PHẦN MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của đề tài
Vấn đề về vốn đang là một đòi hỏi rất lớn, chủ trương của Đảng và Nhà
nước ta hiện nay về vốn Ngân sách chỉ chi cho việc đầu tư các cơ sở hạ tầng không
có khả năng thu hồi vốn, còn toàn bộ nhu cầu vốn để sản xuất kinh doanh kể cả
đầu tư xây dựng, vốn cố định và vốn lưu động đều phải đi vay. Như vậy đòi hỏi về
vốn không chỉ ngắn hạn mà còn cả vốn trung, dài hạn. Nếu không có vốn thì không
thể thay đổi được cơ cấu kinh tế, không thể xây dựng được các cơ sở công nghiệp,
các trung tâm dịch vụ lớn. Tuy đã có những thay đổi về nhiều phương diện, hệ
thống Ngân hàng đã có những bước tiến dài nhưng hệ thống Ngân hàng vẫn chưa
đáp ứng được nhu cầu về vốn của nền kinh tế.
Từ năm 1994 trở đi bước vào thời kỳ công nghiệp hoá, hiện đại hoá vấn đề
về vốn nổi lên là một yêu cầu hết sức cấp bách trong điều kiện chưa có thị trường
vốn. Giải quyết nhu cầu vốn là đòi hỏi lớn đối với hệ thống ngân hàng. Các ngân
hàng kinh tế đang đòi hỏi ở ngân hàng là phải huy động đủ vốn tạo điều kiện cho
nền kinh tế phát triển không bị tụt hậu, đó chính là vấn đề về vốn.
Trong thực tiễn hoạt động của NHNo&PTNT huyện Bình Liêu hoạt động
huy động vốn đã được coi trọng đúng mức và đã đạt được một số kết quả nhất định
nhưng bên cạnh đó vẫn còn bộc lộ một số tồn tại do đó cần phải nghiên cứu cả về
lý luận và thực tiễn để nâng cao hiệu quả kinh doanh nhằm phục vụ công tác công
nghiệp hoá- hiện đại hoá đất nước.
2. Đối tượng nghiên cứu
Dựa vào cơ sở phân tích thực trạng công tác huy động vốn tại chi nhánh
NHNo&PTNT huyện Bình Liêu để tìm ra nguyên nhân của những tồn tại từ đó đưa
1
1
ra các giải pháp và kiến nghị để nâng cao hiệu quả hoạt động huy động vốn của chi
nhánh NHNo&PTNT huyện Bình Liêu.
3. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
- Đối tượng nghiên cứu: Thực trạng công tác huy động vốn tại chi nhánh
NHNo&PTNT huyện Bình Liêu
tiện thanh toán, Ngân hàng thu hút được lượng vốn lớn trong thanh toán. Đây là
nguồn vốn có chi phí thấp nên các Ngân hàng thương mại thường xuyên cải tiến
các phương tiện, nâng cao công nghệ thanh toán để thắng thế trong việc hấp dẫn
khách hàng gửi tiền và bán thêm các dịch vụ. Các doanh nghiệp, tổ chức kinh tế
và cá nhân thường mở tài khoản tiền gửi giao dịch tại một hoặc một số Ngân
hàng thương mại nhất định, khi cần thiết yêu cầu rút ra hoặc chuyển trả tiền cho
bên thụ hưởng một cách nhanh chóng vì tính chất của tài khoản này là thanh
toán theo yêu cầu. Qua đó Ngân hàng vừa là thủ quỹ, vừa cung cấp dịch vụ
thanh toán theo yêu cầu của khách hàng.
3
3
Ở Việt Nam, một trong các yêu cầu bắt buộc khi một doanh nghiệp hoạt
động sản xuất kinh doanh phải mở tài khoản tiền gửi giao dịch tại một Ngân
hàng thương mại, tài khoản này một mặt là nơi thu nhận tiền từ những người
mua hàng hoặc dịch vụ mà doanh nghiệp này cung ứng, một mặt là nơi bảo quản
tài sản tài chính an toàn, khi cần có thể chi trả bất cứ lúc nào và trong nhiều
trường hợp, số dư của nó được dùng để bảo lãnh hay đặt cọc cho các hợp đồng
hoặc các thoả ước khác.
