Đề tài: “Rủi ro trên thị trường chứng khoán Việt Nam” - Pdf 11



Đỗ Hoài Giang, Lớp A4 – K38B - KTNT

1

Đề tài:
“Rủi ro trên thị trường chứng khoán
Việt Nam” Đỗ Hoài Giang, Lớp A4 – K38B - KTNT

2
Mục lục
Trang

L
ời nói đầu ………………………………………………………………

4

Chương I: L
ý lu
ận chung về thị tr
ư
ờng chứng khoán, thông tin
không cân xứng, lựa chọn đối nghịch và rủi ro đạo

ư

ng ch
ứng khoán
………………………………… 10
1.2.3. Các nguyên t
ắc hoạt động của thị tr
ư
ờng chứng
khoán…………… 12
1.3. Các thành ph
ần tham gia thị tr
ư
ờng chứng khoán
……………………. 13
1.3.1. T
ổ chức phát h
ành …………………………………………………

13

1.3.2. Nhà đ
ầu t
ư
…………………………………………………………

13

1.3.3. Các t
ổ chức kinh doanh tr

ằng chung……………………………………………………

21
Đỗ Hoài Giang, Lớp A4 – K38B - KTNT

3
2.2.1.2. Cân b
ằng ri
êng…………………………………………………….

23

2.2.2. Cân b
ằng thị tr
ư
ờng trong điều kiện thông tin không c
ân
xứng…… 24
2.2.2.1. Cân b
ằng chung……………………………………………………

25

2.2.2.2. Cân b
ằng ri
êng…………………………………………………….


4.2. Nguyên nhân xu
ất hiện rủi ro đạo đức………………………………

33

5. Tác đ
ộng của thông tin không cân xứng, lựa chọn đối nghịch v
à r
ủi ro
đạo đức đối với nền kinh tế ………………………………………………

36
5.1. Tác đ
ộng của thông tin không cân xứng v
à l
ựa chọn đối nghịch……

36

5.2. Tác đ
ộng của rủi ro đạo đức…………………………………………

37

Chương II: V
ấn đề thông tin không cân xứng, lựa chọn đối nghịch v
à
rủi ro đạo đức trên thị trường chứng khoán Việt Nam ………………
40
1. Tình hình ho


1.2.2.1. B
ối cảnh thị tr
ư
ờng chứng
khoán Vi
ệt Nam đầu năm
2003………. 44
1.2.2.2. Tình hình ho
ạt động của thị tr
ư
ờng chứng khoán 10 tháng đầu
44
Đỗ Hoài Giang, Lớp A4 – K38B - KTNT

4
năm 2003…………………………………………………………………

2. Nh
ững dấu hiệu về thông tin không cân xứng, lựa chọn đối nghịch v
à
rủi ro đạo đức trên thị trường chứng khoán trên thị trường chứng khoán
Việt Nam ………………………………………………………….………. 47
2.1. Nh
ững hạn chế trong việc công bố thông tin v
à qu
ản lý công bố thông


55

3. Nh
ững tác động của vấn đề thông tin không cân xứng, lựa chọn đối
nghịch và rủi ro đạo đức đến hoạt động của thị trường chứng khoán Việt
Nam ………………………………………………………………………. 59
Chương III: Đ
ề xuất ph
ương hư
ớng giải quyết vấn đề thông tin
không cân xứng, lựa chọn đối nghịch và rủi ro đạo đức trên thị
trường chứng khoán Việt Nam
………………………………………………………….
61
1. Khuy
ến khích th
ành l
ập các công ty sản
xu
ất v
à bán thông tin…………

61

2. Tăng cư
ờng sự điều h
ành c
ủa Chính phủ để l
àm tăng thông tin trên th

5
Ph
ụ lục II:

Các h
ệ số t
ài chính c
ủa các công ty ni
êm y
ết tr
ên

Trung tâm
Giao dịch Chứng khoán Thành phố Hồ Chí Minh 9 tháng đầu năm
2002… 75
Ph
ụ lục III:

X
ếp hạng t
ài chính các công ty niêm y
ết tại Trung tâm Giao
dịch Chứng khoán Thành phố Hồ Chí Minh……………………………….

