- 1 - TIỂU LUẬN
ĐỀ TÀI: Lễ hội dân gian với phát triển
du lịch văn hoá ở Việt nam.”
- 2 -
LỜI MỞ ĐẦU
Đất nước Việt Nam có tiềm năng du lịch rất phong phú và đa dạng, có
sức hấp dẫn lớn chẳng những đối với khách du lịch trong nước mà còn với
khách du lịch quốc tế và bà con Việt kiều ở xa Tổ quốc.
Chúng ta có đủ điều kiện để đa dạng hóa các loại hình du lịch từ tham
quan, nghỉ mát điều dưỡng, tắm biển, leo núi, thể thao đến nghiên cứu khoa
Với đề tài trên, trong bài viết này em xin được trình bày những nội dung sau:
Phần I : Lễ hội dân gian, tính chất và đặc điểm của lễ hội dân gian ở Việt nam.
Phần II : Lễ hội dân gian với phát triển du lịch văn hoá ở Việt nam.
I-Những nét khái quát về du lịch văn hoá.
II- Vai trò của lễ hội dân gian trong việc phát triển du lịch văn hoá.
III-Một số lễ hội tiêu biểu ở miền bắc Việt nam.
1. Lễ hội Đền Hùng.
2. Lễ hội chọi trâu Đồ Sơn.
3. Lễ hội chùa Hương.
Phần III : Những điều kiện để thu hút khách đến với các lễ hội.
- 4 -
- 5 -
PHẦN I
tồn và phát triển được những nét truyền thống trong phần hội với những trò
chơi mang tính dân gian thì lễ hội nơi đó có giá trị hơn. Thông thường phần
hội gắn với tình yêu, giao duyên nam nữ.
Cũng có những lễ hội mà ở đó hai phần lễ và hội hoà quyện với nhau,
trong đó trọng tâm là phần hội, nhưng bản thân phần hội đã mang trong mình
ý nghĩa tâm linh của phần lễ. Hội trọi trâu đồ sơn là một điển hình.
Như vậy, để tìm hiểu văn hoá Việt nam, văn hoá làng xã cũng như văn
hoá lúa nước, người ta có thể tìm hiểu qua lễ hội, hoặc trực tiếp tham gia vào
lễ hội. Từ đó có thể thấy lễ hội là một dạng tài nguyên du lịch nhân văn rất
quan trọng. - 7 -
II. TÍNH CHẤT VÀ ĐẶC ĐIỂM CỦA LỄ HỘI DÂN GIAN Ở VIỆT NAM.
1. Tính chất của các lễ hội dân gian ở Việt nam.
Xét về tính chất của các lễ hội dân gian ở Việt nam chúng ta thường thấy
có ba loại lễ hội :
- Các lễ hội mang tính lịch sử như hội Đền Hùng, Hoa lư, Vạn Kiếp…
các lễ hội này thường được tổ chức gắn liền với các sự kiện có ý nghĩa lớn
trong lịch sử hay để tưởng nhớ những người anh hùng, người có công lớn
trong việc đánh đuổi giặc ngoại xâm đem lại cuộc sống thanh bình cho nhân
dân.
- Các lễ hội mang tính giải trí như hội Lim, hội chọi trâu Đồ Sơn…trong
các lễ hội thường có những trò chơi giải trí mà nội dung và hình thức của các
trò chơi này gắn liền với các hoạt động lao động sản xuất của người dân.
- Các lễ hội mang tính tôn giáo như hội chùa Hương, hội chùa Keo, hội
Phủ Giày… mà phổ biến nhất ở Việt nam có lẽ là lễ hội Phật giáo.
Tuy nhiên việc phân loại trên chỉ mang tính tương đối bởi trên thực tế
các tính chất của lễ hội đan xen hoà trộn vào nhau. Mỗi một lễ hội được tổ
chức đều mang những nét của truyền thống lịch sử, tôn giáo và trong các lễ
lòng biết ơn, sự vui mừng trước những kết quả đã đạt được. Thực chất của
việc cầu mưa nắng thuận hòa ở mỗi lễ hội dân gian đều xuất phát từ mong
ước đạt được một kết quả sản xuất tốt đẹp (một vụ lúa bội thu). Mỗi lễ hội là
mỗi nguyện vọng, mỗi khắc khoải của người nông dân trồng lúa đối với từng
giai đoạn phát triển của cây lúa. Cho nên mới nói, các lễ hội dân gian ở Việt
nam được hình thành từ nền nông nghiệp lúa nước để phục vụ chính cuộc
sống sản xuất, sinh hoạt của những người nông dân trồng lúa nước.
