ĐỀ TÀI: GIẢI PHÁP HẠN CHẾ RỦI RO TÍN DỤNG TẠI NGÂN HÀNG TMCP QUỐC TẾ VIỆT NAM – PGD CÁT LÁI (2010 - 2012). - Pdf 11

BỘ CÔNG THƯƠNG
TRƯỜNG ĐH CÔNG NGHIỆP TP.HỒ CHÍ MINH

BÁO CÁO THỰC
TẬP
ĐỀ TÀI: GIẢI PHÁP HẠN CHẾ RỦI RO
TÍN DỤNG TẠI NGÂN HÀNG TMCP
QUỐC TẾ VIỆT NAM – PGD CÁT LÁI
(2010 - 2012).
Chuyên ngành: Tài Chính - Ngân Hàng
TP.Hồ Chí Minh, ngày 01 tháng 07 năm 2013
1
BỘ CÔNG THƯƠNG
TRƯỜNG ĐH CÔNG NGHIỆP TP.HỒ CHÍ MINH

ĐỀ TÀI: GIẢI PHÁP HẠN CHẾ RỦI
RO TÍN DỤNG TẠI NGÂN HÀNG
TMCP QUỐC TẾ VIỆT NAM – PGD
CÁT LÁI (2010 - 2012).
Chuyên ngành: Tài Chính - Ngân Hàng
Sinh viên thực hiện: Nguyễn Thị Tuyết
Mai
Lớp: CDTN12C
Khoá: 2010 - 2013
Giảng viên hướng dẫn: Phạm Thị Phương
Loan.
TP.Hồ Chí Minh, ngày 01 tháng 07 năm 2013
2
LỜI CẢM ƠN
Kính chào cô Phạm Thị Phương Loan, các giáo viên khoa
Tài chính - Ngân hàng trường ĐH Công Nghiệp Tp.HCM cùng

4
NHẬN XÉT CỦA GIẢNG VIÊN HƯỚNG DẪN
o0o
GVHD: Th.s Phạm Thị Phương Loan.
5
LỜI CAM ĐOAN
Em xin cam đoan luận văn “Giải pháp hạn chế rủi ro tín dụng tại
Ngân hàng TMCP Quốc tế Việt Nam – PGD Cát Lái (2010 - 2012)” là do
chính em nghiên cứu và thực hiện. Các số liệu từ luận văn được thu thập từ
thực tế có nguồn gốc rõ ràng, đáng tin cậy, được xử lý trung thực và khách
quan. Em xin tự chịu trách nhiệm về tính xác thực và tham khảo tài liệu
khác.

7
2. Mục tiêu nghiên cứu.
- Phân tích, đánh giá hoạt động kinh doanh của Ngân hàng TMCP Quốc tế
Việt Nam – PGD Cát Lái.
- Đánh giá hoạt động huy động vốn, hoạt động cho vay tại PGD VIB - Cát
Lái.
- Đánh giá tình hình nợ quá hạn, tìm ra nguyên nhân của những khoản nợ
quá hạn.
- Qua phân tích đánh giá trên ta phát hiện ra những mặt mạnh cũng như điểm
yếu của Phòng giao dịch để đưa ra các giải pháp hạn chế rủi ro tín dụng.
- Đề ra một số kiến nghị với các cơ quan ban ngành tạo điều kiện thực hiện
được các giải pháp đưa ra ở trên.
3. Phạm vi và phương pháp nghiên cứu.
a. Phạm vi nghiên cứu
Trong khoảng thời gian thực tập và nhận biết trực tiếp một tháng tại Ngân
hàng là khoảng thời gian tương đối ngắn cùng với những kiến thức tích luỹ
còn hạn hẹp nên việc tiếp cận thực tế gặp phải khó khăn kết hợp giữa lý thuyết
và thực tế không tránh khỏi những hạn chế. Đề tài không thể nghiên cứu hết
các hoạt động của Phòng giao dịch mà chỉ đánh giá trong hoạt động tín dụng.
Thêm vào đó, sự hạn chế về mặt số liệu do sự bảo mật thông tin nên đề tài
chủ yếu dựa trên các báo cáo hoạt động kinh doanh, báo cáo phân loại Nợ và
một số tài liệu văn bản liên quan khác.
b. Phương pháp nghiên cứu.
 Phương pháp thu thập số liệu :
- Trao đổi, hỏi trực tiếp với các cán bộ công nhân viên và phòng ban
chức năng của phòng giao dịch VIB Cát Lái.
- Thu thập số liệu, báo cáo hoạt động kinh doanh qua 3 năm (2010, 2011
và 2012).
- Các văn bản liên quan đến việc thành lập, tổ chức và hoạt động của
Phòng giao dịch VIB – Cát Lái.