79
Danh m
ục t
ài li
ệu tham
khảo………………………………………………. 80

hết các cuộc hội thảo, bài báo đều đề cập đến vấn đề thông tin. Cụ thể, đó là
những hạn chế trong việc công bố thông tin thể hiện ở tính không kịp thời,
thiếu chinh xác, không đầy đủ và chưa thống nhất về cách thức công bố thông Đỗ Hoài Giang, Lớp A4 – K38B - KTNT

7
tin. Chất lượng thông tin còn thấp là một yếu tố kìm hãm cầu chứng khoán. Đó
cũng là nguyên nhân dẫn đến lựa chọn đối nghịch và rủi ro đạo đức, một hậu
quả tất yếu của sự không cân xứng về thông tin. Để thị trường chứng khoán đi
vào hoạt động vững mạnh, một điều không thể thiếu là phải hạn chế tối đa sự
bất cân xứng về thông tin của các cuộc giao dịch. Đây là vấn đề đang thu hút
nhiều sự chú ý và cần phải được giải quyết một cách tối ưu.
Mục đích nghiên cứu
Sau khi tìm hiểu và nghiên cứu học thuyết thông tin không cân xứng, lựa
chọn đối nghịch và rủi ro đạo đức trên một số phân đoạn thị trường tài chính
của các nhà kinh tế học trên thế giới, tôi nhận thức rằng giải quyết vấn đề
thông tin không cân xứng là một yêu cầu thiết thực và xuyên suốt trong quá
trình hoạt động của thị trường chứng khoán Việt Nam. Vì vậy, tôi đã mạnh dạn
tìm hiểu, phân tích và đánh giá mức độ không cân xứng về thông tin, khảo sát
thực tế vấn đề rủi ro đạo đức trên thị trường chứng khoán Việt Nam từ khi hoạt
động đến nay. Do những hạn chế cả về chủ quan và khách quan nên luận văn
chỉ hướng vào mục tiêu chủ yếu là phát hiện và phân tích sơ bộ những biểu
hiện của ba nội dung trên. Dựa trên cơ sở đó, một số giải pháp được đề xuất
nhằm hoàn thiện vấn đề thông tin trên thị trường chứng khoán Việt Nam. Tôi
cũng hy vọng những phát hiện này xẽ giúp ích cho các nghiên cứu sâu hơn về
vấn đề thông tin không cân xứng, lựa chọn đối nghịch và rủi ro đạo đức trên thị
trường chứng khoán Việt Nam.
Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

những vấn đề đặt ra đều dựa trên cơ sở thực tế khách quan. Bên cạnh đó tôi đã
sử dụng phương pháp nghiên cứu lý thuyết (thông qua việc tổng hợp và phân
tích các nguồn tài liệu); phương pháp quy nạp và diễn dịch. Với hy vọng mô
hình hoá các quan hệ kinh tế, tôi đã cố gắng vận dụng phương pháp phân tích
cung-cầu thông qua các mô hình cân bằng thị trường ở thị trường có thông tin
không hoàn hảo của một số nhà kinh tế học trên thế giới.
Lợi ích của luận văn Đỗ Hoài Giang, Lớp A4 – K38B - KTNT

9
Tôi hy vọng luận văn sẽ là một tài liệu tham khảo cho các nhà đầu tư và
những người quan tâm đến thị trường chứng khoán, thông tin không cân xứng,
lựa chọn đối nghịch và rủi ro đạo đức. Đây cũng có thể là tài liệu giúp ích cho
các nghiên cứu sâu hơn về các vấn đề trên.
Đối với các cơ quan quản lý nhà nước, tôi tin tưởng rằng nghiên cứu này
sẽ góp phần hoàn thiện vấn đề thông tin và công bố thông tin trên thị trường
chứng khoán Việt Nam, từ đó tạo điều kiện trước mắt và lâu dài cho việc hoạt
động và phát triển của thị trường.
Kết cấu của luận văn
Với các nội dung đã đề cập trên đây, luận văn được kết cấu như sau:
Chương I: Lý luận chung về thị trường chứng khoán, thông tin không
cân xứng, lựa chọn đối nghịch và rủi ro đạo đức.
Chương II: Vấn đề thông tin không cân xứng, lựa chọn đối nghịch và rủi
ro đạo đức trên thị trường chứng khoán Việt Nam.
Chương III: Một số nhận xét và đề xuất phương hướng giải quyết vấn đề
thông tin không cân xứng, lựa chọn đối nghịch và rủi ro đạo đức trên thị trường
chứng khoán Việt Nam nhằm thúc đẩy thị trường phát triển.
Nhận được sự hướng dẫn và giúp đỡ nhiệt tình từ Thạc sỹ Phạm Song