Cuộc sống nông nghiệp được phản ánh rất đậm nét trong các lễ hội dân
gian ở Việt nam. Tuy nhiên, đây không phải là sự sao chép lại hiện thực, mà
- 9 -
đó là sự phản ánh hiện thực Việt nam qua cách nhìn của những người nông
dân trồng lúa. Nó không phải là tất cả những gì có sẵn trong tự nhiên, trong
nó chứa đựng những suy nghĩ và mong ước ấy lại xuất phát từ hoàn cảnh tự
nhiên, điều kiện địa lý, môi trường, xã hội của họ. Vì cây lúa là đối tượng
chính của sự sản xuất nông nghiệp Việt nam, nên nó (cây lúa) trở thành trung
tâm của sự phản ánh trong các lễ hội dân gian của vùng (cũng như trong mọi
hình thái văn hóa dân gian khác của vùng). Cây lúa được coi là biểu trưng cho
sự no đủ, hạnh phúc, biểu trưng cho tất cả những đức tính tốt đẹp của con
người. Mọi sự vật, hiện tượng đều được nhận thức trên cơ sở của quy luật
phát triển của cây lúa. Trong suy nghĩ của những người dân Việt nam, người
mẹ, người phụ nữ chính là những người đã tạo ra những giống lúa, sáng tạo ra
nghề trồng lúa (vì nghề trồng lúa được ra đời từ hái lượm, mà hái lượm lại là
công việc của người phụ nữ); Cho nên, ở các lễ hội dân gian của vùng, các tín
ngưỡng về cây lúa như là tín ngưỡng bản địa của các dân tộc trên đất nước
Việt nam, và sự phản ánh tín ngưỡng ấy qua biểu tượng người phụ nữ là một
đặc thù của các lễ hội dân gian ở Việt nam.
Các lễ hội dân gian ở Việt nam đều được tạo thành bởi một chuỗi các
cảnh diễn liên tiếp, theo một kịch bản quy định. Những cảnh diễn, cũng như
những quy định của kịch bản, lại xuất phát từ chính cuộc sống sinh hoạt và
nhiên, mục đích của lễ hội cũng không đạt được một cách trọn vẹn nếu thiếu
đi một hay vài loại hình văn hóa hoặc một vài cảnh diễn).
Ở
đây, lễ hội đã bộc
lộ rõ nét một đặc điểm đặc thù trong phương thức nhận thức và phản ánh của
văn hóa dân gian, đó là: "phương thức tổng thể nguyên hợp" (tức nhận thức
sự vật với tư cách đó là một tổng thể). Vậy mới nói, lễ hội là một loại hình
văn hóa dân gian tiêu biểu.
Khi nói lễ hội dân gian trong vùng thực chất là các lễ hội nông nghiệp
cũng là muốn nói chúng - các lễ hội dân gian - là sản phẩm văn hóa của
những người nông dân (người nông dân vừa là chủ thể sáng tạo, vừa là người
tiêu dùng). Các hoạt động lễ hội nhằm đáp ứng nhu cầu không phải cho một
- 11 -
cá nhân người nông dân, mà cho cả cộng đồng người nông dân. Nó là sáng
tạo của cả cộng đồng người nông dân. Vì thế mọi tri thức, tư tưởng, tình
cảm cũng như những hành vi, quy ước, ước lệ trong lễ hội đều được biểu
tượng hóa bằng những hình ảnh, những dấu hiệu quen thuộc của cộng đồng.
Mọi thành viên trong cộng đồng đều có thể cảm nhận được chúng. (Không chỉ
có thế, chúng còn được mọi người tiếp nhận một cách tự nguyện bởi chúng
mang vác và diễn đạt những mong ước của chính họ).
Ở
thời kỳ tiền nông
nghiệp, khi cuộc sống còn phụ thuộc nhiều vào môi trường tự nhiên thì các
biểu tượng của các lễ hội trong vùng có nhiều nét giống nhau cả về vật dùng
làm biểu tượng lẫn giá trị mà biểu tượng ấy mang vác, bởi chúng đều được ra
đời trên cơ sở một hay nhiều đặc điểm về những điều kiện tự nhiên độc đáo
của môi trường sinh tồn Việt nam (nóng, ẩm, mưa nhiều, địa hình nhỏ hẹp );
và được ra đời từ nhu cầu sở thuộc xã hội và tính cố kết cộng đồng.