Trong khi thực hiện là trung gian thanh toán các Ngân hàng thương mại
còn nhận được tiền gửi các tổ chức tín dụng là một loại tiền gửi giao dịch.
Để thu hút được tiền gửi phi giao dịch của các tổ chức, cá nhân, Ngân
hàng sử dụng các tài khoản tiền gửi tiết kiệm, tiền gửi có kỳ hạn các tổ chức
kinh tế xã hội hoặc phát hành các loại giấy tờ có giá: kỳ phiếu, trái phiếu, giấy
chứng nhận tiền gửi.
a) Nhận tiền gửi
Các tổ chức kinh tế, xã hội, các tổ chức tín dụng khác, cá nhân mở tài khoản
giao dịch tại các NHTM, thông qua tài khoản này, người sở hữu chúng có quyền
phát hành séc hoặc lệnh chi trả cho người khác. Trước đây, tài khoản tiền gửi có
thể phát séc không được hưởng lãi nhưng để huy động được nguồn vốn này ngoài
việc cạnh tranh bằng chất lượng dịch vụ thanh toán, các NHTM đã thực hiện trả lãi
nguồn vốn khác để trả nợ ngay khi đến hạn. Là nguồn vốn quan trọng khi gặp khó
khăn trong cân đối nguồn vốn và sử dụng vốn. Chi phí vốn cho tiền vay thường
cao hơn so với các nguồn khác.
* Vay các tổ chức tín dụng khác
Các Ngân hàng thương mại có thể vay vốn của các tổ chức tín dụng khác
trên thị trường liên Ngân hàng trong nước hoặc quốc tế. Tiền vay có thời hạn từ
một ngày (Over night) đến một vài tháng để bù đắp thiếu hụt trong cân đối nguồn
5
5
vốn và sử dụng vốn tuy nhiên đây là nguồn vốn thường có thời hạn ngắn và chi phí
cao nên việc vay mượn có tính tạm thời, về lâu dài các Ngân hàng thương mại tìm
cách khai thác nguồn vốn tiền gửi để trả khoản nợ này.
d) Huy động vốn bằng các hình thức khác khác
*Phát hành các giấy tờ có giá
Các NHTM phát hành kỳ phiếu và trái phiếu với đặc điểm là có kỳ hạn và
khoản lãi được hưởng ghi trên bề mặt của nó. Hình thức huy động vốn này được
thực hiện với mục đích sử dụng vốn rõ ràng, số lượng và thời gian phát hành nhất
định khi cần thiết. Đối với Ngân hàng Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn Việt
Nam kỳ phiếu Ngân hàng thường chiếm khoảng 50% nguồn vốn huy động có kỳ
hạn. Trường hợp khách hàng rút vốn trước hạn Ngân hàng thanh toán tiền lãi theo
lãi suất tiền gửi tiết kiệm không kỳ hạn xuất phát từ lý do cạnh tranh và yêu cầu
bảo vệ quyền lợi của khách hàng.
Đặc điểm của khoản nợ này là có tính ổn định cao, quyền đòi tiền thường xếp
sau các khoản tiền gửi. Hiện nay ở Việt Nam có một số loại giấy tờ có giá có thể
được mua bán trên thị trường trong khi với các nước có thị trường tài chính phát
triển, hoạt động mua bán các công cụ nợ diễn ra khá phổ biến và sôi động.
* Nhận vốn uỷ thác đầu tư
Đối với một số Ngân hàng thương mại, ngoài nguồn vốn huy động, vay tái
cấp vốn của Ngân hàng trung ương còn có thể nhận được nguồn vốn ủy thác đầu tư
của nhà nước và các tổ chức tài chính trong nước và quốc tế theo các chương trình,
kiếm thông tin lớn, chất lượng thông tin không cao, chi phí giao dịch lớn và phải
có sự trùng khớp về nhu cầu giữa người thừa vốn và người thiếu vốn về số lượng,
thời hạn... chính vì thế NHTM với tư cách là một trung gian tài chính đứng ra nhận
tiền gửi tiết kiệm và cung cấp vốn cho nền kinh tế với số lượng và thời hạn phong
phú và đa dạng đáp ứng mọi nhu cầu về vốn của khách hàng có đủ điều kiện vay
vốn. Với mạng lưới giao dịch rộng khắp, các dịch vụ đa dạng, cung cấp thông tin
7
7
nhiều chiều, hoạt động ngày càng phong phú chuyên môn hoá vào từng lĩnh vực
NHTM đã thực sự giải quyết được những hạn chế của thị trường tài chính trực tiếp,
góp phần nâng cao hiệu quả luân chuyển vốn trong nền kinh tế thị trường.
