò, cá bớp, cá hồng
mỹ, bào ngư, tu hài, , tôm rảo, tôm he Nhật bản, cua lồng ngoài ra xây dựng được các
quy trình công nghệ nuôi thâm canh bằng thức ăn công nghiệp đạt năng suất cao như: Quy
trình nuôi cá bớp bằng thức ăn công nghiệp năng suất suất 6 tấn/ha/vụ, cá đối mục đạt năng
4
suất 6,5 tấn/ha, Ba ba Đặc biệt đã nhân giống thành công loài bào ngư chín lỗ và chuyển
giao kỹ thuật cho Tổng đội thanh niên xung phong và người dân huyện đảo Bạch Long Vĩ.
2.3 Thực trạng quản lý, khai thác tài nguyên biển
2.3.1 Thực trạng ở Việt Nam
2.3.1.1 Tài nguyên và môi trường biển
- Về nguồn lợi hải sản: Nguồn lợi hải sản ở biển Việt Nam có chiều hướng suy giảm cả về
số lượng và chất lượng, đặc biệt là ở vùng ven bờ. Kết quả điều tra trong giai đoạn 2011-
2013 của Viện Nghiên cứu Hải sản đã cho thấy:
+ Các chuyến điều tra giai đoạn 2011-2013 đã xác định được 911 loài hải sản thuộc
462 giống nằm trong 191 họ. Trong đó, nhóm cá đáy có số loài phong phú nhất (351 loài),
sau đó đến cá rạn (244 loài) và cá nổi (168 loài).
+ Trữ lượng nguồn lợi hải sản biển Việt Nam giai đoạn 2011-2013 ước tính trung bình
khoảng 4,25 triệu tấn. Trong đó, trữ lượng cá nổi nhỏ khoảng 2,65 triệu tấn (chiếm 62,4%);
hải sản tầng đáy khoảng 487 ngàn tấn (chiếm 11,5%); giáp xác 79 ngàn tấn (chiếm 1,9%);
cá rạn san hô (2,6 ngàn tấn, chiếm 0,1%); cá nổi lớn (1,03 triệu tấn, chiếm 22,9%). Trữ
lượng nguồn lợi hải sản ở vùng bờ ước tính khoảng 541 ngàn tấn (chiếm 12,7%); vùng lộng
khoảng 802 ngàn tấn (chiếm 18,9%); và vùng khơi khoảng 2.906 ngàn tấn (chiếm 68,4%).
Nguồn lợi có chiều hướng suy giảm so với giai đoạn 2000-2005.
+ Khả năng khai thác ước tính khoảng 1,75 triệu tấn. Trong đó, khả năng khai thác của
5
mùa vụ, khoanh vùng bảo vệ vẫn còn chưa được triển khai. Công tác tái tạo nguồn lợi còn
nhiều hạn chế.
- Thực trạng khai thác: Trong giai đoạn từ năm 2002 đến năm 2011 số lượng tàu thuyền
khai thác hải sản trong cả nước liên tục tăng từ 79.996 chiếc (2002) lên đến 128.363 chiếc
(2011), ở vùng biển vịnh Bắc Bộ trung bình mỗi năm tăng khoảng 10,0%, miền Trung tăng
khoảng 3,4% , Đông Nam Bộ tăng khoảng 6,5% và Tây Nam Bộ tăng khoảng 5,0%. Tàu
thuyền nước ta chủ yếu vẫn là tàu công suất nhỏ, khai thác ở vùng biển ven bờ, số lượng tàu
có công suất <90cv chiếm trên 85%. Các nghề khai thác mang tính chất hủy diệt như: te,
xiệp, đăng đáy, lưới kéo,… vẫn tồn tại, cơ cấu nghề nghiệp chưa được quy hoạch hợp lý, sự
cạnh tranh ngư trường giữa các tàu khai thác hải sản vẫn diễn ra…. Công nghệ khai thác
nhìn chung còn lạc hậu và chủ yếu chế tạo theo kinh nghiệm của ngư dân.