Cũng vì nhằm đáp ứng nhu cầu cho cả cộng đồng người nông dân mà lễ
I. NHỮNG NÉT KHÁI QUÁT VỀ DU LỊCH VĂN HOÁ.
Có thể hiểu du lịch văn hoá là một loại du lịch mà mục đích chính là
nâng cao hiểu biết cho cá nhân đáp ứng sự ham hiểu biết qua các chuyến du
lịch đến những vùng đất mới tìm hiểu và nghiên cứu lịch sử, kiến trúc, kinh
tế, chế độ xã hội, cuộc sống và phong tục tập quán của địa phương đất nước
đến du lịch hoặc là kết hợp những mục đích khác nữa.
Xu thế quốc tế hoá trong sinh hoạt văn hoá giữa cộng đồng và các dân
tộc trên thế giới được mở rộng, dẫn tới việc giao lưu văn hoá, tìm kiếm những
kiến thức về nền văn hoá nhân loại, về những miền đất lạ đã trở thành một
nhu cầu cho nhiều tầng lớp dân cư trong xã hội. Du lịch không còn hoàn toàn
là nghỉ ngơi giải trí đơn thuần (khôi phục và tái sản xuất sức khoẻ khả năng
lao động, ) mà còn là hình thức nghỉ ngơi tích cực có tác dụng bổ sung tri
thức, làm phong phú đời sống tinh thần của con người. Đó chính là nội hàm
của khái niệm du lịch văn hoá.
Du lịch văn hoá vừa là phương tiện, vừa là mục đích của kinh doanh du
lịch. Du lịch văn hoá nhằm chuyển hoá các giá trị văn hoá, các giá trị vật chất
cũng như tinh thần cho hoạt động du lịch. Du lịch văn hoá là phương thức hấp
dẫn vì nó giải quyết những nhu cầu về cảm thụ cảnh quan của quốc gia và du
lịch văn hoá thường để dành cho du khách có trình độ cao trong xã hội.
- 14 -
Du lịch văn hoá được xem là tổng thể của du lịch - xem đó là một hiện
tượng văn hoá những cố gắng thu hút khách ở các điểm du lịch phải mang
tính văn hoá. Những động cơ thu hút đến các điểm du lịch là để nghỉ ngơi và
giải trí.
Tuỳ theo các tiêu thức khác nhau mà người ta có thể phân chia du lịch
văn hoá ra nhiều loại:
+ Du lịch tìm hiểu bản sắc văn hoá: Khách đi tìm hiểu các nền văn hoá là
chủ yếu mục đích chuyến đi mang tính chất khảo cứu, nghiên cứu. Đối tượng
khách chủ yếu là các nhà nghiên cứu, học sinh, sinh viên - đó là các chương
cho khách cảm giác nhàm chán.
Du lịch văn hoá là loại hình du lịch tiềm năng vì nó ít chịu sự chi phối
của yếu tố thời vụ du lịch (thời tiết, khí hậu), nhưng nó phụ thuộc vào đặc
điểm nhân khẩu học như: giới tính, độ tuổi, trình độ văn hoá, nghề nghiệp, tôn
giáo, của du khách.
+ Yếu tố thời vụ du lịch: so với các loại hình du lịch khác, du lịch văn
hoá mang tính đại chúng. Tuy có chịu ảnh hưởng tính thời vụ nhưng không
phụ thuộc hoàn toàn, ít chịu ảnh hưởng của yếu tố thời tiết khí hậu. (Những
đặc điểm này thể hiện rất rõ ở loại hình du lịch lễ hội) đồng thời mức độ
chênh lệch cung cầu của du lịch văn hoá thường không lớn).