b) Chức năng trung gian thanh toán
Thông qua chức năng làm trung gian tài chính NHTM làm tăng lượng tiền
trong lưu thông và cung cấp cho những người đầu tư những chứng khoán có tính
lỏng cao hơn và có rủi ro thấp hơn do đó sẽ an toàn hơn khi nhà đầu tư nắm giữ
những chứng khoán sơ cấp do doanh nghiệp, công ty phát hành.
Các NHTM còn cung cấp một danh mục phương tiện thanh toán rất đa dạng
và phong phú: sec chuyển tiền, sec chuyển khoản, thẻ tín dụng... sự xuất hiện của
các phương tiện thanh toán này tạo điều kiện cho các doanh nghiệp dễ dàng giao
dịch thương mại, mua bán hàng hoá an toàn nhanh chóng, chi phí thấp.
c) Chức năng tạo tiền
Chức năng tạo tiền là chức năng cực kỳ quan trọng của NHTM. Chức năng
này được thể hiện trong quá trình NHTM cấp tín dụng cho nền kinh tế và hoạt
động đầu tư của NHTM, trong mối quan hệ với NHTƯ đặc biệt trong quá trình
thực hiện chính sách tiền tệ mà mục tiêu của chính sách tiền tệ là ổn định giá trị
đồng tiền. Từ một lượng tiền cơ sở do NHTƯ phát hành qua hệ thốngNHTM sẽ
được tăng lên gấp bội khi NHTM cấp tín dụng cho nền kinh tế. Khối lượng tiền
qua hệ thống ngân hàng được tính theo công thức :
D = m.MB
D: khối lượng tiền qua hệ thống ngân hàng
chỉ có quyền sử dụng chứ không có quyền sở hữu và có trách nhiệm hoàn trả đúng
thời hạn cả gốc và lãi khi đến hạn hoặc khi họ có nhu cầu rút.Vốn huy động đóng
vai trò rất quan trọng đối với mọi hoạt động kinh doanh của NHTM.
9
9
Nguồn vốn huy động không ngừng tăng lên, tỷ lệ thuận với mọi thành phần
kinh tế trong xã hội. Do đó, các NHTM luôn quan tâm khai thác để mở rộng tín
dụng. Nhưng nguồn vốn này chỉ được sử dụng một phần để kinh doanh, còn phải
dự trữ một tỷ lệ hợp lí để đảm bảo khả năng thanh toán. Vốn huy động gồm có:
Vốn tiền gửi và phát hành những giấy tờ có giá.
c) Vốn đi vay
Vốn đi vay: là khoản tiền vay muợn thêm để đáp ứng nhu cầu chi trả khi khả
năng huy động vốn bị hạn chế. Đây là nguồn chủ yếu để chống rủi ro thanh khoản
của các ngân hàng.
- Vay từ NHTW là khoản vay nhằm giải quyết nhu cầu cấp bách trong chi trả
của NHTM. Hình thức cho vay chủ yếu của NHNN là tái chiết khấu (tái cấp vốn).
Các thương phiếu đã được các NNTM chiết khấu (tái chiết khấu) trở thành tài sản
của họ. Khi cần tiền ngân hàng mang những thương phiếu này lên tái chiết khấu tại
NHNN. Thông thường NHNN chỉ tái chiết khấu cho những thương phiếu có chất
lượng như thời gian đáo hạn ngắn, khả năng trả nợ cao và phù hợp với mục tiêu
của NHNN trong từng thời kỳ. Trong điều kiện chưa có thương phiếu NHNN cho
NHTM vay dưới hình thức tái cấp vốn theo hạn mức tín dụng nhất định. Nguồn
vốn này chiếm tỷ trọng nhỏ trong ngân hàng, nó chủ yếu là vốn ngắn hạn, chi phí
cao hay thấp phụ thuộc vào chính sách tiền tệ của NHTW.
d) Vốn khác
Vốn khác là toàn bộ giá trị tiền tệ mà ngân hàng huy động được thông qua
việc cung cấp các phương tiện thanh toán và cung cấp các dịch vụ ủy thác đầu tư.
