Giải pháp hạn chế rủi ro tín dụng ở ngân hàng công thương hoàn kiếm - Pdf 10

Lời mở đầu
Trong những năm qua, Nớc ta đã thực hiện vận hành nền kinh tế theo cơ
chế thị trrờng. Môi trờng kinh tế cạnh trang đã tạo ra triển vọng và điều kiện
thuận lợi cho các doanh nghiệp nói chung và các doanh nghiệp ngân hàng nói
riêng. Sau khi hệ thống ngân hàng đợc tổ chức lại, trở thành hệ thống ngân
hàng hai cấp theo nghị định 53/HĐBT, các ngân hàng thơng mại đã đợc tách ra
với t cách là đơn vị kinh doanh tiền tệ mà mục tiêu chủ yếu của nó là tối đa
hoá lợi nhuận. Nhng đồng thời cơ chế thị trờng với đầy dẫy những rủi ro bất
trắc lại đặt các doanh nghiệp (trong đó có doanh nghiệp ngân hàng) trớc những
thử thách khốc liệt, ngiệt ngã bởi sự cạnh tranh để tồn tại và phát triển.
Rủi do luôn là canh bệnh bẩm sinh vốn có của nền kinh tế thị trờng. Gắn
liền với khả năng thu lợi nhuận cao thì bao giờ cũng xuất hiện những tiềm tàng
khả năng rủi ro lớn đối với nó. Đáng chú ý là trong lĩnh vực kính doanh tiền tệ
khả năng rủi ro đối với các doanh nghiệp ngân hàng là con số cộng khả năng
rủi ro các doanh nghiệp trong các ngành, các lĩnh vực của nền kinh tế quốc
dân. Bởi vì trong điều kiện cơ chế thị trờng, nguồn vốn vay ngân hàng để tiến
hành hoạt động sản xuất kinh doanh - dịch vụ của các doanh nghiệp bao giờ
cũng chiếm tỷ trọng lớn trong tổng nguồn vốn sản xuất kinh doanh của họ.
Nh vậy, bất kỳ sự rủi ro nào dù lớn hay nhỏ, xảy ra ở bất kỳ một doanh
nghiệp sản xuất kinh doanh nào có quan hệ giao dịch tín dụng với ngân hàng
cũng đều gây ra rủi ro cho ngân hàng. Điều đó cho thấy rủi ro và vấn đề phòng
ngừa rủi ro trong hoạt động kinh doanh tín dụng của ngân hàng bao giờ cũng
là một vấn đề đợc quan tâm hàng đầu vì nó có liên quan và tác động trực tiếp
đến sự sống còn của các ngân hàng.
ở nớc ta vấn đề rủi ro tín dụng và các biện pháp phòng ngừa rủi ro tín
dụng trong kinh doanh của các ngân hàng thơng mại đã đợc đề cập đến từ
mấy năm nay nhng chủ yếu mới trên phơng diện lý luận. Cần có sự tổng kết,
đúc rút kinh nghiệm từ hoạt động thực tiễn của các ngân hàng.
Nhận thức đợc mối nguy hiểm và hậu quả không lờng trớc đợc do các rủi
ro tín dụng ngân hàng gây ra, cùng với những kiến thức và bài học thu đợc
trong đợt thực tập tại ngân hàng công thơng hoàn kiếm, em xin mạnh dạn chọn

,mọi hoạt động của ngân hàng không có hiệu quả ,các ngân hàng thơng mại
đứng ngoài sản xuất ,tác động của ngân hàng tới nền sản xuất là rất yếu .Đã
xuất hiện nhiều căn bệnh hiểm nghèo do hậu quả hoạt động của ngân hàng
không tốt gây ra nh :khủng hoảng, lạm phát ... Mặc dù vậy ,ngân hàng vẫn giữ
vai trò rất to lớn trong nền kinh tế thị trờng .Cụ thể là:
2.1.Ngân hàng tạo ra tín dụng giúp cho nhà kinh doanh có điều kiện
mở rộng sản xuất .
Ngân hàng thơng mại là sản phẩm của nền kinh tế hàng hoá ,thực hiện
các nghiệp vụ của mình về tiền tệ tín dụng .Ngân hàng thơng mại là nơi tích tụ
và tập trung vốn ,nơi khơi dậy và thu hút mọi tiềm năng của xã hội, phục vụ
cho mục tiêu kinh tế xã hội, làm cho sản phẩm xã hội tăng lên .Do vậy giữa
các ngân hàng và các nghành kinh tế có mối quan hệ hữu cơ với nhau .Trên cơ
sở nguồn tiền nhàn rỗi tạm thời cha sử dụng phát sinh trong nền kinh tế mà
ngân hàng huy động đợc ,ngân hàng tiến hành phân phối cho nhu cầu của nền
kinh tế ,đáp ứng nhu cầu về vốn để mở rộng quá trình tái sản xuất .Các doanh
nghiệp hoạt động trong nền kinh tế hàng hoá luôn phải nâng cao trình độ khoa
học kĩ thuật, nâng cao chất lợng, hạ giá thành sản phẩm. Phần lớn các doanh
nghiệp khi mở rông sản xuất bao giờ cũng thiếu vốn. Ngân hàng là thị trờng
vốn bảo đảm cung cấp đầy đủ nhu cầu của doanh nghiệp. Ngoài việc bổ sung
vốn lu động, ngân hàng còn cho vay đầu t dài hạn, giúp cho họ hiện đại hoá
các qui trình công nghệ.