+ Yếu tố giới tính: Có tác động đến động cơ đi du lịch và động cơ đi du
lịch văn hoá là một trong những nguyên nhân chủ yếu của nam giới vì đối với
họ ít chịu sự ràng buộc của gia đình, thường có trình độ học vấn cao, có địa vị
xã hội,
+ Yếu tố độ tuổi: Tham gia vào các chuyến du lịch văn hoá chủ yếu vẫn
là những khách du lịch cao tuổi và thanh niên. Đối với khách cao tuổi họ
thường có nhiều thời gian rỗi, thường có kinh nghiệm trong việc đi du lịch,
họ thích tìm hiểu về âm nhạc, nghệ thuật quần chúng, các món ăn đậm đà tính
dân tộc, và họ quan tâm nhiều đến chất lượng phục vụ. Chủ yếu họ mua các
- 16 -
chương trình tham quan du lịch văn hoá. Ngược lại, đối với khách du lịch
thanh niên đây là nhóm có số lượng đông đúc với các đặc trưng của thanh
niên như: ưa khám phá, thích tìm tòi, muốn thử sức mình, thích đi xa, thích sự
tự do, thích thay đổi điểm du lịch và thường đi thành nhóm lẻ, do đó họ có
xu hướng đòi hỏi tính mới mẻ, đa dạng trong dịch vụ du lịch, họ có khả năng
thanh toán thấp, ít có kinh nghiệm trong đi du lịch, họ thường quan tâm đến
giá cả nhưng ít quan tâm đến yêu cầu về chất lượng dịch vụ. Khách du lịch
thanh nhiên thường tham gia vào các chuyến du lịch dã ngoại, săn bắn mạo
hiểm, tham quan văn hoá, Đối với những khách trung niên thường là những
Lễ hội thường diễn ra ở các vùng quê nơi có cảnh quan thiên nhiên tươi
đẹp co những công trình kiến trúc mang dấu ấn của từng thời đại như : Đình,
Chùa, Đền Miếu. Lễ hội truyền thống ở Việt Nam thường được tổ chức vào
mùa xuân, mùa thu, khi mùa màng đã song xuôi nông dân có thời gian nghỉ
ngơi vui chơi thoải mái. Cấu trúc của một lễ hội thường gồm có hai phần là
phần lễ và phần hội.
Phần lễ thường được tổ chức ở đình Chùa nhằm thể hiện lòng thành kính
của con người và để bày tỏ nguyện vọng của con người trước những khó khăn
của cuộc sống với phật thánh.
Trong lễ không thể thiếu phần hội vì hội là để vui chơi thoải mái, không
bị ràng buộc bởi những lê nghi tôn giáo tuổi tác. Sau những tháng ngày làm
ăn lam lũ dân làng chờ đón ngày hội như chờ đón một tin vui. Họ đến với hội
hoàn toàn tự nguyện, ngoài vui chơi giải trí, gặp gỡ bạn bè mọi người đi dự
hội đều cảm thấy như mình được thêm một cái gì đó có thể là điều may. Thứ
quyền lợi vô hình ấy làm cho những người đi hội thêm phần phấn chấn. Chính
vì vậy lễ hội bao giờ cũng có đông người đến dự. Tuy nhiên quy mô của từng
hội có khác nhau. Có hội chỉ diễn ra ở một vài làng nhưng cũng có hội mang
tính toàn quốc như : hội Đền Hùng, hội Chùa Hương, hội Hoa Lư trong quá
- 18 -
trình diễn ra lễ hội đã làm tái hiện lại phong tục tập quán, tín ngưỡng văn hoá
và những sự kiện lịch sử quan trọng. Lễ hội chính là một pho sử khổng lỗ.
Bên cạnh những lễ hội thuần tuý mang ý nghĩa về lễ ghi nông nghiệp
như lễ hội Chùa Dâu cầu cho mưa thuận gió hoà, mùa màng tốt tươi còn có
những lễ hội mang ý nghĩa lịch sử như: Hội Đền Hùng, hội Gióng.
Ngoài những lễ hội trên còn có những lễ hội mang ý nghĩa văn nghệ giải
trí như hội lim hát quan họ hội hát xoan Phú Thọ
Theo thống kê sơ bộ ở Việt Nam có hàng trăm lễ hội, lễ hội tập trung
nhiều nhất ở vùng đồng bằng Bắc Bộ nơi có nền văn minh lúa nước phát hiện
sớm. Như vậy theo cùng với các loại hình du lịch nghỉ Biển, nghỉ núi, dã
Nhớ ngày giỗ tổ mồng mười, tháng ba.
Là người Việt nam dù là được ở quê hương hay phiêu bạt nơi đâu, nhưng
cứ mỗi độ xuân sang, ai cũng hướng lòng mình về một vùng đất Tổ – Vùng
đất trung du thơ mộng thuộc xã Hy Cương, huyện Phong Châu, Phú Thọ, nơi
cội nguồn của dân tộc, nơi hàng năm con chắu cả nước về dự Giỗ tổ Hùng
Vương.