Bao gồm nguồn ủy thác, nguồn thanh toán và các nguồn khác
1.1.2.2. Vai trò của nguồn vốn trong hoạt động kinh doanh của Ngân hàng
a) Vốn là cơ sở để ngân hàng tổ chức với mọi hoạt động kinh doanh
vốn chủ yếu để ngân hàng tiến hành các hoạt động kinh doanh do đó ngân hàng
11
11
nào có nguồn vốn huy động càng lớn thì khả năng cấp tín dụng cho nền kinh tế và
các hoạt động khác càng được mở rộng.
c) Nguồn vốn quyết định khả năng thanh toán và đảm bảo uy tín của ngân
hàng trên thị trường
Một NHTM có thể thu hút được đông đảo khách hàng đến gửi tiền và sử
dụng các dịch vụ của ngân hàng đó khi ngân hàng đó có uy tín trên thị trường. Uy
tín của ngân hàng trước hết thể hiện ở khả năng sẵn sàng thanh toán cho khách
hàng khi họ yêu cầu. Khả năng thanh toán của ngân hàng thông thường tỷ lệ thuận
với khối lượng vốn mà ngân hàng đó có. Nếu có lớn vốn năng lực thanh toán của
ngân hàng được nâng cao, do đó uy tín của ngân hàng được nâng cao từ đó sẽ thu
hút được nhiều khách hàng và nâng cao được vị thế của ngân hàng trên thị trường.
d) Vốn là một trong những yếu tố quyết định đến năng lực cạnh tranh của
ngân hàng.
Với mỗi ngân hàng quy mô, trình độ công nghệ hiện đại là tiền đề để thu
hút vốn. Đồng thời khả năng về vốn lớn là cơ sở để ngân hàng mở rộng khối lượng
tín dụng và có thể quyết định cả mức lãi suất cho vay. Do đó có tiềm lực về vốn
lớn ngân hàng có thể giảm mức lãi suất cho vay từ đó tạo cho ngân hàng ưu thế
trong cạnh tranh, và giúp ngân hàng có tiềm lực trong việc mở rộng các hình thức
liên doanh, liên kết, cho thuê, mua bán nợ, kinh doanh chứng khoán...
Vốn có vai trò rất quan trọng đối với hoạt động kinh doanh ngân hàng. Do
đó ngân hàng phải luôn chú trọng đến việc phát triển nguồn vốn một cách ổn định
cả về vốn huy động và vốn tự có.
1.1.2.3. Các hình thức huy động vốn của NHTM
a) Nhận tiền gửi
- Tiền gửi không kỳ hạn: là khoản tiền mà khách hàng gửi vào ngân hàng
nhưng khách hàng có thể rút ra bất cứ lúc nào và ngân hàng phải luôn đảm bảo yêu
cầu này.
Khách hàng gửi tiền vào ngân hàng với mục đích sinh lời là chủ yếu. Tiền
gửi có kỳ hạn của cá nhân và hộ gia đình chiếm tỷ trọng lớn nhất trong tổng vốn
huy động và là nguồn vốn chủ yếu để ngân hàng cho vay. Nguồn vốn này có tính
ổn định cao nhất và ngân hàng phải trả lãi rất cao cho nguồn vốn này.
c) Phát hành GTCT
Ngày nay trong hoạt động kinh doanh của các NHTM cạnh tranh là yếu tố
không thể thiếu được. Các NHTM cạnh tranh nhau về lãi suất huy động đến lãi
suất cho vay. Trong lĩnh vực huy động vốn các NHTM phải luôn luôn tìm các biện
pháp để có thể huy động được đủ nguồn vốn phục vụ cho nhu cầu sử dụng vốn của
mình. Các NHTM không chỉ sử dụng các công cụ truyền thống để huy động vốn
mà còn đưa ra các các công cụ mới có hiệu quả hơn để huy động vốn một cách dễ
dàng đáp ứng nhu cầu vốn của mình và kỳ phiếu, trái phiếu ngân hàng đã ra đời.
Kỳ phiếu và trái phiếu là giấy tờ có giá xác nhận khoản nợ của ngân hàng với
người nắm giữ. Kỳ phiếu được phát hành thường xuyên và có kỳ hạn ngắn: 3,
6 ...12 tháng. Trái phiếu thường có kỳ hạn lớn hơn 1 năm.