dưới hình thức hiện vật hay tiền tệ từ người sở hữu sang người sử dụng sau đó
hoàn trả với một lượng giá trị lớn hơn giá trị. Hay nói một cách khác thì tín
dụng là việc một bên (bên cho vay) cung cấp nguồn tài chính cho đối tượng
khác (bên đi vay) trong đó bên đi vay sẽ hoàn trả tài chính cho bên cho vay
trong một thời hạn thỏa thuận và thường kèm theo lãi suất.
1.1.2. Đặc trưng của tín dụng.
 Thứ nhất : tín dụng là quan hệ chuyển nhượng mang tính chất tạm thời.
tính chất tạm thời của quan hệ tín dụng được đề cập là thời gian sử dụng
lượng giá trị đó. Nó là kết quả của sự thảo thuận của các đối tác tham gia
quá trinh chuyển nhượng để đảm bảo sự phù hợp giữa thời gian nhàn rỗi
và thời gian cần sử dụng lượng giá trị đó.
 Thứ hai : tính hoàn trả lượng vốn được chuyển nhượng phải được hoàn
trả đúng hạn cả thời gian và về giá trị bao gồm hai bộ phận gốc cả lãi.
Phần lãi là giá trị tăng lên cho việc sử dụng vốn tạm thời.
 Thứ ba : quan hệ dựa trên cơ sở tin tưởng giữa người đi vay và người cho
vay. Có thể nói đây là điều kiện tiên quyết để thiết lập quan hệ tín dụng.
Người cho vay tin tưởng rằng vốn của họ sẽ được hoàn trả đầy đủ khi
đến hạn. Người đi vay cũng tin tưởng khả năng phát huy hiệu quả của
vốn vay. Sự gặp gỡ giữa người vay và người cho vay ở điểm này đã tạo
nên mối quan hệ tín dụng.
 Thứ tư : hoạt động tín dụng luôn chứa đựng những rủi ro. Đó là do sự mất
cân xứng về thông tin của người đi vay có quan hệ tín dụng với người
cho vay. Sự đánh giá của người cho vay về khách hàng của mình dù có
kỹ lưỡng đến đâu cũng không thể tránh được những rủi ro tiềm ẩn. Bởi
vì ngoài những nguyên nhân chủ quan từ phía người cho vay thì người
vay cũng có những nguyên nhân khách quan như: sự biến động của thị
10
trường, chu kỳ kinh tế, sự thay đổi đột ngột của chính sách, pháp luật,
những nguyên nhân bất khả khán như thiên tai, dịch bệnh,
Về bản chất của tín dụng này mang các dấu hiệu đặc trưng như sau:

