Kỹ Thuật Nuôi Cá Tra Và Cá Basa - Pdf 11


Kỹ Thuật Nuôi Cá Tra Và Cá Basa Cá tra ăn tạp hơn nên mau lớn hơn cá basa. Nếu nuôi cá basa 8-9 tháng, chúng sẽ
đạt trọng lượng trung bình lkg/con. Còn với trọng lượng đó thì chỉ cần nuôi cá tra
trong vòng 6-7 tháng.

Hình minh họa
Tuy cá tra có giá bán trên thị trường rẻ hơn cá basa vàỉ ngàn đồng/kg, nhưng do cá
tra ít bệnh và có thể nuôi ở mật độ dày nên người ta thích nuôi cá tra hơn (cá tra:
30 - 40 con/m2, cá basa: 5-10 con/m2).
Nếu nuôi cá tra, bạn sẽ chủ động được con giông và thời vụ, bởi một con cá tra cái
đẻ được 30.000 -40.000 trứng, còn một con cá basa cái chỉ đẻ được 15.000- 20.000
trứng.
Cá tra ít mỡ hơn cá basa và tỷ lệ thịt philê nhiều hơn. Tuy nhiên, trong mỡ cá basa
lại có một ưu điểm là cổ một loại acid béo không no có tác dụng làm giảm béo phì
nên được nhiều người ưa chuộng.
Nhìn chung, xét về dinh dừỡng thì philê cá tra và cá basa có hàm lượng dinh dưỡng
như nhau, nhưng do thói quen tiêu dùng nên ngưởi ta chú ý đến cá basa nhiều hơn.
Muốn phân biệt hai loại cá này, bạn chỉ cần nhìn ngoại hình của chúng là có thể
nhận ra những đặc điểm riêng giữa chúng. Nhưng khi cá đã sơ chế rồi thì làm sao
phân biệt? Bạn hãy nhìn sớ thịt cá. Miếng philê cá tra có sớ thịt xiên và dài, còn
philê cá basa thì ngắn hơn, dày hơn, sớ thịt ngang và thịt hơi trắng hơn so với cá
tra.
I. NUÔI CÁ TRA TRONG AO
1. Ao nuôi
Bạn sử dụng ao có diện tích từ 500m2 trở lên, độ nước sâu khoảng 1 - l,5m. Bạn

Bột cá lạt: 20%
Cám gạo: 20%
Bột bắp: 19%
Premix: 1%
Rau xanh: 40%
Bột cá lạt: 25%
Cám gạo: 15%
Bột bắp: 19%
Premix: 1%
Rau xanh: 40%
II. NUÔI CÁ TRA ĐẺ
1. Chọn cá cha mẹ giống
Muốn sản xuất cá tra con, trước hết bạn cần quyết định nên chọn loài nào để phối
giống (ở Việt Nam có một số loài như: cá tra nghệ, cá tra dầu hay cá tra yêu ). Bạn
chọn cá cha mẹ thuần chủng, đạt tiêu chuẩn chất lượng và trọng lượng của loài đố.
Cả hai đều phải thuần thục sinh dục, khỏe mạnh.
Lúc chọn cá đực, bạn vuôt nhẹ gần lỗ sinh dục của nó, nếu thấy tinh dịch chảy ra
trắng đục và đặc như sữa là được. Đối với cá cái, bạn chọn những con bụng to,
mềm, trúng đều (màu vàng nhạt hay trắng sữa).
2. Phương pháp giúp cả đẻ
a. Tiêm kích dục tố
Bạn có thể sử dụng một hoặc kết hợp những loại kích dục tố dưới đây để tiêm cá
cha mẹ:
 HCG
 LRHa + DOM
 Não thụy của một số loài cá (mè trắng, chép trôii ).
Nếu bạn kết hợp nhiều loại kích dục tô' thì cần lây một loại làm chính và ch! nên
dùng một liều nhất định.
* Cách tiêm:
Đối với cá cái, bạn tiêm từ 2 đến 4 liều sơ bộ và 1 liều quyết định. Còn đối với cá