- Thực trạng bảo quản sau thu hoạch: Công nghệ bảo quản sau thu hoạch còn khá thô sơ
(chủ yếu bảo quản bằng nước đá, phơi khô, ướp muối); chưa phù hợp với hoạt động khai
thác dài ngày trên biển. Vì vậy, thất thoát sau thu hoạch vẫn còn cao (từ 20 - 30%), chủ yếu
về chất lượng; điều này làm giảm đáng kể hiệu quả đi biển của ngư dân. Nguyên nhân dẫn
đến tình trạng này chủ yếu là do tàu nhỏ, không thể trang bị hệ thống đông lạnh; lý do nữa
là do ngư dân nghèo, thiếu vốn đầu tư. Về phía nhà nước còn thiếu các nghiên cứu cơ bản
và thiếu các chuyển giao công nghệ về bảo quản sau thu hoạch cho ngư dân. Quản lý chất
lượng Thủy sản sau thu hoạch còn nhiều bất cập.
- Thực trạng Công nghệ chế biến thủy sản: Trình độ công nghệ không đồng đều trên cả
nước, nguyên nhân chủ yếu là do điều kiện về nguồn cung cấp nguyên liệu. Dẫn đầu về
công nghệ CBTS là các DN thuộc miền Nam; tiếp theo là miền Trung (từ Đà Nẵng- Bình
Thuận); miền Bắc do thiếu nguyên liệu, nên các doanh nghiệp khó có điều kiện phát triển
sản xuất, dẫn đến việc đầu tư đổi mới công nghệ, thiết bị cũng gặp khó khăn.
- Quản lý nghề cá: Đã có chuyển biến rõ rệt từng bước thúc đẩy và phát triển nghề cá theo
định hướng chung của Nhà nước. Tuy nhiên, do đặc thù của ngành mà công tác quản lý
nghề cá vẫn còn nhiều bất cập thể hiện từ hệ thống văn bản pháp quy đến phương thức điều
hành, quản lý các hoạt động nghề cá. Cụ thể như Luật Thủy sản ra đời và có hiệu lực từ năm
2003 nhưng có khá nhiều bất cập và hiện tại đang phải điều chỉnh; Các văn bản dưới luật
tình trạng này là yếu kém trong công tác quy hoạch và quản lý quy hoạch phát triển các
cảng cá, bến cá, khu neo đậu tránh trú bão.
- Hợp tác quốc tế: trong lĩnh vực quản lý và khai thác tài nguyên biển và nghề cá, VN đã
tham gia nhiều công ước quốc tế như công ước luật biển, CITES, ULSFA
2.3.2. Một số vấn đề quản lý, khai thác tài nguyên và môi trường biển ở Hải Phòng
2.3.2.1. Tài nguyên, môi trường biển Hải Phòng
- Về nguồn lợi hải sản: Vùng biển Hải Phòng thuộc vùng biển vịnh Bắc Bộ, là ngư trường
chính của các đội tàu khai thác của Hải Phòng. Kết quả điều tra của Viện Nghiên cứu Hải
sản giai đoạn 2011-2013 đã cho thấy: Nhìn chung, nguồn lợi có chiều hướng giảm sút, đặc
biệt là chất lượng nguồn lợi so với giai đoạn 2000-2005. Số lượng tàu thuyền tăng nhanh
cùng với việc quản lý chưa tốt đã dẫn đến sự suy giảm nghiêm trọng nguồn lợi cả về chất và
lượng. Hàng loạt các loài hải đặc sản có nguy cơ biến mất, các loài cá tạp chất lượng thấp
đang dần chiếm ưu thế trong sản lượng khai thác.
+ Các họ chiếm ưu thế trong sản lượng khai thác bao gồm: họ cá khế, cá tráp, cá sơn
sáng, cá liệt, mực ống, cá lượng, cá mối và cá đù. Các loài chiếm tỉ lệ cao trong sản lượng
khai thác gồm cá nục sồ, cá bánh đường, cá sơn sáng, cá sòng nhật và mực ống Trung Hoa.
