LỜI MỞ ĐẦU
Đất nước Việt Nam có tiềm năng du lịch rất phong phú và đa dạng, có
sức hấp dẫn lớn chẳng những đối với khách du lịch trong nước mà còn với
khách du lịch quốc tế và bà con Việt kiều ở xa Tổ quốc.
Chúng ta có đủ điều kiện để đa dạng hóa các loại hình du lịch từ tham
quan, nghỉ mát điều dưỡng, tắm biển, leo núi, thể thao đến nghiên cứu khoa
học... và có khả năng tiếp nhận một số lượng lớn du khách.
Về mặt tự nhiên, Việt Nam có nhiều cảnh đẹp, cảnh thiên nhiên có
những nét hùng vĩ nên thơ của núi rừng như Sapa mờ ảo trong sương, như Đà
Lạt - thành phố thông reo, hay vịnh Hạ Long – di sản thiên nhiên của thế
giới…
Bên cạnh tiềm năng về mặt tự nhiên, Việt Nam còn có một kho tàng văn
hóa - lịch sử phong phú. Đó là những di tích khảo cổ học minh chứng cho nền
văn hóa Đông Sơn, Hòa Bình... nổi tiếng từ hồi tiền sử, những di tích lịch sử
còn được bảo tồn nguyên hiện trạng hoặc sưu tầm được qua các triều đại lịch
sử nước ta, rất có giá trị về mặt khoa học và giáo dục truyền thống, truyền bá
kiến thức như Đền Hùng, Hoa Lư, chùa Tây Phương, Huế, Thánh Địa Mỹ
Sơn, phố cổ Hội An... Những lễ hội truyền thống như hội Đền Hùng (Vĩnh
Phú), hội Dóng (Hà Nội), hội chùa Dâu ( Bắc Ninh ), hội chùa Keo (Thái
Bình),… những nền văn nghệ dân gian với các nhạc cụ độc đáo (t’rưng,
Krông put...) với các điệu múa đặc sắc của cộng đồng dân tộc Việt Nam...
Ngoài ra, chúng ta cũng có rất nhiều các mặt hàng thủ công mỹ nghệ
truyền thống như mây tre đan, sơn mài, gốm sứ, thêu đan, chạm khắc, các sản
- 1 -
phẩm từ cói v.v... đạt trình độ thẩm mỹ cao, hoàn toàn có thể thỏa mãn nhu
cầu các loại khách du lịch.
Trong vài năm trở lại đây chúng ta thường hay nói tới một loại hình du
lịch mới mà cũ đó là du lịch văn hoá. Trong hệ thống các nguồn tài nguyên
phục vụ cho phát triển du lịch văn hoá có một nguồn tài nguyên hết sức quan
trọng mà dường như từ lâu đã bị mai một, đó chính là các lễ hội dân gian ở
Việt nam.
nội dung của phần lễ sẽ mang ý nghĩa riêng. Có thể phần nghi lễ mở đầu ngày
hội mang tính tưởng niệm lịch sử hướng về một sự kiện lịch sử trọng đại,
tưởng niệm một vị anh hùng dân tộc. Cũng có thể phần lễ là nghi thức thuộc
về tín ngưỡng, tôn giáo bày tỏ lòng tôn kính đối với các bậc thánh hiền và
thần linh, cầu mong được những điều tốt đẹp trong cuộc sống.
Phần nghi lễ có ý nghĩa quan trọng và thiêng liêng, chứa đựng những giá
trị văn hoá truyền thống, giá trị thẩm mỹ và triết học sâu sắc của cộng đồng.
Nó mang trọn ý nghĩa hấp dẫn của cả lễ hội đối với du khách. Phần nghi lễ là
phần hạt nhân của cả lễ hội.
- 3 -
- Phần hội, là phần có tổ chức những trò chơi, thi đấu biểu diễn… Mặc
dù cũng hàm chứa những yếu tố văn hoá truyền thống, nhưng phạm vi nội
dung của nó không khuôn cứng mà hết sức linh hoạt, luôn luôn được bổ sung
bởi những yếu tố văn hoá moéi. Tuy nhiên, kinh nghiệm cho thấy nơi nào bảo
tồn và phát triển được những nét truyền thống trong phần hội với những trò
chơi mang tính dân gian thì lễ hội nơi đó có giá trị hơn. Thông thường phần
hội gắn với tình yêu, giao duyên nam nữ.