Nếu bạn kết hợp nhiều loại kích dục tô' thì cần lây một loại làm chính và ch! nên
dùng một liều nhất định.
♦ Cách tiêm:
Đối với cá cái, bạn tiêm từ 2 đến 4 liều sơ bộ và 1 liều quyết định. Còn đối với cá
đực thì tiêm 1 liều quyết định cùng thời điểm với liều quyết định tiêm cho cá cái.
Bạn tiêm vào cơ hoặc xoang cá, song tốt nhất bạn nên tiêm ở cơ. Mỗi lần tiêm, bạn
nên tìm vị trí khác nhau trên cơ của cá để tiêm.
Mỗi liều sơ bộ, bạn tiêm cách nhau 12 giờ hoặc 24 giờ. Giữa liều sơ bộ và liều
quyết định cách nhau từ 8 đến 12 giờ.
Lưu ý: Tùy theo loại kích dục tố và chất lượng trứng mà bạn áp dụng các liều tiêm
thích hợp.
Đối với HCG, bạn tiêm liều sơ bộ 300 - 1.000 UI (đơn vị quốc tế)/kg cá cái, còn
liều quyết định thì sử dụng 300 UI trở lên/kg cá cái.
Nếu thuốc công hiệu thì sau 8 - 12 giờ tiêm liều quyết định, trứng sẽ rụng.
b. Vuốt và ấp trứng
Bạn đặt bàn tay vào chỗ chứa trứng phồng lên ở bụng cá, vuốt nhẹ cho trứng rớt
vào thau. Trứng cá tra là loại trứng dính, do đó bạn cần khử dính trước khi ấp trứng
trong bình vây hoặc sử đụng giá thể cho trứng dính rồi đặt vào bể ấp sục khí.
* Cách khử dính:
Bạn có thể dùng axitanic hoặc một số chất khác để khử dính. Sau khi cho chất khử
đính vào trứng, bạn lấy lông gà khuấy đều 30 giây rồi chắt nước đó ra và dùng
nước sạch rửa trứng nhiều lần. Đến khi thấy trứng đã sạch, bạn cho trứng vào bình
vây để ấp.
Bạn điều chỉnh nưởc trong bình để trứng f- đều. Khoảng 18 - 24 giờ sau, trứng sẽ
nở. Giai đoạn nở tất cả trứng có khi kéo dài đến 30 giờ (tùy theo nhiệt độ và
khoảng cách giữa các lần cho trứng vào bình ấp).
Nếu không khử đính trứng, bạn sử dụng giá thể cho trứng bám vào (giá thể là lưới
nỉlon hoặc lưới căng trên một cái khung). Khi trứng đã thụ tình xong, bạn lây lông
gà đùa trứng đều trêa giá thể (đặt trong nước). Sau khi đã đùa trứng đều, bạn treo
giá thể trong nước ở bể ấp rồi sục khí cho đến khi trứng nở, sau đố bạn lấy giá thể

ỉượng: 10 - 15kg phân/100m2 đáy ao; còn sử dụng phân vô cơ thì với liều lượng:
0,5kg (lân + urê ị đều nhau)/100m2 đáy ao. Bao giờ thấy nước ao chuyển sang màu
vỏ đậu xanh hoặc xanh nhạt là được. Sau đó, bạn lấy lưới ngăn một phần góc ao
lại, thả cá tra bột (từ 1 đến 15 ngày tuổi) vào trong phần lưới ngăn. Mật độ thả tùy
bạn: 400 - 500 con/m2 ao hoặc 500 - 1.000 con/m2 ao.
Nếu bạn mua cá tra bột nhân tạo để ương, tốt nhất bạn nên chọn con giống từ
những trại sản xuất giống có uy tín. Cá tra bột phải cổ kích cỡ tương đối đều nhau,
màu sắc tươi sáng, bơi nhanh nhẹn, có lý lịch rõ ràng, cha mẹ chúng phải là
loại cá có chất ỉượng tốt.
Trong quá trình vận chuyển cá bột, bạn phải tính lượng thời gian cụ thể khi dem về
thả trong ao nuôi để hạn chế tỷ lệ hao hụt cá, bởi cá tra rất háu I ăn, chúng có thể
ăn lẫn nhau ngay cả trong giai đoạn vận chuyển.
Chế biến thức ăn cho cá
- Lấy lòng đỏ trứng (gà, vịt) luộc chín, trộn với hỗn hợp cám ăn, đậu nành, bột bắp
và sữa bột theo tỷ lệ 1:3:1 rồi đem nấu chín, pha loãng, với nước sạch, tưới vào ao.
Cứ mỗi 10.000 cá bột,bạn dùng liều lượng: 20 lòng đỏ trứng, 200g đậu nành xay
nhuyễn. Song bạn cần lưu ý, trong mùa dịch cúm H5N1, bạn cần chọn loại trứng ở
vùng không có dịch bệnh, có xác nhận của cơ quan kiểm dịch thực vật rõ ràng. Nếu
cẩn thận hơn bạn cổ thể không sử dụng trứng cho cá ăn.
- Mỗi ngày cho cá ăn 4 - 5 lần, chủ yếu vào sáng sớm và chiều mát. Lượng thức ăn
bình quân: 0,5 - 0,8kg thức ăn/100m2 ao/ngày.
- Sau 10 ngày khi cá bắt đầu ăn móng bạn táng thêm 50% lượng thức ăn và bổ
sung thêm trứng nước và trùn chỉ.
- Để có thêm nguồn thức ăn cho cá, trước khi thả cá giông, bạn cổ thể gây nuôi
monia (trứng nước) trong ao bằng cách rải bột đậu nành trực tiếp xuống ao (4 - 6
kg bột/1.000m2 ao).
- Để kích thích cá bắt mồi tích cực, bạn có thể trộn dầu gan mực (chuyên dùng
nuôi tôm sú) vào thức ăn của cá. Loại dầu này giàu vitamin A, rất tốt cho cá bột
trong giai đoạn phát triển.
- Từ ngày thứ 15 trở đi, bạn ương tiếp như sau: trộn thêm bột cá hoặc một ít cá tạp