Nh vậy ngân hàng là cầu nối giữa tiết kiệm và đầu t.
2.2- Ngân hàng giúp cho các tổ chức sản xuất kinh doanh quản lý
doanh nghiệp có hiệu quả.
Đặc trng cơ bản của tín dụng ngân hàng là sự vận động trên cơ sở hoàn
trả và có lợi tức. Chúng ta biết rằng giá cả của hàng hoá cho vay chính là lãi
suất tín dụng. Qua lãi suất tín dụng, ngân hàng thúc đẩy các đơn vị phải hạch
toán kinh doanh, nâng cao hiệu quả sử dụng vốn, tăng vòng quay của vốn,
giảm chi phí, tăng khả năng sinh lời để có thể trả lãi vay ngân hàng mà đơn vị
vẫn có lãi.

hoạt động của nền kinh tế. Ngân hàng xác định đợc hớng đầu t vốn ,có biện
pháp xử lý những biến động không hợp lý trong nền kinh tế, kiểm soát quá
trình sản xuất, phân phối sản phẩm xã hội. Ngoài ra, ngân hàng là cơ quan
quản lý tiền tệ nên thông qua nghiệp vụ của mình ,điều hoà lu thông tiền tệ, ổn
định sức mua đồng tiền.
2.6-Ngân hàng thơng mại là cầu nối giữa trong nớc và thế giới bên
ngoài tạo nên môi trờng quyết định phát triển ngoại thơng, công nghiệp và
các ngành có liên quan .
Trong điều kiện hiện nay, phát triển kinh tế của một nớc luôn gắn liền với
thị trờng thế giới, nền kinh tế đóng nhờng bớc cho kinh tế mở. Vì vậy tín dụng
ngân hàng đã trở thành một trong những phơng tiện nối liền kinh tế các nớc
với nhau. Đối với các nớc đang phát triển nói chung và Việt Nam nói riêng,
Ngân hàng thơng mại đóng vai trò quan trọng trong việc mở rộng xuất nhập
khẩu hàng hoá, đồng thời nhờ nguồn tín dụng bên ngoài để công nghiệp hoá và
hiện đại hoá đất nớc.
Tóm lại, trong nền kinh tế hiện đại do áp dụng những thành quả khoa học
kỹ thuật, đặc biệt là công nghệ tin học, không gian và thời gian đã thay đổi.
Vốn cho sản xuất ở mỗi nớc không còn khả năng tự lực cánh sinh mà còn phải
có sự hoà nhập với thị trờng vốn thế giới. Ngân hàng thơng mại chính là cầu
nối cho thị trờng trong và ngoài nớc. Nh vậy nó không chỉ là "Bà đỡ" cho sản
xuất hàng hoá mà nó còn chính là trái tim luôn cung cấp máu cho mọi tế bào
của đời sống kinh tế.
3- Các nghiệp vụ chủ yếu của Ngân hàng thơng mại .
3.1- Huy động tiền gửi của các tổ chức kinh tế và cá nhân.
Đây là một trong những nghiệp vụ chủ yếu của ngân hàng thơng mại.
Thực hiện nghiệp vụ này Ngân hàng thơng mại đã thực hiện đợc một phần
chức năng tạo tiền. Nếu tín dụng ngân hàng không tạo đợc tiền để mở ra những
điều kiện thuận lợi cho quá trình sản xuất và những hoạt động của nó thì trong
nhiều trờng hợp hoạt động sản xuất không thực hiện đợc và nguồn vốn tích luỹ
từ lợi nhuận và các nguồn khác sẽ bị hạn chế. Hơn thế nữa các đơn vị sản xuất

ngân hàng nhà nớc đã ghi 3 nguyên tắc của tín dụng Ngân hàng thơng mại là
"vốn vay phải đợc hoàn trả đầy đủ cả gốc lẫn lãi đúng thời hạn đã kỹ; vốn vay
phải sử dụng đúng mục đích có kết quả; vốn vay phải đảm bảo bằng hàng hoá
có gía trị tơng đơng".