Cũng có những lễ hội mà ở đó hai phần lễ và hội hoà quyện với nhau,
trong đó trọng tâm là phần hội, nhưng bản thân phần hội đã mang trong mình
ý nghĩa tâm linh của phần lễ. Hội trọi trâu đồ sơn là một điển hình.
Như vậy, để tìm hiểu văn hoá Việt nam, văn hoá làng xã cũng như văn
hoá lúa nước, người ta có thể tìm hiểu qua lễ hội, hoặc trực tiếp tham gia vào
lễ hội. Từ đó có thể thấy lễ hội là một dạng tài nguyên du lịch nhân văn rất
quan trọng.
II. TÍNH CHẤT VÀ ĐẶC ĐIỂM CỦA LỄ HỘI DÂN GIAN Ở VIỆT NAM.
1. Tính chất của các lễ hội dân gian ở Việt nam.
Xét về tính chất của các lễ hội dân gian ở Việt nam chúng ta thường thấy
có ba loại lễ hội :
- Các lễ hội mang tính lịch sử như hội Đền Hùng, Hoa lư, Vạn Kiếp…
các lễ hội này thường được tổ chức gắn liền với các sự kiện có ý nghĩa lớn
vọng của những người nông dân trồng lúa nước Việt nam. Có thể nói, hầu
như mọi mong ước tình cảm được phản ánh ở các lễ hội dân gian đều xoay
quanh hai chủ đề chính là cầu mưa, cầu nắng để cây lúa có đủ điều kiện phát
triển, nảy hạt, đâm bông. Các lễ hội cầu nước thường được tổ chức vào đầu
mùa sản xuất (cũng đồng thời là đầu năm mới); bởi phải có nước thì mới làm
- 5 -
được ruộng nước cày cấy và hạt lúa mới có thể nảy mầm được. Các lễ hội cầu
nắng thường được tổ chức vào giữa và cuối mùa sản xuất: bởi, khi đã đủ
nước, cây lúa cần có nắng, có ánh sáng để phát triển, có sức nóng để làm chín
những hạt lúa vàng. Và khi lúa đã chín, sau khi vui mừng thu hoạch lúa,
người nông dân Việt nam thường tổ chức các lễ hội để gửi gắm vào trong đó
lòng biết ơn, sự vui mừng trước những kết quả đã đạt được. Thực chất của
việc cầu mưa nắng thuận hòa ở mỗi lễ hội dân gian đều xuất phát từ mong
ước đạt được một kết quả sản xuất tốt đẹp (một vụ lúa bội thu). Mỗi lễ hội là
mỗi nguyện vọng, mỗi khắc khoải của người nông dân trồng lúa đối với từng
giai đoạn phát triển của cây lúa. Cho nên mới nói, các lễ hội dân gian ở Việt
nam được hình thành từ nền nông nghiệp lúa nước để phục vụ chính cuộc
sống sản xuất, sinh hoạt của những người nông dân trồng lúa nước.
Cuộc sống nông nghiệp được phản ánh rất đậm nét trong các lễ hội dân
gian ở Việt nam. Tuy nhiên, đây không phải là sự sao chép lại hiện thực, mà
đó là sự phản ánh hiện thực Việt nam qua cách nhìn của những người nông
dân trồng lúa. Nó không phải là tất cả những gì có sẵn trong tự nhiên, trong
nó chứa đựng những suy nghĩ và mong ước ấy lại xuất phát từ hoàn cảnh tự
nhiên, điều kiện địa lý, môi trường, xã hội của họ. Vì cây lúa là đối tượng
chính của sự sản xuất nông nghiệp Việt nam, nên nó (cây lúa) trở thành trung
tâm của sự phản ánh trong các lễ hội dân gian của vùng (cũng như trong mọi
hình thái văn hóa dân gian khác của vùng). Cây lúa được coi là biểu trưng cho
sự no đủ, hạnh phúc, biểu trưng cho tất cả những đức tính tốt đẹp của con
người. Mọi sự vật, hiện tượng đều được nhận thức trên cơ sở của quy luật
phát triển của cây lúa. Trong suy nghĩ của những người dân Việt nam, người
giống cái nào nhưng vẫn có nét chung.