loài địch hại khác.
2. Cá giống
Cá giếng phải khỏe mạnh, không dị tật và mang I mầm bệnh. Cá giông phải cổ
nguồn gốc cha mẹ rõ I ràng, không bị trầy xước, nhiều nhớt, và phải bơi lội I nhanh
(không thả những con có dấu hiệu lừ đừ, vì có I thể chúng đã bị bệnh hoặc có vấn
đề về sức khỏe).
Bạn chọn cá giông có chi.ều dài 10 - 12cm, nuôi I thả với mật độ 15 - 20 con/m2.
3. Thức ăn
Bạn cổ thể sử dụng nguồn thức ăn có sẵn ỏ địa phương, tự chế biến hợp lý để bảo
đảm hàm lượng đạm trong thức ăn vào khoảng 15 - 20%. Ngoài ra, bạn cổ thể sử
dụng thức ăn công nghiệp chuyên dành cho cá tra giống.
Dưới dây là một số công thức của loại thức ăn tự chế biến, bạn có thể áp dụng để
nuôi cá:

Công thức 1
Công thức 2 Công thúc 3
Nguyên li
ệu Tỷ lệ (%)
Nguyên li
ệu Tỷ lệ (%)
Nguyêu li
ệu Tỷ lệ (%)
Cám gạo 60 Cám gạo 50 Cám gạo 60
Cá 1 vụn,
đầu cá, ruột
30 Bột bắp 25 Bột cá 20

Bột cá khô 15 Khô dầu 10
Rau xanh 10 Rau xanh 10 Rau xanh 10
Hàm

hơn, đặc biệt ỉà người tiêu dùng ở các nước châu Âu và Mỹ
Khi nuôi cá tra xuất khẩu, người ta thường’ sử dụng loại cá tra thịt trắng. Ngoài
mục nuôi cá tra thương phẩm, thiết nghĩ chúng tôi cần bổ vSung thêm một số kinh
nghiệm của những người nuôi cá tra xuất khẩu thành công, đặc biệt là kinh nghiệm
của chị Phạm Ngọc Xuân ở xã Mỹ Hòa, thành phố Long Xuyên (tính An Giang).
1. Ao nuôi
Dĩ nhiên bạn cũng cần chọn nơi làm ao cổ nguồn nước sạch dồi dào, dễ cấp và
thoát nước. Nhìn chung, không nên nuôi gần những khu chăn nuôi, cây trồng tập
trung để giúp cá tránh bệnh từ những vùng này.
Ao càng lớn thì khả năng trao đổi oxy càng nhiều, giúp cá mau lớn và ít bệnh hơn.
Muốn nuôi xuất khẩu, bạn nên đào ao từ 5.000m2 trở lên.
2. Hệ thống cống
Bạn nên đặt công bơm nổi để khi bơm nước vào ao, tạo ra nhiều bọt cung cấp oxy
cho cá. Nếu có điều kiện, bạn sử dụng thêm một vài ao dự trữ nước (xử lý nước ao
thật sạch rồi để lắng trước khi bơm vào ao nuôi).
Ao phải có hệ thông xả nước (đường kính ống rông) để trong 2 giờ có thể xả từ 1/3
đến phân nửa lương nưởc trong ao. Nếu ao có diện tích lha, bạn cần làm ông có
đường kính 0,8 - lm.
3. Máy bơm
Bạn cần có máy bơm công suất lớn, có thể bơm 80 - 100% lưu lượng nước trong
một ngày. Khi cá có trọng lượng khoảng 600g, bạn bơm xả luân phiên khoảng 15 -
20 giờ mỗi ngày.
4. Nước
Bạn có thể xử lý nước bằng các loại thuốc xử lý đáy ao khi cá còn nhỏ (dưới
300g). Lúc cá từ 300g trở lên, bạn có thể sử dụng clorin để khử trùng. Liều lượng:
l0kg/ha; 10 ngày xử lý một lần. Ngoài ra, bạn cố thể dùng vôi bột để xử ỉý với liều
lượng 1 tấn/ha ao.
5. Thức ăn
Nếu bạn cho cá ăn thức ăn tự chế biến với thành phần cá biển 30 - 50%/khẩu phần
thì cá rất thích ăn. Tuy nhiên, nếu không bổ sung khoáng, vitamin thì cá vẫn chậm