3.3- Nghiệp vụ thanh toán
Việc đa ra một cơ chế thanh toán hay nói cách khác sự vận động vốn là
một trong những chức năng quan trọng do các ngân hàng thơng mại thực hiện .
nó càng trở nên quan trọng khi có đợc sự tín nhiệm trong việc sử dụng séc và
thẻ tín dụng. Phần lớn séc trong nớc đợc thanh toán bù trừ thông qua hệ thống
Ngân hàng thơng mại.
Cùng với sự phát triển của sản xuất hàng hóa, nghiệp vụ thanh toán của
ngân hàng thơng mại không chỉ đơn thuần là trung gian thanh toán mà còn
quản lý các phơng tiện thanh toán một cách có hiệu quả. Hiện nay ở nhiều nớc
ngân hàng đã và đang trang bị hệ thống máy vi tính và các phơng tiện kỹ thuật
hiện đại khác nhằm làm cho quá trình thanh toán bù trừ, thanh toán liên hàng
đợc thực hiện nhanh chóng, giảm bớt chi phí và đạt độ chính xác cao .
3.4-Tham gia vào hoạt động thị trờng hối đoái .
Các Ngân hàng thơng mại có nhiều khách hàng tham gia xuất nhập khẩu,
có thu chi ngoại tệ nhiều .Trong sự phát triển của mình , các ngân hàng đã
hình thành và phát triển nghiệp vụ kinh doanh ngoại tệ và thanh toán quốc
tế .Các nghiệp vụ này là động lực phát triển sản xuất kinh doanh , xuất nhập
khẩu của các đơn vị kinh tế .Xét về mặt ngân hàng, việc mua bán ngoại tệ
cũng nh việc cho vay ngoại tệ đem lại lợi nhuận trên cơ sở mua vào với giá
thấp , bán ra với giá cao hơn, hoặc do sự biến động của tỷ giá ngoại tệ nên việc
mua bán ngoại tệ không thông qua đồng bản tệ hay kinh doanh chênh lệch giá
cũng đem lại lợi nhuận cho ngân hàng.
3.5- Tham gia vào hoạt động trên thị trờng chứng khoán.
Ngân hàng tham gia vào thị trờng chứng khoán là thực hiện các nghiệp vụ
tài chính. Trên thị trờng chứng khoán, ngân hàng thơng mại có thể xuất hiện
với t cách ngời mua bán chứng khoán ,ngời môi giới và bảo lãnh chứng khoán

tín dụng là việc " một ngời đa hoặc hứa đa vốn cho ngời khác ,dùng chữ kí
cam kết cho ngời này nh bảo lãnh , bảo đảm hay bảo chứng mà có thu tiền "
Nh vậy tín dụng dựa vào lòng tin về sự hoàn trả số nợ vay vào một thời
điểm xác định trong tơng lai . Cơ sở của quan hệ tín dụng dựa trên sự phối hợp
chặt chẽ giữa sự chuỷen giao quyền sử dụng vốn và lòng tin , lòng tin này xuất
phát từ hai phía, hai chủ thể tín dụng: Ngời cung cấp tín dụng và khách hàng.
Khả năng kinh tế, khả năng kỹ thuật, uy tín của mỗi chủ thể là cơ sở để tạo ra
lòng tin giữa họ song tín dụng luôn chứa đựng yếu tố thời gian và trong tơng
lai "số phận" của khoản tín dụng sẽ nh thế nào? đó là một điều mà không ai có
thể khẳng định chắc chắn đợc, nghĩa là rủi ro đang chờ đón họ. Rủi ro không
loại trừ bất kỳ một loại tín dụng nào, song tín dụng ngân hàng có khả năng gặp
phải nhiều trở ngại, rủi ro hơn so với tín dụng thơng mại. Bởi vì xem xét rủi ro
trong tín dụng thơng mại chúng ta nhận thấy rủi ro đợc giới hạn trong phạm vi
hàng hoá, có nghĩa là ngời ta sẽ không mua hàng hoá nếu xét thấy khả năng
không bán đợc và nh vậy sẽ không phát sinh quan hệ tín dụng và không có rủi
ro. Còn nếu xem xét rủi ro trong tín dụng ngân hàng thi tình hình lại khác hẳn.
Tín dụng ngân hàng là tín dụng bằng tiền, có phạm vi rộng rãi hầu nh không
giới hạn. Do vậy nhận thức đúng đắn và đầy đủ về rủi ro trong kinh doanh tín
dụng là một vấn đề cần thiết để đảm bảo cho ngân hàng có đợc những giải
pháp hạn chế rủi ro có hiệu quả, giúp ngân hàng đạt đợc mục tiêu của quá trình
kinh doanh là tối đa hoá lợi nhuận.