Cũng phải nói thêm rằng, chính vì được sản sinh và quy tụ để làm rõ
mục đích chung của lễ hội, mà các loại hình văn hóa tập trung và tập hợp
- 7 -
trong cảnh diễn, cũng như chuỗi cảnh diễn trong lễ hội luôn luôn được đặt vào
một hệ thống, trong đó, các loại hình văn hóa gắn bố hữu cơ với nhau (cũng
như cảnh diễn này gắn bó với cảnh diễn kia) đến mức: nếu tách một loại hình
văn hóa nào đó ra khỏi cảnh diễn, hoặc một cảnh diễn ra khỏi lễ hội thì chúng
không còn ý nghĩa như nó vốn có trong cảnh diễn và trong lễ hội nữa. (Đương
nhiên, mục đích của lễ hội cũng không đạt được một cách trọn vẹn nếu thiếu
đi một hay vài loại hình văn hóa hoặc một vài cảnh diễn). Ở đây, lễ hội đã bộc
lộ rõ nét một đặc điểm đặc thù trong phương thức nhận thức và phản ánh của
văn hóa dân gian, đó là: "phương thức tổng thể nguyên hợp" (tức nhận thức
sự vật với tư cách đó là một tổng thể). Vậy mới nói, lễ hội là một loại hình
văn hóa dân gian tiêu biểu.
Khi nói lễ hội dân gian trong vùng thực chất là các lễ hội nông nghiệp
cũng là muốn nói chúng - các lễ hội dân gian - là sản phẩm văn hóa của
những người nông dân (người nông dân vừa là chủ thể sáng tạo, vừa là người
tiêu dùng). Các hoạt động lễ hội nhằm đáp ứng nhu cầu không phải cho một
cá nhân người nông dân, mà cho cả cộng đồng người nông dân. Nó là sáng
tạo của cả cộng đồng người nông dân. Vì thế mọi tri thức, tư tưởng, tình
cảm... cũng như những hành vi, quy ước, ước lệ... trong lễ hội đều được biểu
tượng hóa bằng những hình ảnh, những dấu hiệu quen thuộc của cộng đồng.
Mọi thành viên trong cộng đồng đều có thể cảm nhận được chúng. (Không chỉ
có thế, chúng còn được mọi người tiếp nhận một cách tự nguyện bởi chúng
mang vác và diễn đạt những mong ước của chính họ). Ở thời kỳ tiền nông
nghiệp, khi cuộc sống còn phụ thuộc nhiều vào môi trường tự nhiên thì các
biểu tượng của các lễ hội trong vùng có nhiều nét giống nhau cả về vật dùng
làm biểu tượng lẫn giá trị mà biểu tượng ấy mang vác, bởi chúng đều được ra
đời trên cơ sở một hay nhiều đặc điểm về những điều kiện tự nhiên độc đáo
lao động,...) mà còn là hình thức nghỉ ngơi tích cực có tác dụng bổ sung tri
thức, làm phong phú đời sống tinh thần của con người. Đó chính là nội hàm
của khái niệm du lịch văn hoá.
Du lịch văn hoá vừa là phương tiện, vừa là mục đích của kinh doanh du
lịch. Du lịch văn hoá nhằm chuyển hoá các giá trị văn hoá, các giá trị vật chất
cũng như tinh thần cho hoạt động du lịch. Du lịch văn hoá là phương thức hấp
dẫn vì nó giải quyết những nhu cầu về cảm thụ cảnh quan của quốc gia và du
lịch văn hoá thường để dành cho du khách có trình độ cao trong xã hội.
Du lịch văn hoá được xem là tổng thể của du lịch - xem đó là một hiện
tượng văn hoá những cố gắng thu hút khách ở các điểm du lịch phải mang
tính văn hoá. Những động cơ thu hút đến các điểm du lịch là để nghỉ ngơi và
giải trí.