việc thúc đẩy nền kinh tế phát triển, nó kích thích việc tập trung vốn,
thúc đẩy việc sử dụng vốn và tái sản xuất có hiệu quả.
1.1.3.2. Chức năng tiết kiệm tiền mặt và chi phí lưu thong trong xã hội.
Nhờ hoạt động của tín dụng mà nó có thể phát huy chức năng tiết kiệm
tiền mặt và chi phí lưu thông trong xã hội, điều này thể hiện qua các
mặt:
- Hoạt động tín dụng tạo điều kiện cho sự ra đời của các công cụ lưu
thông tín dụng như: thương phiếu, kỳ phiếu Ngân hàng và các loại
sec, thẻ tín dung, thẻ thanh toán,… cho phép thay thế một số lượng
lớn tiền mặt trong lưu thông, nhờ đó làm giảm chi phí có liên quan
như: in, đúc, vận chuyển và bảo quản tiền,…
- Hoạt động tín dụng giúp cho các nguồn vốn nhàn rỗi trong xã hội
được huy động cho các nhu cầu của sản xuất và lưu thông hàng hóa
sẽ có tác dụng tăng hiệu quả sử dụng và tốc độ chu chuyển nguồn
vốn trong toàn xã hội được nâng cao.
- Sự hoạt động của tín dụng đặc biệt là tín dụng Ngân hàng đã thúc
đẩy việc mở tài khoản và giao dịch thanh toán tiền thông qua Ngân
hàng dưới các hình thức thanh toán chuyển khoản, sử dụng thẻ
ATM, sec hoặc thanh toán bù trừ cho nhau…
- Cùng với sự phát triển mạnh mẽ của tín dụng thì hệ thống thanh toán
qua Ngân hàng ngày được mở rộng, vừa cho phép giải quyết nhanh
chóng các mối quan hệ kinh tế vừa thúc đẩy quá trình ấy tạo điều
kiện cho nền kinh tế - xã hội phát triển.
1.1.3.3. Chức năng kiểm soát các hoạt động kinh tế.
Đây là chức năng phát sinh và cũng là hệ quả của hai chức năng trên. Sự
vận động của vốn tín dụng phần lớn là sự vận động gắn liền với vận
động của vật tư, hàng hóa, chi phí trong xí nghiệp, các tổ chức kinh tế.
Vì vậy, tín dụng không những là tấm gương phản ánh hoạt động kinh tế
của các doanh nghiệp mà còn thông qua đó thực hiện việc kiểm soát các
hoạt động nhằm ngăn chặn tiêu cực, lãng phí, vi phạm pháp luật trong

13
- Tín dụng không đảm bảo (tín chấp): là loại tín dụng không có tài sản thế
chấp, cầm cố hoặc sự bảo lãnh của bên thứ ba, mà việc cho vay chỉ dựa
vào uy tín của bản thân khách hàng.
- Tín dụng có bảo đảm: là loại tín dụng mà khi cho vay đòi hỏi người vay
vốn phải có tài sản cầm cố, thế chấp hoặc bảo lãnh của người thứ ba.
- Tín dụng bằng chữ ký: tức là Ngân hàng sử dụng uy tín của mình để bảo
lãnh cho khách hàng có nhu cầu được bảo lãnh với mục đích tạo sự tin
tưởng cho người thụ hưởng để hợp đồng được ký kết.
1.1.4.4. Căn cứ vào phương thức cho vay.
- Cho vay theo món (cho vay từng lần): mỗi lần vay vốn khách hàng và
Ngân hàng thực hiện thủ tục vay vốn cần thiết và ký hợp đồng tín dụng.
Đặc điểm của loại vay này là Khách hàng xin vay món nào thì phải làm
hồ sơ vay món đó. Như vậy nếu trong một quý Khách hàng có bao
nhiêu món vay thì phải làm báy nhiêu hồ sơ xin vay. Bộ phận tín dụng
tiến hành phân tích hồ sơ xin vay và xem xét cho vay đối với từng
trường hợp cụ thể.
- Cho vay theo hạn mức tín dụng: Ngân hàng và Khách hàng xác định và
thảo luận một hạn mức tín dụng duy trì trong một khoản thời gian nhất
định. Đặc điểm cơ bản của loại vay này là một hồ sơ xin vay cho nhiều
món vay. Cụ thể Khách hàng nộp hồ sơ vay vốn một lần vào đầu quý
mặc dù trong quý có phát sinh thêm nhiều món vay nhưng cũng chỉ làm
một bộ hồ sơ duy nhất. Ngân hàng tiến hành phân tích tín dụng và nếu
đạt yêu cầu để chấp nhập cho vay thì hai bên tiến hành ký hợp đồng tín
dụng, trong hợp đồng tín dụng Ngân hàng sẽ xác định hạn mức tín dụng
của Khách hàng.
Với hạn mức tín dụng: là mức dư nợ vay tối đa được duy trì trong một thời
hạn nhất định mà Ngân hàng và Khách hàng đã thoả thuận trong hợp đồng
tín dụng. khác với loại vay thông thường, Ngân hàng không xác định kỳ
14