kinh tế. Cho đến nay, các quốc gia có nền kinh tế thị trường phát triển đều có
thị trường chứng khoán nhưng định nghĩa về thị trường chứng khoán thì có
nhiều cách khác nhau:
Thị trường chứng khoán là một thị trường có tổ chức nơi các chứng
khoán được mua bán theo những nguyên tắc nhất định (theo Longman
Dictionary of Business English, 1985 – nguyên văn: ”Securities market is an
organized market where securities are bought and sold under fixed rules”)
Theo giáo trình “Thị trường chứng khoán” của trường đại học Ngoại
Thương, 1998, thị trường chứng khoán được định nghĩa là “một thị trường mà
ở nơi đó người ta mua bán, chuyển nhượng, trao đổi chứng khoán nhằm mục
đích kiếm lời”.
Nghị định 48/CP ngày 11/7/1998 quy định: “Thị trường giao dịch tập
trung là địa điểm hoặc hệ thống thông tin, tại đó các chứng khoán được mua,
bán hoặc là nơi tham khảo để thực hiện các giao dịch chứng khoán”. Đỗ Hoài Giang, Lớp A4 – K38B - KTNT

12
Khái niệm thị trường chứng khoán là một khái niệm có tính lịch sử nên
trong thực tế, thuật ngữ thị trường chứng khoán thường có cách hiểu sát thực
hơn và có thể có rất nhiều nội dung mới.
1.2. Chức năng, cơ cấu và nguyên tắc hoạt động của thị trường
chứng khoán.
1.2.1. Chức năng.
Huy động vốn đầu tư cho nền kinh tế
Khi nhà đầu tư mua chứng khoán do các công ry phát hành, số tiền nhàn
rỗi của họ được đưa vào hoạt động sản xuất kinh doanh và qua đó góp phần mở
rộng sản xuất xã hội. Bằng cáh hỗ trợ các hoạt đọng đàu tư củ công ty, thị
trường chứng khoán đã có những tác động quan trọng đối với sự phát triển của

mô.
Các dấu hiệu của thị trường chứng khoán phản ánh động thái của nền
kinh tế một cách nhạy bén và chính xác. Giá các chứng khoán tăng lên cho
thấy đầu tư đang mở rộng, nền kinh tế tăng trưởng, và ngược lại giá chứng
khoán giảm sẽ cho thấy các dấu hiệu tiêu cực của nền kinh tế. Vì thế, thị
trường chứng khoán được gọi là phong vũ biểu của nền kinh tế và là một công
cụ quan trọng giúp Chính phủ thực hiện các chính sách kinh tế vĩ mô. Thông
qua thị trường chứng khoán, Chính phủ có thể mua và bán trái phiếu Chính phủ
để tạo ra nguồn thu bù đắp ngân sách và quản lý lạm phát. Ngoài ra, Chính phủ
cũng có thể sử dụng một số chính sách, biện pháp tác động vào thị trường
chứng khoán nhằm định hướng đầu tư đảm bảo cho sự phát triển cân đối của
nền kinh tế.
1.2.2. Cơ cấu của thị trường chứng khoán
Có nhiều căn cứ phân loại thị trường chứng khoán nhưng phổ biến và
quan trọng nhất là căn cứ vào sự luân chuyển các nguồn vốn, theo đó thị
trường chứng khoán được chia thành thị trường sơ cấp và thị trường thứ cấp.
Thị trường sơ cấp Đỗ Hoài Giang, Lớp A4 – K38B - KTNT

14
Thị trường sơ cấp là thị trường mua bán các chứng khoán mới phát hành.
Trên thị trường này, vốn từ nhà đầu tư sẽ được chuyển sang nhà phát hành
thông qua việc nhà đầu tư mua các chứng khoán mới phát hành do đó đây là
nơi duy nhất đem lại vốn đầu tư cho tổ chức phát hành. Việc mua bán trên thị
trường sơ cấp thường diễn ra giữa các ngân hàng, công ty phát hành, và các tập
đoàn tài chính lớn… giá chứng khoán trên thị trường sơ cấp do tổ chức phát
hành ấn định và thường được in ngay trên chứng khoán. Như vậy, có thể thấy
rằng, thị trường sơ cấp đóng vai trò chứng khoán hoá các nguồn vốn cần huy