2- Các loại rủi ro chủ yếu mà ngân hàng thơng mại thờng gặp.
Chúng ta đều biết rằng hoạt động của ngân hàng là loại hình hoạt động
rất cần sự cận trọng song vẫn thờng gặp phải rủi ro. Một ngân hàng thành công
trong hoạt động của nó không chỉ có những cán bộ chuyên môn giỏi mà cần
phải am hiểu nhiều lĩnh vực và đặc biệt phải có phẩm chất đạo đức tốt , có tinh
thần trách nhiệm với công việc. Tuy nhiên vẫn phải khẳng định rằng kinh
doanh ngân hàng là lĩnh vực gặp nhiều rủi ro nhất, trong đó tập trung vào 5
loại rủi ro sau:
2.1- Rủi ro thuần tuý.

ngoài dự kiến của ngân hàng) Nhất là với các Ngân hàng thơng mại Việt Nam,
hiện nay mới đang trong thời kỳ sơ khai, còn nhiều bỡ ngỡ, kinh nghiệm còn
hạn chế do đó vẫn đề rủi ro hối đoái đang đợc các ngân hàng quan tâm một
cách thích đáng.
2.5- Rủi ro nguồn vốn
Thể hiện trên 2 phơng diện: Rủi ro do bị đọng vốn và rủi ro thiếu vốn khả
dụng.
* Rủi ro bị đọng vốn: là trờng hợp ngân hàng huy động vốn mà không
cho vay ra đợc xảy ra tình trạng mất cân đối giữa việc huy động và sử dụng
vốn. Rủi ro này xảy ra có thể do tác động của lãi suất, của công cụ hạn mức tín
dụng hoặc do chất lợng kinh doanh của bản thân ngân hàng.
* Rủi ro thiếu vốn khả dụng xảy ra khi ngân hàng không đáp ứng đợc nhu
cầu thanh toán của khách hàng. Nó xuất phát từ chức năng chuyển hoán các kỳ
hạn sử dụng vốn và gnuồn vốn của ngân hàng. Rủi ro này thể hiện ngân hàng
thiếu vốn hoạt động. Do sự cạnh tranh giữa các thể chế tài chính trên thị trờng
vốn, nếu khả năng thanh toán của ngân hàng kém, ngân hàng lại càng khó lòng
huy động đợc một nguồn vốn dồi dào, từ đó phạm vi hoạt động của ngân hàng
bị thu hẹp, Ngân hàng càng có nguy cơ rủi ro, vỡ nợ. Vì thế loại rủi ro này rất
nguy hiểm đối với nhà quản lý ngân hàng.
Với loại rủi ro này, Ngân hàng luôn đề phòng bằng việc tính toán, duy trì
một hệ thống vốn khả dụng phù hợp với ngân hàng mình. Hệ số này đợc xây
dựng trên cơ sở phân tích cụ thể tình hình nguồn vốn và sử dụng vốn theo tính
chất khả chi và khả dụng thực sự của chúng. Chẳng hạn tiền gửi có kỳ hạn th-
ờng ổn định hơn tiền gửi không kỳ hạn; tiền gửi giữa các ngân hàng thờng bấp
bênh hơn tiền gửi của khách hàng....
Nh vậy, trong năm loại rủi ro kể trên, rủi ro tín dụng là có tác động mạnh
mẽ đến sự tồn tại của ngân hàng. nếu nh cho vay là chức năng chính của nhà
ngân hàng và nó đem lại nguồn lợi nhuận lớn thì đi kèm với nó rủi ro tín dụng
cũng luôn thờng trực và khi đã xảy ra thì sức công phá của nó cũng rất nghiêm
trọng, nó có thể biến Ngân hàng từ trạng thái phát dạt đến nguy cơ bị phá sản.

Tuy nhiên rủi ro ngân hàng và nguy cơ rủi ro vẫn ở mức cao. Trong các năm
1995, 1996 phần lớn các ngân hàng thơng mại quốc doanh đều lỗ. Chỉ số nợ
quá hạn tính chung cho cả 4 ngân hàng là 19,5% so với tổng d nợ. Theo số liệu
của uỷ ban thanh toán công nợ quốc gia đến 31/12/1997 tổng số nợ của các
ngân hàng thơng mại quốc doanh là 2433 tỷ đồng đến nay mới thu hồi đợc
khoảng 500 tỷ, số còn lại khó có khả năng thu hồi cha kể số nợ quá hạn mới
phát sinh từ đó đến nay.
Các ngân hàng thơng mại quốc doanh cũng gặp nhiều khó khăn trong
việc huy động và cho vay vốn, phần lớn hoạt động cầm chừng, phải gửi vốn
vào ngân hàng Nhà nớc và các Ngân hàng thơng mại quốc doanh cho vay lại.