Trước lúc vào hội, mời bạn hãy đến thăm những di tích lịch sử cổ kính
của một quần thể kiến trúc tuyệt vời trên ngọn núi nghĩa lĩnh này. ngọn núi từ
bao đời nay được con cháu từ khắp mọi miền nhắc đến với một niềm súc
động dào dạt, hướng về nơi chôn rau cắt rốn của mình.
Dưới những tán cây chò xanh cao vút, mát rượi, bước theo các bậc đá
sạch sẽ từ cổng chính đi lên,chẳng mấy chốc lên tới đền Hạ. theo truyền
thuyết, nơi đây Bà Âu Cơ sinh ra cái bọc trăm trứng, nở thành trăm người con
- 20 -
trai. Sau đó Lạc Long Quân dẫn 50 người về xuôi, Âu Cơ dẫn 49 người lên
ngược, dể lại người con trưởng làm vua, xưng là hv, đóng đô ở Phong Châu,
đặt tên nước là Văn Lang. Từ đó sinh sôi ra các dân tộc Việt nam.
Trước cửa Đền Hạ có một cây thiên tuế chính nơi đây Bác Hồ đã nói
chuyện với cán bộ chiến sĩ đại đoàn quân Tiên phong trước khi về tiếp quản
Thủ đô tháng 9/1954. Câu nói nổi tiếng ấy nay đã được khắc thành chữ vàng
để muôn đời con cháu mai sau nhớ mãi : “ các vua Hung đã có công dựng
nước, bác cháu ta phải cùng nhau giữ nước ”. sau khi rời đền Hạ du khách
tiếp tục lên đền Trung. Tương truyền các Vua Hùng thường đến đây cùng các
Lạc tướng bán việc nước. đây cũng là nơi Lang Liêu, vị hoàng tử nghèo đã
lấy những hạt gạo do chính mình cấy gặt ra làm nên những chiếc bánh chưng
bánh đầy đầy hương vị quê hương dâng lên vua cha nhân ngaỳ tết. Sự tích
bánh chưng bánh dầy, bài học về sự quý trọng công sức và của cải do bàn tay
lao động của con người làm ra, bắt đầu từ đó. Lên cao nữa là đền Thượng, nơi
hàng năm vua Hùng làm lễ tế trời đất, thờ thần lúa. Dứng trên đền Thượng,
sắp đặt xen kẽ những rạp hát chèo, tuồng, những đặc sản của Phú Thọ, những
quấn ăn, hàng thủ công mỹ nghệ phục vụ khách đến hội. Cứ như vậy hội Đền
Hùng diễn ra trong không khí sôi động của mùa xuân với bao điều ước vọng
về một tương lai tốt đẹp.
Hội Đền Hùng không chỉ thu hút mọi người bởi những sinh hoạt văn hoá
đặc sắc mà còn ở tính linh thiêng của một cuộc hành hương trở về cội nguồn
dân tộc của các thế hệ người Việt nam chúng ta. đến hội, mỗi người đều biểu
hiện một tình yêu thương, lòng ngưỡng mộ về quê cha đất tổ, một tín ngưỡng
đã ăn sâu vào tâm thức người Việt nam cho dù họ ở bất cứ nơi đâu.
Vấn đề đặt ra là làm thế nào để khai thác được một cách hiệu quả lễ hội
Đền Hùng và biến nó thành một sản phẩm hấp dẫn đối với du lịch. Các biện
- 22 -
pháp cơ bản đó là : nâng cao chất lượng tổ chức lễ hội ; đa dạng hoá các loại
hình dịch vụ và vui chơi giải trí đi kèm ; tổ chức tuyên truyền quảng cáo…
Tất cả điều đó đều cần thiết. Tuy nhiên, cho dù có làm tốt đến đâu thì lễ hội
Đền Hùng cũng chỉ thu hút được một số lượng hạn chế các du khách do chính
sự hạn hẹp về thời gian và không gian lễ hội. Do vậy cần tiếp cận lễ hội Đền
Hùng từ một hướng khác toàn diện hơn. lễ hội Đền Hùng cần phaỉi được đặt
chung trong không gian lịch sử thời đại Hùng Vương, cần phải xúc tiến xây
dựng một chương trình du lịch về cội nguồn với đầy đủ các yếu tố nội dung
về lịch sử đâts nước, con người và văn hoá của nước Văn Lang- một giai đoạn
lịch sử đầy huyền thoại của dân tộc.