tiên đầu tư phát triển nông nghiệp để giải quyết nhu cầu tối thiểu của xã
hội, tạo điều kiện thúc đẩy các ngành kinh tế khác. Bên cạnh đó Nhà
nước còn tập trung tín dụng để tài trợ cho các ngành kinh tế mũi nhọn
mà việc phát triển các ngành này sẽ tạo cơ sở lôi cuốn các ngành kinh tế
khác như sản xuất hàng xuất khẩu và khai thác dầu khí.
- Tín dụng Ngân hàng tạo điều kiện cho việc phát triển ngoại thương.
Trong kinh doanh xuất nhập khẩu, các doanh nghiệp rất cần nhiều ngoại
tệ mà chính họ lại không thể có ngay lượng ngoại tệ đó được. Khi đó
Ngân hàng đóng vai trò làm trung gian giữa các tổ chức kinh tế trong
nước với các tổ chức nước ngoài trong việc thanh toán tiền hàng hoá
dịch vụ thông qua các nghiệp vụ thanh toán quốc tế, kinh doanh ngoại tệ
của mình.
1.2. NHỮNG VẤN ĐỀ CHUNG VÈ RỦI RO TÍN DỤNG.
1.2.1. Khái niệm rủi ro tín dụng.
Rủi ro tín dụng (credit risk) là nguy cơ bên đi vay không thể thanh toán cả gốc và
lãi theo thời hạn đã ấn định trong hợp đồng tín dụng.
Hay nói cách khác là thuộc vốn có của hoạt động cho vay và góp vốn, phát sinh
trong trường hợp việc thanh toán bị trì hoãn hoặc tồi tệ hơn là mất khả năng thanh
toán. Điều này gây ảnh hưởng nghiêm trọng đến dòng luân chuyển tiền tệ và ảnh
hưởng khả năng thanh khoản của ngân hàng.
1.2.2. Phân loại rủi ro tín dụng.
Có nhiều cách để phân loại rủi ro tín dụng, dưới đây là một số phân loại
gây nên rủi ro tín dụng:
1.2.2.1. Phân loại theo khách quan, chủ quan.
16
- Rủi ro khách quan: do các nguyên nhân khách quan gây ra như thiên
tai, dịch, dịch bệnh, người vay bị chết, mất tích không có người thừa
kế hoặc do các biến động khác ngoài dự kiến như làm thất thoát vốn
vay trong khi người cho vay đã thực hiện nghiêm túc chế độ chính
sách.