Nh vậy điểm qua hoạt động cho vay của hệ thống các ngana hàng thơng
mại trong giai đoạn vừa qua chúng ta thấy có 3 vấn đề nan giải nhất sau đây:
- Hiện tợng nợ quá hạn ở nhiều ngân hàng có su hớng tăng lên. Vấn đề
đáng lo ngại hiện nay của nhiều ngân hàng là chất lợng hoạt động tín dụng.
Tình trạng nợ quá hạn trở nên phổ biến, tỷ trọng nợ quá hạn cao, có su hớng ra
tăng. Theo báo cáo của Ngân hàng Nhà nớc thì hầu hết các ngân hàng đều có
nợ quá hạn. Trong toàn bộ hệ thống ngân hàng thơng mại chỉ tính riêng nợ quá
hạn khó đòi đã tới con số hàng ngàn tỷ đồng. Năm 2000 so với 1999, d nợ quá
hạn của các Ngân hàng thơng mại quốc doanh tăng 1,18% nhng do d nợ tín
dụng tăng nên xét về số tuyệt đối thì số nợ tín dụng của năm 2000 sẽ tăng hơn
mức d nợ quá hạn của năm 1999 không phải là 1,18% nữa mà là 1,4%. Điều
này cho thấy mức độ thiệt hại có thể xảy ra càng lớn bởi lẽ d nợ tín dụng tăng
lênchủ yếu nhờ vào nguồn vốn tín dụng tăng còn số vốn tự có của các ngana
hàng thờng tăng lên với một tốc độ chậm chạp, vì thế tỷ lệ rủi ro so với vốn tụ
có cũng theo su hớng tăng lên ,làm lung lay nền tảng của các Ngân hàng thơng
mại .
Cũng nh vậy ,các Ngân hàng thơng mại cổ phần đang phải đối đầu với tỷ
lệ nợ quá hạn thờng ở mức 5% trên tổng d nợ ,nhiều ngân hàng tỷ lệ nợ quá
hạn còn chiếm trên 20 % tổng d nợ một con số nếu không có biện pháp ngăn
ngừa kịp thời sẽ gây nên những hậu quả nghiêm trọng khó lờng.

dụng của nhà ngân hàng. Đó cũng là lẽ tất nhiên nh sự rủi ro của mọi ngành
nghề kinh doanh khác. Thế nhng nếu xét thực tế ở Việt Nam hiện nay,tỷ lệ d
nợ quá hạn bình quân toàn quốc khoảng 4% so với tổng d nợ , cá biệt có một
số ngân hàng ở mức trên 10%. Trong khi thông lệ quốc tế chỉ cho phép ở mức
1-2%. Quả là vấn đề nợ quá hạn ở các Ngân hàng thơng mại Việt Nam quá
nguy hiểm , cần phải đợc xem xét cẩn thận. Vậy những nguyên nhân nào dẫn
đến tình trạng chung nợ quá hạn cao nh vậy?
3.2- Nguyên nhân gây ra rủi ro tín dụng .
3.2.1. Nguyên nhân khách quan.
*Môi trờng pháp lý kinh tế .
Cơ chế chính sách thay đổi thờng xuyên trong thừi gian qua (chính sách
xuất nhập khẩu, chính sách đất đai...) làm cho môi trờng kinh tế không ổn
định, ảnh hởng đến chiến lợc kinh doanh của doanh nghiệp, làm đảo lộn chính
sách tín dụng của từng ngân hàng, là nguyên nhân tác động mạnh mẽ đến sự
bất ổn mà hiện nay các Ngân hàng thơng mại còn đang phải khắc phục hậu
quả.
Môi trờng pháp lý kinh doanh ngân hàng cha đầy đủ, cha đồng bộ , thể
hiện ở việc ban hành và hớng dẫn thực hiện các qui định, thông t hớng dẫn cha
thống nhất giữa các ngành liên quan để khi thực hiện tại ngân hàng cơ sở có
lúc bị vi phạm.
* Hiệu lực quản lý của các cơ quan quản lý nhà nớc cha cao.
Hiệu lực của cơ quan hành pháp cha cao, cha nhất quán trong việc thực
thi những vấn đề có liên quan đến hoạt động ngân hàng. Quản lý của nhà nớc
đối với các doanh nghiệp nhiều lúc còn sơ hở, nhà nớc cho phép nhiều doanh
nghiệp đợc sản xuất kinh doanh với nhiều chức năng, nhiệm vụ vợt quá trình
độ năng lực quản lý , qui mô hoạt động quá lớn so với khả năng nguồn vốn tự
có của doanh nghiệp, làm nảy sinh những điều kiện dẫn đến rủi ro .