+ Trữ lượng tức thời nguồn lợi hải sản ở vùng biển vịnh Bắc Bộ ước tính trung bình
khoảng 750 ngàn tấn. Trong đó, trữ lượng trung bình của cá nổi nhỏ chiếm 83,5%; cá đáy
và hải sản tầng đáy chiếm 16,4%.
+ Vùng biển Hải Phòng nằm trong khu vực bãi đẻ, bãi ương nuôi tự nhiên của các
nhóm loài hải sản ở vùng ven bờ từ Hải Phòng tới Nam Định, trọng điểm ở khu vực Long
Châu - Cửa Ba Lạt.
+ Vùng biển Hải Phòng là một trong những khu vực có mật độ phân bố của các loài
hải sản khá cao so với các khu vực khác ở vùng biển vịnh Bắc Bộ. Các ngư trường khai thác
chính ở vùng biển Hải Phòng và các vùng lân cận là:
Ngư trường Bạch Long Vĩ: Đây là ngư trường khai thác truyền thống của nghề lưới
kéo đáy. Năng suất khai thác cao tập trung chủ yếu ở vùng biển phía Đông và Đông Bắc đảo
Bạch Long Vỹ, độ sâu ngư trường từ 30-50m. Các loài chiếm sản lượng cao trong sản lượng
khai thác ở ngư trường Bạch Long Vĩ là: cá miễn sành hai gai, cá nục sồ, cá mối, cá lượng,
cá phèn khoai, ngoài ra các loài cá hồng, cá trác, cá bạc má cũng là những đối tượng thường
nghề nuôi trồng thuỷ sản, đẩy nghề nuôi trồng thuỷ sản Hải Phòng vào thế khó khăn. Sự gia
tăng dinh dưỡng và ô nhiễm môi trường cũng phá huỷ phần lớn khu hệ sinh vật đáy.
Sự gia tăng dinh dưỡng và ô nhiễm môi trường cũng gây ra sự huỷ diệt đối với khu hệ
sinh vật đáy. Lắng đọng trầm tích và gia tăng của thực vật phù du dẫn đến tình trạng cản trở
chiếu sáng tới nền đáy, khiến độ phủ san hô và khu hệ động vật đáy suy giảm mạnh.
2.3.2.2. Quản lý, khai thác tài nguyên và môi trường biển Hải Phòng
- Thực trạng khai thác: Cũng tương tự như xu hướng phát triển nghề khai thác hải sản trên
cả nước, số lượng tàu thuyền khai thác hải sản của Hải Phòng cũng liên tục tăng từ 2.902
chiếc (2004) lên đến 3.834 chiếc (2011); số lượng tàu thuyền <90 cv khai thác ven bờ lại có
xu hướng tăng mạnh (năm 2004, tỷ lệ tàu thuyền có công suất máy < 90 cv chiếm 86,73%
trong tổng số tàu thuyền, năm 2012 tỷ lệ này chiếm 93,32% ). Như vậy, áp lực khai thác tại
các vùng nước ven bờ của Hải Phòng có xu hướng tăng lên trong khi nguồn lợi hải sản ở
vùng này đã có dấu hiệu cạn kiệt. Cạnh đó, các nghề khai thác mang tính chất hủy diệt như:
te, xiệp, đăng đáy, lưới kéo,… vẫn tồn tại, cơ cấu nghề nghiệp chưa được quy hoạch hợp lý,
sự cạnh tranh ngư trường giữa các tàu khai thác hải sản vẫn diễn ra…. Công nghệ khai thác
nhìn chung còn lạc hậu và chủ yếu chế tạo theo kinh nghiệm của ngư dân.
- Đội tàu khai thác xa bờ của HP, tiêu biểu là đội tàu chụp mực ở Thuỷ Nguyên suy
giảm do nguồn lợi suy giảm và chất lượng bảo quản sau thu hoạch kém vì thiếu thiết bị và
công nghệ bảo quản phù hợp.