Tuỳ theo các tiêu thức khác nhau mà người ta có thể phân chia du lịch
văn hoá ra nhiều loại:
+ Du lịch tìm hiểu bản sắc văn hoá: Khách đi tìm hiểu các nền văn hoá là
chủ yếu mục đích chuyến đi mang tính chất khảo cứu, nghiên cứu. Đối tượng
- 10 -
khách chủ yếu là các nhà nghiên cứu, học sinh, sinh viên - đó là các chương
trình du lịch dã ngoại đến các làng dân tộc ít người thuộc các tỉnh Hoà Bình,
Sơn La, Lai Châu,... để khách tìm hiểu phong tục tập quán, lối sống văn hoá
của các dân tộc đó. Khách sẽ đi bộ khi tham quan các bản làng và thường
nghỉ qua đêm tại các bản làng đó.
+ Du lịch tham quan văn hoá: Đây là loại hình du lịch phổ biến nhất - du
khách thường kết hợp giữa tham quan với nghiên cứu tim fhiểu văn hoá trong
một chuyến đi. Đối tượng tham gia vào loại hình du lịch này rất phong phú,
bên cạnh những khách vừa kết hợp đi để tham quan, vừa để nghiên cứu còn
có những khách chỉ để chiêm ngưỡng để biết, để thoả mãn sự tò mò hoặc có
thể theo trào lưu,... Do vậy, trong một chuyến du lịch, du khách thường đi đến
nhiều điểm du lịch, trong đó vừa có những điểm du lịch văn hoá, vừa có
những điểm du lịch núi, du lịch biển, du lịch dã ngoại, săn bắn,... Đối tượng
xã hội,...
+ Yếu tố độ tuổi: Tham gia vào các chuyến du lịch văn hoá chủ yếu vẫn
là những khách du lịch cao tuổi và thanh niên. Đối với khách cao tuổi họ
thường có nhiều thời gian rỗi,... thường có kinh nghiệm trong việc đi du lịch,
họ thích tìm hiểu về âm nhạc, nghệ thuật quần chúng, các món ăn đậm đà tính
dân tộc,... và họ quan tâm nhiều đến chất lượng phục vụ. Chủ yếu họ mua các
chương trình tham quan du lịch văn hoá. Ngược lại, đối với khách du lịch
thanh niên đây là nhóm có số lượng đông đúc với các đặc trưng của thanh
niên như: ưa khám phá, thích tìm tòi, muốn thử sức mình, thích đi xa, thích sự
tự do, thích thay đổi điểm du lịch và thường đi thành nhóm lẻ,... do đó họ có
xu hướng đòi hỏi tính mới mẻ, đa dạng trong dịch vụ du lịch, họ có khả năng
thanh toán thấp, ít có kinh nghiệm trong đi du lịch, họ thường quan tâm đến
giá cả nhưng ít quan tâm đến yêu cầu về chất lượng dịch vụ. Khách du lịch
thanh nhiên thường tham gia vào các chuyến du lịch dã ngoại, săn bắn mạo
- 12 -
hiểm, tham quan văn hoá,... Đối với những khách trung niên thường là những
người có địa vị xã hội có khả năng thanh toán cao, có sự tự chủ lớn trong khi
đi du lịch. Họ quan tâm nhiều đến chất lượng phục vụ,... họ thường kết hợp
giữa đi công tác với đi du lịch.
+ Yếu tố trình độ học vấn: Những người có trình độ học vấn cao là loại
khách được các nhà kinh doanh du lịch quan tâm nhiều vì những nhà học vấn
cao thường thường là những người có địa vị xã hội cao, thu nhập cao, trình độ
văn hoá cao nên có nhu cầu mở rộng sự hiểu biết tìm hiểu thế giới xung
quanh cao hay có thể nói họ có động cơ văn hoá cao trong nhu cầu đi du lịch.
Khách du lịch văn hoá có thể được coi là khách du lịch thuần tuý vì
khách có thể chỉ đi vì động cơ văn hoá. Tuy nhiên số lượng khách du lịch văn
hoá thuần tuý trong thực tế thường rất ít mà khách du lịch thường kết hợp
giữa loại hình du lịch văn hoá với loại hình du lịch khác trong một chuyến
hành trình.
II. VAI TRÒ CỦA CÁC LỄ HỘI DÂN GIAN TRONG VIỆC PHÁT TRIỂN