*Trờng hợp một số doanh nghiệp và nhà sản xuất gặp khó khăn: hàng hoá
vật t tồn đọng, thua lỗ, mất khả năng thanh toán nên phát sinh nợ quá hạn và
nợ khó đòi. Một số khách hàng vay vốn là những phần tử xấu có hành vi lừa

Đáng chú ý là nhiều đối tợng xin vay vốn nhng không phục vụ cho mục
tiêu tăng trởng kinh tế, không tạo ra của cải vật chất, ngoài chế độ quy định
miễn sao thu hồi đợc gốc và lãi. Cơ chế thị trờng tỏ ra linh hoạt nhng nó cũng
có những mặt trái nhất định, nhất là ở những nơi nh thành phố, thị xã có nhiều
Ngân hàng thơng mại và tổ chức tín dụng hoạt động. Hơn nữa đối với các
Ngân hàng thơng mại quốc doanh lại đang thực hiện chế độ khoán tài chính
không cho vay thì không có lãi và không có thu nhập.
Vì vậy nhiều nơi lợi dụng cơ chế đó đã dẫn đến tình trạng cạnh tranh
không lành mạnh, có những nơi cho vay chỉ cần có tài sản thế chấp, có nơi cho
vay buôn bán bất động sản nhà cửa đất đai và số tiền cho vay không phải là
nhỏ. Ngời vay nếu là doanh nghiệp Nhà nớc hay t nhân bỏ vốn ra kinh doanh
lại đợc sự giúp đỡ tận tình của ngân hàng và nếu cuộc mua bán "thông đồng
bén giọt" lợi nhuận tạo ra cho cả hai bên rất nhanh chóng, nhng nếu không
thành công có sự trục trặc hoặc do sự giả mạo của giấy tờ thì ngân hàng không
biết đến bao giờ mới đòi hết nợ. Vừa qua liên hiệp dâu tơ tằm Việt Nam lại đ-
ợc khoanh nợ gần 300 tỷ đồng trong vòng 5 năm do sử dụng vốn sai mục đích
lấy vốn ngắn hạn để đầu t vào tài sản cố định.
Một nguyên nhân nữa là do tình trạng đảo nợ, cho vay món mới để thu
hồi món cũ vì còn có khoản lãi cộng vào, do nợ quá hạn phát sinh không thu đ-
ợc. Việc cho vay này vừa giữ đợc khách hàng lại vừa đạt các chỉ tiêu cho vay
thu nợ, thu lãi. Trờng hợp này Ngân hàng ăn thâm cả vào vốn.
Nh vậy trong cơ chế thị trờng đầy khắc nghiệt, buộc các ngân hàng phải
chủ động linh hoạt tìm khách hàng nhng để cho vay đợc mà hạ thấp các tiêu
chuẩn cho vay quả là vấn đề mạo hiểm. Vì vậy các Ngân hàng thơng mại cần
phải xem xét lại chính sách khách hàng nếu không muốn tăng các khoản nợ
khó đòi.
*Thông tin không cân xứng.
Trung tâm thông tin tín dụng ngân hàng (CIC ) mặc dù đã ra đời và hoạt
động đợc vài năm trở lại đây nhng nhìn chung sự đóng góp của nó cha đợc là
bao. Điều đó đợc biểu hiện qua con số nợ quá hạn, cụ thể là nợ không có khả

yên tâm và htiếu sự giám sát chặt chẽ với các khoản cho vay, trong khi tài sản
thế chấp có thể bị đánh giá sai lệch về giá trị . Trong thực tế thờng xảy ra
nghịch lý : doanh nghiệp đã mạnh thì tài sản thế chấp lại rất ngon lành trong
khi đó những doanh nghiệp yếu cần tài sản thế chấp thì tài sản thế chấp của họ
thậm chí chẳng có gì mà thế chấp . Mặt khác , trong một số trờng hợp khách
hàng cố tình lừa gạt ngân hàng để vay tiền thì tài sản thế chấp chỉ là đồ giả nh
vụ Dơng Thuý Hiền -Giám đóc công ty TNHH Tuyết Thu ở Nam Hà, trong
vòng 2 năm đã dùng 47 hồ sơ nhà đất để thế chấp vay hơn 10 tỷ đồng , nhng
truy xét ra chỉ có 2 hồ sơ trong só 47 hồ sơ đó là thật. Với những trớng hợp nh
vậy lấy gì để thu nợ , phát mại đây?
*Đội ngũ cán bộ ngân hàng thiếu trình độ và năng lực phẩm chất.