Những năm gần đây, cơ cấu nghề khai thác hải sản của Hải Phòng có những thay đổi
rõ rệt. Các họ nghề cố định, vó mành, te ngày càng có xu hướng tăng dần. Nghề chụp mực
kết hợp với ánh sáng phát triển nhanh trong giai đoạn 2000-2006 và hoạt động khai thác
quanh năm.
Nghề lưới kéo: Đội tàu làm nghề lưới kéo khai thác hải sản ở Hải Phòng chủ yếu là đội
tàu lưới kéo đơn, sử dụng tàu có công suất nhỏ hơn CV khai thác tập trung ở vùng nước ven
bờ. Tuy vậy nghề này đòi hỏi chi phí đầu tư cho hoạt động sản xuất lớn, với giá nhiên liệu
cao như hiện nay, hiệu quả sản xuất của nghề này giảm.
Nghề câu khơi: chủ yếu là nghề câu rạn, đối tượng đánh bắt chủ yếu là các loài có giá
trị kinh tế cao. Tuy nhiên những năm gần đây do diện tích rạn san hô suy giảm dẫn đến
nguồn lợi cá bị suy giảm nghiêm trọng do vậy nghề này ít có cơ hội phát triển.
2.4 Những thách thức đối với phát triển ngành thủy sản của Hải Phòng và một số giải
pháp chủ yếu
2.4.1. Những thách thức
Tóm lại, nghề cá Việt Nam nói chung và của Hải Phòng nói riêng đang gặp những
thách thức sau:
- Nguồn lợi hải sản suy giảm mạnh, cả về lượng và chất, với cường độ năm sau
nghiêm trọng hơn năm trước.
- Cường lực khai thác vượt mức cho phép; nghề cá nhỏ lẻ và tập trung ở ven bờ, thiếu
mô hình khai thác hiệu quả và bền vững.
- Môi trường biển suy thoái nhanh và diễn biến phức tạp, đang tác động ngày càng
mạnh tới đa dạng sinh học biển và nuôi trồng thuỷ sản.
- Chưa có biện pháp quyết liệt trong công tác bảo vệ và phát triển nguồn lợi hải sản.
- Công nghệ khai thác vẫn còn lạc hậu và chủ yếu dựa vào kinh nghiệm của ngư dân.
- Công nghệ bảo quản sau thu hoạch còn thô sơ, tỷ lệ thất thoát sau thu hoạch cao.
2.4.2. Một số giải pháp chủ yếu
3. Các giải pháp
3.1 Đối với Trung ương
-Đẩy mạnh thực hiện đề án mạnh tái cơ cấu ngành thuỷ sản cho cả nước nói chung và
Hải Phòng nói riêng theo hướng nâng cao giá trị gia tăng và phát triển bền vững
9
-Từng bước hiện đại hoá đội tàu khai thác xa bờ, bao gồm công nghệ khai thác và bảo
quản sau thu hoạch.
- Xây dựng các mô hình chuyển đổi cơ cấu nghề nghiệp cho các nghề khai thác ven bờ
phù hợp; Xây dựng các mô hình tổ chức sản xuất cho đội tàu khai thác hải sản xa bờ ở Hải
Phòng; Ứng dụng các công nghệ khai thác mới, tiên tiến, thân thiện với môi trường cho các
nghề khai thác hải sản xa bờ ở Hải Phòng; Có cơ chế, chính sách cho ngư dân khai thác hải
sản ven bờ chuyển đổi cơ cấu nghề nghiệp.
3.2 Đối với Hải Phòng
Hải Phòng là một trong những địa phương có nhiều lợi thế trong phát triển kinh tế biển
so với các tỉnh, thành phố trong vùng duyên hải Bắc Bộ. Để quản lý, khai thác có hiệu quả
Cát Bà nhằm bảo tồn tính đa dạng sinh học đồng thời bảo vệ các loài hải sản có nguy cơ
tuyệt chúng. Tăng cường nâng cao năng lực cán bộ chi cục nhằm hoàn thành tốt nhiệm vụ
quản lý và bảo vệ nguồn lợi.