1. Di truyền và giống
Ở nước ta có một loại cá da trơn mà người dân thưởng gọi là cá tra nghệ
(Pangasius Uunyii), còn gọi là “bông ìau nghệ”. Loại cá này có da thịt màu vàng
như nghệ, nhưng thịt lại thơm ngon. Người ta thường khai thác loài này trong thiên
nhiên là chính, số lượng nuôi không nhiều. Vào năm 2001, Trung tâm Nghiên cứu
Sản xuất giống Thủy sản An Giang đã cho sinh sản nhân tạo loài cá này. Tuy
nhiên, con giống vẫn chưa chiếm số lượng nhiều trong các loại cá tra đang được
nuôi thương mại.
2. Bệnh
Thông thường, nếu nguyên nhân xuất phát từ bệnh (liên quan tới gan và mật) thì da
cá sẽ bị vàng. Tác nhân gây bệnh chính là loài giun sán ký sinh trong túi mật.
Ngoài việc cá bị vàng da, nếu tình trạng bệnh nặng, cá sẽ bỏ án rồi chết. Khi bị
bệnh này dẫn đến vàng da thi khả năng -iehuyển hóa thức ăn và hấp thu thuốc của
cá suy giảm, điều trị rất khố khăn.
Tốt nhất, ta nên phòng bệnh cho cá bằng cách sử dụng thuốc tẩy giun sán định kỳ
cho chúng. Hiện nay, không có thuốc tẩy giun sán chuyên dùng cho cá. Do đó, bạn
cổ thể tạm thời mua loại thuốc dành cho gia cầm, gia súc cố bán ở cắc cửa hàng
thuốc thú y và thủy sản. Tuy nhiên, bạn cần cân nhắc kỹ trước khi quyết định sử
dụng những loại thuốc này.
Bệnh đốm trắng trên gan cá cũng khỉến thịt cá bị vàng. Tác nhân gây bệnh chính là
vi khuẩn Edward ỉctaluri. Việc trị bệnh chỉ có hiệu quả tốt khi ta phát hiện sớm
được bệnh (trong giai đoạn đầu), bởi loài vi khuẩn này có thể đề kháng trước một
số loại kháng sinh thông thường như Oxytetra
Nếu nuôi cá ở mật độ cao mà không có biện pháp kỹ thuật và quản lý môi trường
tốt thì cá có thể bị vi trùng, vi khuẩn tấn công. Ngoài ra, nếu cá bị bệnh kéo dài
hoặc lặp lại nhiều lần thì thịt cá cũng sẽ bị vàng.
3. Môi trường
Cá được nuôi trong môi trường ao nước tù đọng, dưỡng khí hòa tan thấp, nhiều
mùn bã hữu cơ, sinh vật tảo và khí độc thì thịt cá tra sẽ bị vàng. Để khắc phục tình
trạng này, bạn cần làm cho nước ao trong sạch, có nguồn nước ra vào thường

bạn cần xử lý ngay. Nhờ thế, cá sẽ mau lớn, giảm nguy cơ bị bệnh. Nếu muốn, bạn
có thể nuôi ghép một số loại cá khác vào ao nuôi cá tra. Thí dụ: nuôi cá tra 70 —
80% 120 - 30% cá trắng.

Trích đoạn NUÔICÁ TRA VÀ CÁ BASA THƯƠNG PHẨM SẢN XUẤT GIỐNG CÁ BASA
Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status