Có thể nói đây là nguyên nhân lớn trong số các nguyên nhân đem đến rủi
ro tín dụng cho nhà ngân hàng. Đội ngũ cán bộ trong ngành ngân hàng vừa
thiếu lại vừa thừa. Thiếu những ngời cán bộ thực sự có trình độ và năng lực
phẩm chất , còn thừa nhiều những cán bộ không có chuyên môn, thiếu năng
lực cho nên không có khả năng phân tích và sử lý tình huống để bảo vệ các
khoản cho vay . Một số khác đạo đức kém , tự động cắt bỏ các chỉ tiêu cho vay
để thu đợc lợi ích cá nhân. Những con sâu mọt ấy đã làm thất thoát của đất nớc
nói chung và ngành ngân hàng nói riêng hàng trăm tỷ đồng. Bên cạnh một số
cán bộ đã bị ra hầu toà nhng vẫn còn nhiều con sâu mọt khác đang đua nhau
đục khoét mà vẫn cha bị lôi ra ánh sáng.
3.3- Những dấu hiệu của rủi ro tín dụng
3.3.1. Nợ quá hạn
Nợ quá hạn là dấu hiệu đầu tiên và dễ gây ra rủi ro cho nhà ngân hàng .
Vì vậy nói đến ngân hàng , nói đến rủi ro tín dụng thì phải nói tới nợ quá hạn.
Có thể hiểu nợ quá hạn là một khoản tín dụng đợc nhng không thể thu hồi
đúng thời hạn do một số nguyên nhân khách quan và chủ quan khác nhau.
Nh chúng ta đã biết, Ngân hàng thơng mại là một trung gian tài chính, là
chiếc cầu giao lu kinh tế nối bên thừ vốn với bến thiếu vốn tạo điều kiện cho
sản xuất và tái sản xuất diến ra trôi chảy, chính vì vậy hiệu quả hoạt động kinh

3.3.1.2- Nguyên nhân phát sinh nợ quá hạn.
- Các nguyên nhân bất khả kháng nh thiên tai, hoả hoạn... đây chính là rủi
ro mà cả bên ngân hàng cũng nh khách hàng không thể lờng trớc đợc đối với
khoản tín dụng của mình, khi rủi ro xảy ra, hoạt động kinh doanh của doanh
nghiệp gặp cú sốc, đối với khách hàng "mạnh" thì cũng phải có thời gian để ổn
định sản xuất kinh doanh mới có khả năng trả nợ ngân hàng còn với khách
hàng "yếu" thì khoản tín dụng trên lâm vào tình trạng xấu, khách hàng rất có
thể chậm trả và thậm chí không có khả năng trả nợ gây ra gánh nặng cho hoạt
động tín dụng của ngân hàng.
- Khách hàng sử dụng vốn vay sai mục đích: Việc khách hàng sử dụng
vốn sai mục đích cũng thờng xảy ra. Một số trờng hợp gặp thuận lợi, kinh
doanh có lãi song một số do sử dụng sai mục đích đã tự gây ra những khó khăn
tài chính cho mình đó là những khách hàng ham lợi lớn, sau khi vay đợcvốn
ngân hàng thì chuyển hớng kinh doanh sản xuất, hay khi vốn vay hết vòng nh-
ng cha đến thời hạn trả nợ đem sử dụng vào mục đích kinh doanh khác nhng
kinh doanh thua lỗ hoặc đến kỳ hạn trả nợ cha thu hồi đợc vốn khiến các
khoản tín dụng Ngân hàng không đợc trả nợ đúng hạn.
- Về phía ngân hàng, khi cho vay cán bộ tín dụng đã vi phạm các nguyên
tắc tín dụng:
+ Vốn vay phải đợc sử dụng đúng mục đích hiệu quả
+ Vốn vay phải có vật t, hàng hoá tơng đơng bảo đảm.
+ Vốn vay phải đợc hoàn trả cả gốc, lãi đúng thời hạn.
Đây là 3 nguyên tắc quan trọng cần linh hoạt áp dụng song vì quá lạm
dụng sự linh hoạt này mà gây ra "trục trặc" đối với vốn tín dụng của ngân
hàng.
- Đánh giá phơng án kinh doanh của khách hàng không tốt: Đây là cơ sở
để khách hàng có thể lợi dụng mà vay quá khối lợng tín dụng cần thiết cho ph-
ơng án kinh doanh của mình để sử dụng sai mục đích hay vì hạn chế trong lĩnh
vực thẩm định dự án của khách hàng mà ngân hàng không phát hiện đợc những
lỗi trong dự án để kịp thời góp ý với khách hàng có hớng điều chỉnh cho dự án.

3.3.2- Một số dấu hiệu khác.