+ Giải pháp về nguyên liệu là duy trì nguồn nguyên liệu thủy sản hiện có (khai thác từ
biển, thu hoạch từ nuôi trồng), tiếp tục nhập khẩu nguyên liệu từ các nước (Hàn Quốc, Nhật
Bản, Ấn Độ, Đài Loan….) từ 15.000-20.000 tấn/năm, chú trọng nguồn nguyên liệu sứa biển
tại ven biển Vịnh Bắc bộ là 926.250 tấn, khả năng khai thác 648.400 tấn, nguyên liệu từ
ngao, hầu.
10
+ Giải pháp về nguồn vốn đầu tư tận dụng triệt để nguồn vốn từ ngân sách Trung ương
theo Quyết định số 2310/QĐ-BNN-CB ngày 04/10/2011 của Bộ NN&PTNT (ví dụ: giai
đoạn 2016-2020 nhà nước đầu tư 40 tỷ đồng xây chợ đầu mối thủy sản tại Hải Phòng
…… ). Huy động vốn tối đa từ tổ chức/cá nhân, coi trọng vốn từ các “đại gia” thủy sản
trong nước từ các tỉnh khác để tăng liên kết vùng, miền.
+ Giải pháp về thị trường, đổi mới hoạt động xúc tiếp thương mại, đa dạng hóa hình
thức tiếp cận thị trường và giới thiệu sản phẩm, chuyển hướng từ xuất khẩu trực tiếp từ các
nhà nhập khẩu sang xuất khẩu trực tiếp hệ thống phân phối, chuỗi siêu thị. Phát triển thị
trường trong nước, tổ chức hệ thống buôn bán, nhất là tại Hà Nội và các tỉnh/tp phía Bắc.
- Giải pháp về đào tạo nguồn nhân lực, chú trọng đào tạo đội ngũ lao động chế biến
thủy sản với các lớp ngắn hạn, phù hợp với sản phẩm của cơ sở chế biến; nâng cao trình độ
chuyên môn nghiệp vụ cho cán bộ quản lý, cán bộ kỹ thuật tại Hải Phòng
- Giải pháp bảo vệ môi trường, đầu tư nâng cấp hệ thống xử lý chất thải (nước thải, khí
thải) phù hợp loại hình chế biến, khuyến khích các cơ sở áp dụng sản xuất sạch hơn, giảm
thiểu chất thải, tiết kiệm nguyên vật liệu, năng lượng và xử lý hiệu quả các nguồn gây ô
nhiếm.
2.6. Một số kiến nghị, đề xuất đối với Hải Phòng
- Có chương trình hành động cụ thể hóa Đề án tái cơ cấu ngành thủy sản do Bộ NN&PTNT
phê duyệt:
+ Xây dựng đề án tổ chức tái cơ cấu nghề nghiệp, đối tượng khai thác, mùa vụ khai
thác. Từng bước hiện đại hoá đội tàu khai thác xa bờ, bao gồm cả công nghệ khai thác và
nuôi biển hở để giảm tải môi trường cho vùng vịnh kín.
- Đầu tư cơ sở hạ tầng và chính sách phát triển các khu trung tâm công nghệ cao: trung tâm
CN sinh học…
- Đẩy mạnh cổ phần hóa các DN thủy sản Hải Phòng.
- Gắn kết và tận dụng hiệu quả vai trò các cơ quan nghiên cứu, quản lý và sản xuất trung
ương đặt tại Hải Phòng như (RIA1, RIMF, IMER, NAFIQUAD, Tổng Công Ty XNKTS
Việt Nam ) tạo nguồn lực cho phát triển kinh tế biển ở Hải Phòng.