1.2.3. Các nguyên tắc hoạt động của thị trường chứng khoán
Nguyên tắc cạnh tranh
Theo nguyên tắc này, giá cả trên thị trường chứng khoán phản ánh quan
hệ cung cầu về chứng khoán và thể hiện tương quan cạnh tranh giữa các công
ty. Trên thị trường sơ cấp, các tổ chức phát hành cạnh tranh nhau để bán chứng
khoán của mình cho nhà đầu tư, các nhà đầu tư được tự do lựa chọn các chứng
khoán theo các mục tiêu của riêng mình. Trên thị trường thứ cấp, các nhà đầu
tư cũng cạnh tranh tự do để tìm kiếm cho mình một lợi nhuận cao nhất và giá
cả được hình thành theo phương thức đấu giá.
Nguyên tắc công bằng
Nguyên tắc này nhằm đảm bảo lợi ích cho tất cả những người tham gia
thị trường. Công bằng có nghĩa là mọi người tham gia thị trường đều phải tuân
thủ những quy định chung, được bình đẳng trong việc chi sẻ thông tin và trong
việc gánh chịu các hình thức xử phạt nếu vi phạm vào những quy định đó.
Nguyên tắc công khai
Chứng khoán là loại hàng hoá có tính trừu tượng, người đầu tư không
thể kiểm tra trực tiếp được các chứng khoán như các hàng hoá thông thường
mà phải dựa trên cơ sở các thông tin có liên quan. Vì vậy thị trường chứng
khoán phải được xây dựng trên cơ sở hệ thông công bố thông tin tốt. Theo luật
định, các bên tham gia phát hành chứng khoán có nghĩa vụ cung cấp đầy đủ,
trung thực và kịp thời những thông tin có liên quan tới tổ chức phát hành, tới Đỗ Hoài Giang, Lớp A4 – K38B - KTNT

16
đợt phát hành. Công bố thông tin được tiến hành khi phát hành lần đầu cũng
như theo các chế độ thường xuyên và đột xuất, thông qua các phương tiên
thông tin đại chúng, sở gia dịch, các công ty chứng khoán và các tổ chức có
liên quan khác.

1.3.2. Nhà đầu tư
Nhà đầu tư là những người thực sự mua bán chứng khoán trên thị trường
chứng khoán. Nhà đầu tư có thể là cá nhân hoặc tổ chức.
Nhà đầu tư cá nhân là những người có vốn nhàn rỗi tạm thời, tham gia
mua bán chứng khoán với mục đích kiếm lợi nhuận. Tuy nhiên, trong đầu tư
thì lợi nhuận lại luôn gắn với rủi ro, lợi nhuận càng cao thì rủi ro càng lớn và
ngược lại. Chính vì vậy, các nhà đầu tư cá nhân luôn phải lựa chọn các hình
thức đầu tư phù hợp với khả năng cũng như mức độc chấp nhận rủi ro của
mình.
Các nhà đầu tư có tổ chức, hay còn gọi là các định chế đầu tư, thường
xuyên mua bán chứng khoán với số lượng lớn trên thị trường. Các tổ chức này
thường có các bộ phận chức năng bao gồm nhiều chuyên gia có kinh nghiệm
để nghiên cứu thị trường và đưa ra các quyết định đầu tư. Một số nhà đầu tư
chuyên nghiệp chính trên thị trường chứng khoán là các công ty đầu tư, các
công ty bảo hiểm, các quỹ lương hưu và các quỹ bảo hiểm xã hội khác. Đầu tư
thông qua các tổ chức đầu tư có ưu điểm nổi bật là có thể đa dạng hoá danh
mục đầu tư và các quyết định đầu tư được thực hiên bởi các chuyên gia giàu
kinh nghiệp và có chuyên môn cao.
Một bộ phận quan trọng của các tổ chức đầu tư là các công ty tài chính.
Các công ty tài chính được phép kinh doanh chứng khoán, có thể sử dụng vốn
củ mình để đầu tư vào chứng khoán nhằm mục đích kiếm lợi.
Bên cạnh đó, các công ty chứng khoán, các ngân hàng thương mại cũng
có thể trở thành nhà đầu tư chuyên nghiệp khi họ mua chứng khoán cho chính
mình.
1.3.3. Các tổ chức kinh doanh trên thị trường chứng khoán Đỗ Hoài Giang, Lớp A4 – K38B - KTNT