Việc phát hành kỳ phiếu , trái phiếu có ưu thế: giúp ngân hàng huy động được
đúng số lượng vốn cần thiết và có thời hạn đáp ứng nhu cầu sử dụng vốn của ngân
hàng. Tuy nhiên chi phí của nguồn vốn này tương đối cao do ngân hàng phải trả lãi
cao hơn các hình thức huy động truyền thống.
1.2. Hiệu quả huy động vốn và các chỉ tiêu đo lường hiệu quả huy động vốn
1.2.1. Khái niệm hiệu quả huy động vốn của NHTM
Ý nghĩa hiệu quả huy động vốn:
Nguồn vốn là yếu tố cần thiết đầu tiên cần thiết cho hoạt động kinh doanh
của ngân hàng thương mại, luật pháp của mỗi quốc gia đều quy định mức vốn tối
thiểu mà ngân hàng phải có ngay từ khi thành lập. Mặt khác trong quá trình hoạt
động sản xuất kinh doanh trên thị trường, các ngân hàng có thể huy động thêm vốn
từ nhiều nguồn khác nhau.
14
14
1.2.2. Các chỉ tiêu đo lường hiệu quả huy động vốn của NHTM
bấy nhiêu. Điều này xuất phát từ sự khác nhau về nhu cầu và tâm lý của các tầng
lớp dân cư. Mức độ đa dạng của các hình thức huy động càng cao thì càng dễ dàng
đáp ứng một cách tốt nhất nhu cầu của dân cư và họ đều tìm thấy cho mình một
hình thức gưỉ tiền phù hợp mà lại an toàn. Do vậy các NHTM thường cân nhắc rất
kỹ trước khi đưa vào hình thức huy động mới.
b) Mức lãi suất huy động
Chính sách lãi suất cạnh tranh bao gồm lãi suất cạnh tranh huy động và lãi
suất cạnh tranh cho vay là một chính sách quan trọng của ngân hàng. Việc duy trì
lãi suất cạnh tranh huy động là đặc biệt quan trọng khi lãi suất thị trường đang ở
mức tương đối cao. Các NHTM không chỉ cạnh tranh giành vốn với nhau mà còn
cạnh tranh với các tổ chức tiết kiệm và người phát hành các công cụ khác nhau trên
thị trường vốn. Đặc biệt trong thời kỳ khan hiếm tiền tệ, dù cho sự khác biệt tương
đối nhỏ về lãi suất cũng sẽ thúc đẩy những người tiết kiệm và đầu tư chuyển vốn từ
công cụ mà họ đang có sang tiết kiệm và đầu tư hoặc từ một tổ chức tiết kiệm này
sang tổ chức tiết kiệm khác.
c) Các dịch vụ kèm theo
Một ngân hàng có dịch vụ tốt hiển nhiên sẽ có nhiều lợi thế hơn các ngân
hàng khác. Trong đièu kiện kinh tế thị trường các ngân hàng phải phấn đấu nâng
cao chất lượng dịch vụ và đa dạng hoá các dịch vụ để đáp ứng nhu cầu của khách
hàng và tăng thu nhập của ngân hàng. Khác với cạnh tranh về lãi suất, cạnh tranh
về dịch vụ ngân hàng không có giới hạn do vậy đây chính là điểm mạnh để các
ngân hàng vươn lên trong cạnh tranh.
d) Vị thế và uy tín của Ngân hàng
16
16
Trong công tác khách hàng, ngân hàng thường chia khách hàng ra làm nhiều
nhóm để có cách phục vụ phù hợp. Với những khách hàng lâu năm, giao dịch
thường xuyên, có số dư tiền gửi lớn, gây được tín nhiệm với ngân hàng thì ngân
hàng sẽ có chính sách phù hợp về thời hạn và lãi suất.....
e) Chính sách khuyếch trương
điểm huy động vốn và quyết định chiến lược huy động ở mỗi khu vực vì mỗi khu
vực có số dân và các điều kiện khác nhau.