- Gắn phát triển du lịch với thuỷ sản, ví dụ thành lập bảo tàng phục vụ du lịch biển tại Cát
Bà
- Thực hiện hiệu quả quy hoạch không gian biển, phát triển kinh tế biển gắn với bảo vệ môi
trường, bảo vệ tài nguyên và hệ sinh thái biển và bảo vệ chủ quyền quốc gia.
- Nghiên cứu các mô hình quản lý nghề cá phù hợp với điều kiện Hải Phòng.
Nơi nhận:
- Đoàn công tác Thành ủy (Báo cáo);
- Lãnh đạo và Đảng ủy Viện;
- Chủ tịch HĐKH&ĐT;
- Các đơn vị;
- Lưu VP, KHKH.
VIỆN TRƯỞNG
Nguyễn Quang Hùng
12
Phụ lục 1
NHIỆM VỤ CHÍNH CỦA VIỆN NGHIÊN CỨU HẢI SẢN
(1) Xây dựng và trình Bộ chiến lược, các chương trình, dự án, qui hoạch, kế hoạch dài hạn,
năm năm, hàng năm về khoa học và công nghệ nghề cá biển, tổ chức thực hiện sau khi được Bộ phê
duyệt;
(2) Nghiên cứu nguồn lợi hải sản, quy luật biến động nguồn lợi và sinh học nghề cá; điều tra,
đánh giá trữ lượng và khả năng khai thác bền vững nguồn lợi hải sản; xây dựng các bản đồ về
nguồn lợi hải sản và dự báo ngư trường;
(3) Quan trắc, cảnh báo môi trường và dịch bệnh hải sản; nghiên cứu mối quan hệ giữa môi
nghề cá biển;
(15) Hợp tác quốc tế trong lĩnh vực nghề cá biển theo quy định của pháp luật và phân cấp của Bộ;
(16) Quản lý, sử dụng có hiệu quả nguồn nhân lực, kinh phí, tài sản được giao theo quy định
của pháp luật;
(17) Thực hiện các nhiệm vụ khác do Bộ trưởng Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn giao.
Phụ lục 2
13
CÁC NHIỆM VỤ KHOA HỌC CÔNG NGHỆ THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG GIAO CHO
VIỆN NCHS THỰC HIỆN GIAI ĐOẠN 2008 - 2014
1. Ứng dụng công nghệ sinh sản nhân tạo bào ngư chín lỗ (Haliotis diversicolor), thử nghiệm
và đề xuất hình thức nuôi thương phẩm phù hợp tại đảo Bạch Long Vĩ, Hải Phòng (2008 –
2010)
- Hoàn thiện quy trình công nghệ sinh sản nhân tạo loài bào ngư chín lỗ ổn định và đạt tỷ lệ
sống >5%.
- Đề xuất các biện pháp kỹ thuật, loại hình nuôi bào ngư chín lỗ thương phẩm đạt tỷ lệ sống
30% tại đảo Bạch Long Vỹ, Hải Phòng.
2. Nghiên cứu xây dựng quy trình nuôi cá bớp thương phẩm đạt năng suất 5tấn/ha bằng thức
ăn công nghiệp ở vùng nước lợ Hải Phòng (2010 – 2012)
- Xây dựng được quy trình nuôi cá bớp thương phẩm bằng thức ăn công nghiệp đạt năng suất
6 tấn/ha/vụ ở vùng nước lợ Hải Phòng.
- Khả năng ứng dụng kết quả nghiên cứu vào thực tế: Trên cơ sở xây dựng được quy trình
nuôi cá bớp thương phẩm bằng thức ăn công nghiệp, Trung tâm Phát triển Nghề cá và Đa dạng Sinh
học Vịnh Bắc Bộ - Viện Nghiên cứu Hải sẽ hoàn thiện quy trình cho phù hợp với điều kiện sản xuất
của từng địa phương và từng bước chuyển giao công nghệ này cho các đơn vị nuôi trồng thủy sản
của các quận, huyện trong và ngoài tỉnh.