18


19
một cách chi tiết học thuyết Thông tin không cân xứng và các khái niệm có liên
quan.
2.1. Khái niệm về thông tin không cân xứng.
Trong mọi nền kinh tế, các giao dịch về tài chính đều hướng đến mục
tiêu cuối cùng là chuyển nguồn vốn nhàn rỗi đến những dự án đầu tư hiệu quả
nhất với chi phí thấp nhất có thể. Nền sản xuất hàng hoá và dịch vụ của xã hội
liên tục phát triển làm gia tăng không ngừng giá trị thặng dư. Chịu tác động bởi
chi phí cơ hội của việc giữ tiền, những chủ nhân của phần giá trị thặng dư đó
luôn tìm kiếm các cơ hội đầu tư tốt nhất. Diễn ra đồng thời với quá trình đó là
sự huy động vốn của các chủ thể kinh tế, những người muốn thành lập hoặc mở
rộng hoạt động sản xuất kinh doanh. Sự gặp nhau của hai luồng nhu cầu trên
tạo nên các giao dịch về tài chính và tổng hợp tất cả các giao dịch tài chính đó
hình thành thị trường tài chính của một quốc gia.
Tuy nhiên sẽ là không đơn giản để các giao dịch về tài chính đạt đến
mục tiêu cuối cùng trên đây. Nguyên nhân là do sự tương hợp về yêu cầu giữa
người cho vay và người đi vay không phải bao giờ cũng đạt được.
Từ phía người cho vay, với vai trò là người sở hữu vốn, yêu cầu đảm bảo
an toàn cho đồng vốn luôn được đặt lên trước tiên. Họ yêu cầu người vay vốn
đưa ra những bằng chứng cho thấy tính an toàn của đồng vốn và điều đó phải
được thể hiện thực tế thông qua việc hoàn trả vốn khi thời hạn vay kết thúc.
Yêu cầu chung thứ hai của người cho vay là thu được lãi suất kỳ vọng vào
đúng thời điểm cam kết. Vì những người cho vay chấp nhận cho vay là để
chống lại chi phí cơ hội của việc giữ tiền mà biểu hiện ra chính là lãi suất huy
động vốn (i) của hệ thống ngân hàng và các tổ chức tín dụng, nên lãi suất kỳ
vọng không thể thấp hơn i. Ngoài hai yêu cầu trên, trong những tình huống cụ
thể người cho vay còn có những yêu cầu khác về hình thức trả lãi, cung cấp
thông tin, … nhưng tựu chung lại đó cũng chỉ là các yêu cầu phái sinh nhằm
đảm bảo hai yêu cầu trên đây.

về mặt pháp lý đối với khoản tiền đó, họ không cầm giữ và cũng không sử
dụng nó. Điều này đồng nghĩa với việc rủi ro thu hồi vốn tăng lên và mức độ
rủi ro phụ thuộc hoàn toàn vào người vay vốn. Hoi Giang, Lp A4 K38B - KTNT

21
Do vy, nhng gỡ ngi cho vay phi lm hn ch ri ro l phi thu
thp v phõn tớch cỏc thụng tin liờn quan n ngi vay vn. H cn bit ngi
i vay s dng ng vn nh th no, mc ri ro cao hay thp, sc mnh ti
chớnh, mc tin tng, nguy c dn n vic s dng vn khụng ỳng cam
kt ca ngi vay, Tuy nhiờn nhng thụng tin nh th n vi ngi cho
vay thng khụng y hoc thiu chớnh xỏc dn n nhng la chn ca
ngi cho vay cú th l mt la chn i nghch
Túm li, trong cỏc giao dch ti chớnh thng cú s chờnh lch v thụng
tin gia cỏc bờn tham gia, ú chớnh l hin tng thụng tin khụng cõn xng.
Cho n nay, qua nhiu nghiờn cu, cỏc nh kinh t hc cú nhiu cỏch
nh ngha khỏc nhau v thụng tin khụng cõn xng:
Theo nh kinh t hc Markusk K.Brunnermeier, i hc Boston: Thụng
tin khụng cõn xng l hin tng ngi i vay cú thụng tin tt hn ngi cho
vay
1
.
Theo hai nh kinh t hc Udo Schmidt Mohr (University des Saarlandes)
v J.Miguel Villas-Boas (University of California at Berkeley) trong cun
Assymetric Information and the Market Structure of the Banking Industry
(tm dch: Thụng tin khụng cõn xng v cu trỳc th trng ca ngnh ngõn
hng): Thụng tin khụng cõn xng l tỡnh trng trong ú ngi mua v ngi
bỏn cú thụng tin khỏc nhau v cựng mt giao dch.