Rủi ro tín dụng thờng ẩn chứa trong những món vay có vấn đề đợc thể
hiện bằng nhiều dấu hiệu ,nhng không có một mô hình nhất định nào có thể
mô tả chính xác ,đầy đủ những dấu hiệu cho thấy rủi ro tín dụng sẽ xảy ra
trong tơng lai .Tuy nhiên ,trải qua quá trình thực tiễn hoạt động tín dụng ,ngời
ta đa thống kê dợc một số dấu hiệu để chỉ ra những khó khăn về tài chính của
ngời vay và nó có vai trò cảnh báo đối với cán bộ tín dụng ,đó là:
-Việc trì hoan nộp các báo cáo tài chính của ngời vay
Báo cáo tài chính là tài liệu quan trọng giúp ngân hàng hiểu đợc tình hình
tài chính của ngời vay ,thông qua đó dự báo về khả năng hoàn trả các khoản nợ
của họ
Việc trì hoan nộp các báo cáo tài chính có thể do nhiều nguyên nhân khác
nhau nhng chúng ta phải xem xét đến nguyên nhân chính đó là do tình hình
hoạt động kinh doanh của ngời vay đa có dấu hiệu không bình thờng nên họ
không muốn để cho ngân hàng biết sớm tình hình tài chính đang sút kém của
họ.
- Mối quan hệ giữa ngân hàng và ngời vay thay đổi
Đó là sự chậm chễ trong việc dàn xếp các cuộc viếng thăm của ngân
hàng đối với doanh nghiệp, nhằm giúp cho ngân hàng kiểm tra ,giám sát
những nghia vụ của ngời vay đối với khoản vay. Vấn đề này biểu hiện bởi sự
giảm sút bầu không khí không tin cậy và hợp tác giữa cán bộ ngân hàng và ng-
ời vay vốn có từ lâu nay.
- Hàng tồn kho của ngời vay tăng lên quá mức bình thờng, các khoản
công nợ cũng gia tăng
- Chất lợng sản phẩm hoặc dịch vụ của doanh nghiệp giảm sút ,khách
hàng của họ không còn tín nhiệm nh trớc nữa dẫn đến phải bán hàng với thời
hạn trả tiền laau hơn, hoặc bán cho cả khách hàng yếu kém về tài chính,có khả
năng thanh toán thấp
- Hoản trả nợ vay không đúng hạn hoặc lai vay không thanh toán đúng kỳ
hạn

hàng hoá...
b) Đối với bản thân ngân hàng.
Rủi ro xảy ra tác động trực tiếp đến lợi nhuận kinh doanh của ngân hàng.
Khi rủi ro ở mức nhỏ thì ngân hàng chỉ phải bù đắp bằng lợi nhuận kinh
doanh, bằng vốn tụ có nên ngân hàng chỉ bị giảm lợi nhuận kinh doanh hoặc
thua lỗ. Song nếu rủi ro gặp phải ở mức độ nghiêm trọng, nguồn vốn ngân
hàng không đủ bù đắp thì tất yếu sẽ dẫn ngân hàng đến bờ vực của sự phá sản.
Nh vậy rủi ro có thể làm đảo lộn thành quả hoạt động trong nhiều năm và thậm
chí trở thành vấn đề sống còn của nhà ngân hàng.
3.5. Đo lờng rủi ro .
Nh trên đa phân tích rủi ro tín dụng là những biến cố xảy ra ngoài mong
đợi của các nhà kinh doanh ngân hàng ,chúng ta không thể loại bỏ rủi ro ra
khỏi hoạt động kinh doanh nhng chúng ta có thể nghiên cứu nó để có những
giải pháp nhằm quản lý và ngăn ngừa đợc rủi ro và chấp nhận nó ở một mức độ
hợp lý.
Đo lờng rủi ro là một trong những phơng pháp để nghiên cứu rủi ro mà
ngân hàng thơng mại nào cũng áp dụng .Việc đo lờng rủi ro ,đặc biệt là đo l-
ờng rủi ro tín dụng có một ý nghia rất lớn trong công tác quản lý kinh doanh
của ngân hàng bởi vì nó là cơ sở để :
- Các ngân hàng xây dựng chính sách tín dụng hợp lý.
- Các ngân hàng xây dựng cơ cấu lai suất phù hợp cho từng thời kì.
- Các ngân hàng xây dựng chiến lợc quản lý các loại tài sản nợ và có.
- Các ngân hàng xây dựng hệ số rủi ro cho từng loại tài sản có ,từng loại
hình cho vay .v..v..
Thông thờng trớc khi tiến hành đo lờng rủi ro ,các ngân hàng thơng mại
đều phải phân loại các món cho vay theo những tiêu thức khác nhau (phân
loại theo loại hình doanh nghiệp vay vốn ,theo thị trờng sản phẩm của doanh
nghiệp vay vốn ,hình thức tài trợ, thời hạn vay ...) rồi sau đó mới áp dụng một
trong những cách cơ bản để đo lờng rủi ro đợc trình bày dới đây:
- Đo lờng hay xác định số thiệt hại do rủi ro gây ra .


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status