Như vậy, trong hệ thống các sản phẩm du lịch về cội nguồn, những yếu
tố về lịch sử phải được đặt lên trước. Ngoài việc xây dựng nâng cấp các bảo
tàng, các phòng trưng bầy, cần phối hợp với các nhà khoa học xây dựng một
hệ thống các bảo tàng di chỉ khảo cổ ngoài trời để dânx dắt du khách cùng đi
ngược về chiều sâu lịch sử của vùng đất này.
Lễ hội Đền Hùng chỉ trở thành hấp dẫn nếu được đặt trong một hệ thống
hoàn chỉnh các sản phẩm của nền văn hoá vật chất của thời đại Hùng Vương,
võ.
Được phục hồi và mở rộng về quy mô tổ chức, từ năm 90 đến nay, từ
một hội làng, hội chọi trâu đã trở thành lễ hội vùng. Giữ nguyên nét độc đáo
và cuốn hút, có năm hội đón tới 20.000 người từ khắp nơi trong cả nước đổ về
thăm quan. Chính hội diễn ra vào ngày 9-8 âm lịch, tiền chính hội vào 8-6 âm
lịch. ở các phường có trâu chọi, bao giờ họ cũng có lễ vật cúng khẩn cầu cho
khí thiêng các núi sông, trời đất phù hộ cho các “ ông trâu” thắng cuộc. Bởi
các “ ông trâu” thắng cuộc là điềm lành báo hiệu sự hưng thịnh của địa
phương. Người dân Đồ Sơn gắn bó với hội chọi trâu vẫn luôn nhớ đến các
“phần xăm khẩn đáy” – phần thưởng cho nơi nào có trâu thắng cuộc trong các
- 24 -
hội chọi trâu ngày xưa. khi đó, trên diện tích bao la của ngư trường, người ta
để chỗ nào đẹp nhất, lại có nhiều tôm cá nhất dành cho làng có trâu thắng
cuộc được quai đáy, quai xăm. tôm cá nhiều, việc bán mua, lợi nhuận cũng
tăng lên và kinh tế của làng nhờ đó mà thêm khấm khá. Phần thưởng cho trâu
thắng cuộc ngày nay không phải là “phần xăm khẩn đáy” nữa, thay vào đó là
thưởng trực tiếp bằng hiện vật hoặc tiền. Và theo phong tục địa phương,
những miếng thịt trâu( kể cả trâu thắng hay thua) đều được chia cho mọi nhà
thưởng thức để mọi người cùng gặp may mắn.
Lễ hội chọi trâu Đồ Sơn thu hút khách bởi vẫn giữ được những nét cơ
bản của truyền thống ở cả hai phần lễ và hội. Phần lễ với các nghi thức không
chỉ diễn ra trong thế giới tâm linh tại các đình làng ở các phường có trâu chọi
mà còn sinh đồng tưng bừng trên sớ. Nhưng vất vả và công phu nhất vẫn là ở
khâu nuôi và tuyển chọn trâu. Từ ngày phục hồi và mở rộng hội chọi trâu, đã
có một số nhà doanh nghiệp chịu chơi cũng muốn có trâu tham dự, nhưng
không ai thay thế được các “thổ công” ở Đồ Sơn vốn đầy kinh nghiệm trong
công việc này. các “ông trâu” không chỉ bảo đảm tiêu chuẩn của một “người
hùng ra trận “ mà còn phải có vẻ đẹp đĩnh đạc, chải chuốt với bộ áo da lông
đn mượt.
Yến - không đẹp ở sự mênh mông, mà đẹp ở sự buông thả hiền hòa giữa hai
chiền núi. Suối ở đây là bạn đường của núi.
Đường suối không xa lắm nhưng trông như không có chỗ tận cùng. Có
khúc thẳng, có khúc quanh, có cái trông thấy trước, có cái đột ngột hiện ra
trước mắt. Những lớp xanh xa cứ như chứa một bí ẩn gì mà suối này sẽ đưa ta
tới.
Thắng cảnh Hương Sơn nay thuộc xã Hương Sơn, huyện Mỹ Đức, tỉnh
Hà Tây. Hàng năm, từ rằm tháng giêng đến nửa đầu tháng ba (âm lịch) mà
đỉnh cao là trung tuần tháng hai, hàng chục vạn người từ mọi miền đất nước,
Việt kiều và khách ngoại quốc đổ về trẩy hội.
Hành trình và thắng cảnh Hương Sơn trong mùa hội ngày nay có nhiều
phương tiện thuận lợi. Xe ô tô chở khách từ Hà Nội, từ Hà Nam đến bến Đục