3. Nghiên cứu nguy cơ bùng phát và đề xuất giải pháp phòng , tránh, giảm thiểu tác hại của
thủy triều đỏ tại khu vực ven biển Hải Phòng (2011 – 2012)
- Ghi nhận 5 lần bùng phát thủy triều đỏ trong giai đoạn tháng 7/2011-8/2012 tại khu vực Cát
Bà. Tần suất thủy triều đỏ đã gia tăng nhanh chóng, trùng khớp với sự gia tăng của mật độ phù du
tại khu vực mà nguyên nhân là do sự gia tăng liên tục cảu hàm lượng dinh dưỡng tại khu vực này.
nuôi thương phẩm cho thấy ba ba nuôi bằng thức ăn công nghiệp so với nuôi ba ba bằng cá tạp đạt
năng suất cao hơn từ 1,09 đến 1,20 lần; lợi nhuận thu được cao gấp 1,3 đến 1,8 lần. Kết quả này là
cơ sở nhân rộng mô hình nuôi ba ba bằng thức ăn công nghiệp cho các hộ dân.
6. Nghiên cứu xây dựng quy trình công nghệ sản xuất dịch đạm thủy phân giàu acid amin từ
con moi (con ruốc, tép biển) bằng enzyme protease (2011 – 2012) Hiền
- Đề tài đã lựa chọn được enzyme Alcalase thương phẩm phù hợp cho thủy phân nguyên liệu
moi, xác định được điều kiện tối ưu cho quá trình thủy phân moi đạt hiệu suất cao.
- Nghiên cứu tạo sản phẩm giả chả tôm từ surimi và dịch đạm moi.
- Tạo được dịch đạm thủy phân có hàm lượng acid amin cao từ nguyên liệu moi.
- Xây dựng được quy trình công nghệ sản xuất dịch đạm thủy phân giàu acid amin từ con moi
bằng enzyme protease thương phẩm.
8. Nghiên cứu các biện pháp bảo tồn và phát triển nguồn lợi động vật đáy có giá trị kinh tế,
quý hiếm ở vùng biển Bạch Long Vỹ và Cát Bà (2011 -2013) Hiếu
- Đánh giá được hiện trạng thành phần loài, phân bố sinh lượng, ước tính trữ lượng của 12
nhóm loài động vật đáy quý hiếm phân bố ven biển tại hai đảo Cát Bà và Bạch Long Vĩ. So sánh
với các nghiên cứu trước đây cho thấy mức độ suy giảm nghiêm trọng về sinh lượng của một số
nhóm loài nghiên cứu.
- Xây dựng và thử nghiệm thành công mô hình khoanh vùng bảo vệ, nuôi tự nhiên 12 loài
động vật thuỷ sản sống đáy tại hai đảo Bạch Long Vĩ và Cát Bà. Qua mô hình, đã đánh giá được
mức độ thành công của việc tổ chức quả lý dựa vào cộng đồng, đánh giá được tốc độ tăng trường
(bằng phương pháp đánh dấu), tỷ lệ sống, tốc độ tái tạo quần đàn trong tự nhiên của các đối tượng
nghiên cứu.
- Xây dựng hoàn thiện 02 bản đồ chi tiết về sự phân bố nguồn lợi của 12 loài/ nhóm loài hải
sản sống đáy tại hai khu vực đảo nghiên cứu Cát Bà và Bạch Long Vĩ.
2. Nghiên cứu xây dựng quy trình công nghệ dự báo ngư trường khai thác hải sản ngắn hạn ở
vùng biển Hải Phòng và lân cận (2011 – 2013)
Kết quả thu thập thông tin tài liệu, tư liệu, dữ liệu lịch sử có liên quan về hải dương học và
nguồn lợi nghề cá của 03 loại nghề chính (rê trôi tầng mặt, kéo đáy đơn và chụp mực) đã cung cấp
nguồn dữ liệu đầu vào cho công tác xây dựng dự báo ngư trường khai thác ở vùng biển Hải Phòng
và lân cận, góp phần phục vụ thiết thực cho công tác chỉ đạo và thực tiễn sản xuất của nghề khai