trên vốn tự có - doanh số hoạt động trên vốn tự có thấp. Tuy
nhiên, khi xem xét tình hình tài chính của doanh nghiệp phải đi
sâu vào khả năng thanh toán trong tương lai khi đến kì hạn trả nợ
(khách hàng đang vay vốn ở những nơi nào? bao nhiêu? trả nợ
như thế nào? nguồn trả ở đâu?). Đồng thời phải xem công nợ và
quá trình thanh toán cho những khoản vay để đánh giá độ trung
thực của báo cáo tài chính.
• Rủi ro do biến động khả năng kinh doanh của người vay (chủ
quan): xảy ra khi doanh nghiệp vay vốn không theo kịp những
thay đổi về chế độ, chính sách, không thích ứng được với những
cạnh tranh gay dắt trên thị trường về cả chất lượng sản phẩm
cũng như giá thành, mẫu mã, dịch vụ và về việc thông tin quảng
cáo sản phẩm.
• Rủi ro từ phía điều hành doanh nghiệp, ngành nghề hoạt động,
vị trí của doanh nghiệp, mối quan hệ của doanh nghiệp với các
doanh nghiệp khác: giới tính, độ tuổi, trình độ văn hoá, trình độ
tổ chức điều hành, tư cách đạo đức của người điều hành cũng
như vị trí của ngành đó trong nền kinh tế như thế nào? có tên tuổi
hay không? Thuộc công ty lớn, nhỏ hay trung bình, chất lượng
sản phẩm trên thị trường… cũng là các vấn đề mà Ngân hàng
phải quan tâm khi muốn đầu tư vào.
1.2.2.3. Phân loại khác.
- Rủi ro từ khâu quản lý, kiểm tra của Ngân hàng Nhà nước: Ngân
hàng Nhà nước với tư cách là cơ quan quản lý Nhà nước đối với các
Ngân hàng Thương mại và ban hành các cơ chế, quy định về hoạt
động tín dụng trong nền kinh tế thị trường. Tuy nhiên, việc sửa đổi
bổ sung hay ban hành mới các văn bản về chế độ an toàn vốn, trích
dự phòng bù đắp rủi ro, tài sản thế chấp, quy định về thanh tra, kiểm
18
soát, công tác thông tin tín dụng còn chưa kịp thời và chưa đáp ứng

kinh doanh kém hiệu quả thậm chí thua lỗ và có thể phá sản.
- Tỉ lệ thu nhập từ hoạt động tín dụng đống góp vào vào tổng thu nhập cửa
Ngân hàng chiếm khá cao. Do đó rủi ro tín dụng ảnh hưởng rất lớn đến
tổng thu nhập của Ngân hàng, ảnh hưởng đến hiệu quả, uy tín của Ngân
hàng. Biểu hiện rõ nhất của rủ ro tín dụng là tỉ lệ dư nợ quá hạn, nợ xấu
tăng cao. Ở các nợ quá hạn gọi chung là nợ xấu, khi tỉ lệ này của Ngân
hàng lên tới 5% tổng dư nợ thì được coi là báo động.
- Khi Ngân hàng có tỉ lệ nợ quá hạn quá cao sẽ ảnh hưởng rất lớn tới hiệu
quả hoạt động và hình ảnh uy tín của Ngân hàng. Ngân hàng đang có tỉ lệ
dư nợ quá hạn cao buộc họ phải dung quỹ dự phòng rủi ro để xử lí. Việc đó
làm giảm lợi nhuận của Ngân hàngvà tỉ lệ chia cổ tức bị bị sụt giảm hoặc
bằng không. Điều quan trọng hơn là hình ảnh, uy tín của Ngân hàng bị ảnh
hưởng rất nặng nề. Tỉ lệ dư nợ quá hạn cao sẽ tạo tâm lý không tin tưởng
cho khách hàng khi gởi tiển vào Ngân hàng. Ngân hàng sẻ rất khó để có thể
thu hút khách hàng mới và giữ chân khách hàng cũ, từ đó tạo cho Ngân
hàng áp lực lớn về nguồn vốn huy động. Thêm vào đó tỷ lệ vốn huy động
và dư nợ cho vay lại rất lớn so với vốn tự có của Ngân hàng. Do đó, khi rủi
ro tín dụng xảy ra thì nguy cơ Ngân hàng bị thâm hụt vốn tự có là rất cao,
làm mất cân đối thu chi. Đồng thời, Ngân hàng sẽ bị kiểm soát chặt chẽ,
phải tuân thủ theo chế độ kiểm soát đặc biệt là lúc Ngân hàng không thể
phát triển thêm các sản phẩm dịch vụ mới cùng với việc mở rộng mạng lưới
chi nhánh.
- Còn đối với Ngân hàng Thương mại cổ phần, đặt biệt là những Ngân hàng
Thương mại cổ phần có niêm yết cổ phiếu trên thi trường chứng khoán thì
tỷ lệ dư nợ quá hạn sẽ ảnh hưởng rất nghiêm trọng đến giá trị cổ phiếu trên
thị trường. Từ đó có thể tác động xấu đến giá trị tài sản Ngân hàng trên thị
trường.
20
1.2.4.2. Ảnh hưởng đến lòng tin của công chúng vào hệ thống Ngân hàng.
Uy tín lòng tin của công chúng là những vấnđề hết sức quan trọng trong