c) Môi trường văn hoá xã hội
Mỗi quốc gia đều có một nền văn hoá riêng, văn hoá chính là yếu tố tạo nên
bản sắc của các dân tộc như: tập quán, thói quen, tâm lý... Đối với ngân hàng hoạt
động huy động vốn là hoạt động chịu nhiều ảnh hưởng của môi trường văn hoá. Cụ
thể ở các nước phát triển người dân có thói quen gửi tiền vào ngân hàng để hưởng
những tiện ích trong thanh toán, hưởng lãi và trong tiềm thức họ ngân hàng là một
phần không thể thiếu được , là một phàn tất yếu của nền kinh tế. Do vậy ngân hàng
gặp không mấy khó khăn trong việc huy động vốn nhàn rỗi trong dân cư và tổ chức
kinh tế. Ngược lại ở những nước đang phát triển như Việt Nam việc huy độn vốn
của ngân hàng gặp rất nhiều khó khăn vì người dân Việt Nam hiện nay vẫn chưa
quen sử dụng các dịch vụ ngân hàng. Mặt khác ngân hàng chưa thực sự tạo được
lòng tin đối với người dân sáu hàng loạt sự kiện đã xảy ra như: đổi tiền 1985-1986,
tỷ lệ lạm phát 600-700% làm nhiề người dân mất trắng, sự sụp đổ của 7500 quỹ tín
dụng nhân dân và hàng loạt sự kiên khác có liên quan đến ngân hàng : Dệt Quảng
Ninh, Minh phụng EPCO làm cho các ngân hàng bị thiệt hại lớn.Ngân hàng chưa
chú trọng đến công tác marketing, tiếp thị, quảng cáo ... người dân còn thiếu hiểu
biết về chủ trương chính sách của nhà nước, hoạt động của ngân hàng vì vậy cho
đến nay vẫn còn tình trạng có tiền nhưng không muốn gửi ngân hàng vì không biết
phải làm những thủ tục nào, người dân ngại mất thời gian do thủ tục rườm rà...
d) Tốc độ phân tích công nghệ
18
18
Sự thay đổi về công nghệ có tác động mạnh mẽ tới nền kinh tế và xã hội.
Hoạt động ngân hàng là một trong những hoạt động chụi sự tác động mạnh mẽ của
công nghệ, hoạt động ngân hàng là hoạt động không thể tách rời khỏi sự phát triển
của công nghệ đặc biệt là công nghệ thông tin.
Công nghệ có ảnh hưởng lớn đến quá trình phát triển của ngân hàng, nó
mang lại cho ngân hàng nhiều cơ hội nhưng cũng mang lại hàng loạt những thách
2003-2005. Năm 2003 cơ sở hạ tầng thiết yếu ở các xã còn thiếu nghiêm trọng
(toàn huyện mới chỉ có 18,4% số phòng học đạt chuẩn), 33% số hộ dân được sử
dụng điện lưới quốc gia, tỷ lệ số hộ dân được sử dụng nước sạch sinh hoạt hợp vệ
sinh mới đạt 31,31%, 2/7 xã chưa có chợ, 7/7 xã chưa đạt chuẩn về trạm y tế, trình
độ dân trí thấp, nền kinh tế phát triển còn manh mún, chưa vững chắc, tỷ lệ hộ đói
chiếm 7,4%; hộ nghèo chiếm 26,61% tổng số hộ trên địa bàn huyện; Trên 80% hộ
nghèo còn ở nhà tạm tranh tre, gạch đất. Tuy nhiên trong giai đoạn 2003-2005,
được sự quan tâm đầu tư về mọi mặt của TW, của Tỉnh, sự cố gắng nỗ lực của
huyện, kinh tế huyện Bình Liêu đã có bước phát triển và tăng trưởng, tổng sản
lượng lương thực quy thóc năm 2005 đạt 10.295,6 tấn, bằng 104% so với năm
2004. Tổng thu ngân sách Nhà nước trên địa bàn bình quân mỗi năm đạt trên 50 tỷ
đồng, trồng rừng đạt trên 1.500 ha, tỷ lệ hộ nghèo giảm từ 22,82% năm 2003
xuống còn 9,23% năm 2005 (theo tiêu chí cũ). Đời sống vật chất tinh thần của
nhân dân được nâng lên, bộ mặt nông thôn vùng biên giới, vùng sâu, vùng xa,
vùng dân tộc ít người ngày càng được đổi mới, tình hình an ninh chính trị - trật tự
20
20
xã hội và quốc phòng trên địa bàn huyện được củng cố và giữ vững, đã góp phần
tích cực vào kết quả xoá đói giảm nghèo chung của Huyện.