tính chất tác động đến cân bằng thị trường không giống nhau. Vai trò của thông
tin trên thị trường càng cao thì vấn đề thông tin không cân xứng trên các thị
trường đó càng rõ rệt và thu hút nhiều sự quan tâm của những người tham gia.
Thông tin không cân xứng xuất hiện phổ biến trên các thị trường tài chính, đặc
biệt là thị trường tín dụng và bảo hiểm. Trong phần dưới đây, tôi xin trình bày
sự cân bằng trên các thị trường bảo hiểm xuất hiện thông tin không cân xứng
dựa trên một nghiên cứu về thị trường bảo hiểm thu hoạch nông sản của Mỹ do
hai nhà kinh tế học Shiva S.Makki và Agapi Somwaru thuộc Vụ Kinh tế học
Thị trường và Thương mại, Viện Nghiên cứu Kinh tế, Bộ Nông nghiệp Hoa Kỳ
thực hiện tháng 4, 2001. Việc lựa chọn thị trường bảo hiểm là xuất phát từ
nhiều nguyên nhân: thứ nhất, bảo hiểm là lĩnh vực mà thông tin đóng vai trò
đặc biệt quan trọng và thể hiện rõ ràng nhất những đặc điểm của thông tin
không cân xứng, lựa chọn đối nghịch và rủi ro đạo đức; thứ hai, rủi ro đạo đức
trên thị trường này thường xuyên xảy ra vì sau khi được bảo hiểm, người được
bảo hiểm có ít nỗ lực hơn trong việc bảo vệ đối tượng bảo hiểm; thứ ba, đã có
nhiều nghiên cứu được thực hiện trên nhiều loại thị trường bảo hiểm nên các
mô phân tích đều đã được khẳng định tính đúng đắn. Dựa trên các phân tích đó, Đỗ Hoài Giang, Lớp A4 – K38B - KTNT

23
việc vận dụng nghiên cứu trên thị trường này sang các lĩnh vực khác có nhiều
điểm tương đồng và do đó sẽ đóng góp rất lớn trong những phần tiếp theo của
luận văn.
2.2. Cân bằng thị trường trong trường hợp không cân xứng về
thông tin
Trên các thị trường tài chính nói chung và thị trường bảo hiểm nói riêng,
hiện tượng thông tin không cân xứng luôn đi kèm và có mối quan hệ mật thiết
với vấn đề lựa chọn đối nghịch và rủi ro đạo đức. Trên thị trường bảo hiểm, lựa

Nếu mua bảo hiểm với mức phí bảo hiểm a và mức bồi thường i, tổng
thu nhập kỳ vọng của X là:
V(a,i,p) = (1 – p)U(m – a) + pU(m – d – a + i) (2)
Giả sử rằng X là người không thích mạo hiểm, khi đó U luôn giảm (tức
là U’(x) < 0) đồng thời đồ thị của U là một đường cong lõm (do đó V cũng là
một đường cong lõm). Trong các hợp đồng bảo hiểm, X sẽ chọn hợp đồng có
V cực đại.
Giả sử tiếp rằng thu nhập từ các hợp đồng bảo hiểm của công ty bảo
hiểm phụ thuộc vào các biến ngẫu nhiên. Do vậy, khi bán được hợp đồng bảo
hiểm, công ty xẽ thu được (1 - p)a và phải trả p(i - a) khi tổn thất xảy ra. Lợi
nhuận của công ty là:
 (a,i,p) = (1 - p)a - p(i - a) (3)
Trên thị trường cạnh tranh hoàn hảo, lợi nhuận của công ty bằng 0 nên:
(1 - p)a - p(i - a) = 0 (4)
Mỗi hợp đồng bảo hiểm được đặc trưng bởi mức phí bảo hiểm a và mức
bồi thường i. Do đó, phương trình (4) thể hiện tất cả các hợp đồng bảo hiểm
của công ty. Tại một xác suất xảy ra rủi ro nhất định p, công ty sẽ định giá a và
i sao cho phương trình (4) được thoả mãn.
Tức là: (1 - p)a -p(i - a) = 0 Hoi Giang, Lp A4 K38B - KTNT

25
hay a - pi = 0
Phng trỡnh (2) v phng trỡnh (4) th hin ng cu v cung bo
him. S tng tỏc gia cung v cu bo him c th hin trờn trc m
1
0m
2

m 1
m 2
m

- a

-

d

+ i
m -
d m

a


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status