Website: WWW.vib.com.vn
Biểu tượng logo chung của Ngân hàng TMCP Quốc tế Việt Nam:
22
Ngày 20 tháng 10 năm 2011, sau 15 năm hoạt động, VIB đã trở thành một trong
những ngân hàng TMCP hàng đầu Việt Nam với tổng tài sản đạt trên 100 nghìn tỷ
đồng, vốn điều lệ 4.250 tỷ đồng, vốn chủ sở hữu đạt trên 8.200 tỷ đồng. VIB hiện
có 4.300 cán bộ nhân viên phục vụ khách hàng tại 150 chi nhánh và phòng giao
dịch tại trên 27 tỉnh/thành trọng điểm trong cả nước. Trong quá trình hoạt động,
VIB đã được các tổ chức uy tín trong nước, nước ngoài và cộng đồng xã hội ghi
nhận bằng nhiều danh hiệu và giải thưởng, như: danh hiệu Thương hiệu mạnh Việt
Nam, danh hiệu Ngân hàng có dịch vụ bán lẻ được hài lòng nhất, Ngân hàng thanh
toán quốc tế xuất sắc, ngân hàng có chất lượng dịch vụ khách hàng tốt nhất, đứng
thứ 3 trong tổng số 500 doanh nghiệp tư nhân lớn nhất Việt Nam về doanh thu do
báo VietnamNet bình chọn…. Năm 2010 ghi dấu một sự kiện quan trọng của VIB
với việc Ngân hàng Commonwealth Bank of Australia (CBA) – Ngân hàng bán lẻ
số một tại Úc và là Ngân hàng hàng đầu thế giới với trên 100 năm kinh nghiệm đã
chính thức trở thành cổ đông chiến lược của VIB với tỉ lệ sở hữu cổ phần ban đầu
là 15%. Sau một năm chính thức trở thành cổ đông chiến lược của VIB, ngày
20/10/2011, CBA đã hoàn thành việc đầu tư thêm 1.150 tỷ đồng vào VIB, tăng tỷ
lệ sở hữu cổ phần của CBA tại VIB từ 15% lên 20% nhằm tăng cường cơ sở vốn,
hệ số an toàn vốn, mở rộng cơ hội kinh doanh và quy mô hoạt động cho VIB. Mối
quan hệ hợp tác chiến lược này tạo điều kiện cho VIB tăng cường năng lực về vốn,
23
công nghệ, quản trị rủi ro … để triển khai thành công các kế hoạch dài hạn trong
chiến lược kinh doanh của VIB và đặc biệt là nâng cao chất lượng Dịch vụ Khách
hàng hướng theo chuẩn mực quốc tế.
Là một trong những ngân hàng tiên phong trong việc cải tổ hoạt động kinh
doanh, VIB luôn định hướng lấy khách hàng làm trọng tâm, lấy chất lượng dịch vụ
và giải pháp sáng tạo làm phương châm kinh doanh với quyết tâm “trở thành ngân
hàng sáng tạo và hướng đến khách hàng nhất tại Việt Nam”. Một trong những sứ

Tên tiếng việt: Ngân hàng TMCP Quốc tế Việt Nam – PGD Cát Lái.
25


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status