2.1.2.1. Sự hình thành và phát triển của NHNo&PTNT huyện Bình Liêu
Chi nhánh NHNo&PTNT huyện Bình Liêu trực thuộc NHNo&PTNT tỉnh
Quảng Ninh. Được thành lập theo Nghị định số 53/HĐBT ngày 26/3/1988.
NHNo&PTNT huyện Bình Liêu là chi nhánh NHTM quốc doanh duy nhất
trên địa bàn huyện có mạng lưới ngân hàng cấp 4 được phân bố rộng khắp huyện
với chức năng kinh doanh tiền tệ, tín dụng trên mặt trận nông nghiệp và nông thôn
và các thành phần kinh tế khác trong huyện. NHNo&PTNT huyện Bình Liêu đã và
đang giữ vai trò chủ đạo trên thị trường tài chính, tín dụng ở nông thôn.
Từ một chi nhánh có rất nhiều khó khăn từ khi mới thành lập: thiếu vốn, chi
phí kinh doanh cao, cơ sở vật chất, công nghệ lạc hậu.... Nhưng nhờ kiên trì khắc
phục khó khăn, quyết tâm đổi mới cùng với sự giúp đỡ của các cấp uỷ đảng, chính
thành lập các ngân hàng cấp 4, đổi mới phong cách làm việc tạo uy tín và sự tin
cậy của khách hàng.
Đối với Bình Liêu là một huyện có dân số ít, kinh tế còn chủ yếu là sản xuất
nông nghiệp, đời sống nhân dân chưa khá giả. Song bản chất người dân Bình Liêu
là cần cù, chịu khó, tiết kiệm. Mặt khác ở nước ta trong những năm gần đây đồng
tiền khá ổn định, lạm phát ở mức thấp là nguyên nhân cơ bản góp phần vào sự
thành công của kết quả huy động vốn của NHNo&PTNT huyện Bình Liêu, năm
sau cao hơn năm trước, tạo lập được nguồn vốn ổn định phục vụ cho quá trình tái
đầu tư nền kinh tế địa phương. Nhờ làm tốt công tác huy động vốn nên những năm
vừa qua ngân hàng Bình Liêu luôn đáp ứng đủ nhu câù vốn cho hoạt động của
mình. Kết quả huy động vốn những năm gần đây như sau:
Biểu 1 Đơn vị: triệu đồng
22
22
Chỉ tiêu
2002 2003 2004 2005
ST % ST % ST % ST %
1. Tiền gửi của
TCKT
2. Tiền gửi của
dân cư
- không kỳ hạn
- có kỳ hạn
3. Phát hành giấy
tờ có giá
5914
23679
3487
20192
1091
đương với 85.5%, năm 2004 tăng 6055 triệu đồng so với năm 2003 tương đương
với 10.6%, năm 2005 tăng so với năm 2004 là 16165 triệu đồng tương đương với
25.6%.
Có được kết quả về huy động vốn trong những năm vừa qua là do ngân hàng
đã xác định được tầm quan trọng của vốn huy động, ngân hàng đã tổ chức, triển
khai nhiều biện pháp huy động vốn như : tuyên truyền, quảng cáo để nhân dân biết,
khai thác được những điều kiện thuận lợi, tiềm năng dư thừa trong dân, trưng bày
các biển quảng cáo ở trụ sở ngân hàng trung tâm và các ngân hàng khu vực, ở một
số tuyến đường xã tập trung đông dân cư, huy động qua tổ vay vốn, vận động mọi
người tham gia gửi tiền tiết kiệm, tạo dựng thói quen tiết kiệm trong nhân dân, tạo
điều kiện cho mọi công dân có nhu cầu mở tài khoản tiền gửi cá nhân và thanh
toán giao dịch qua ngân hàng. Có thể nói công tác huy động vốn trong những năm
gần đây đạt được kết quả đáng khích lệ góp phần vào ổn định lưu thông tièn tệ trên
23
23
địa bàn, tạo lập được đủ nguồn vốn đáp ứng mở rộng đầu tư cho các thàng phần
kinh tế trên địa bàn và tăng ttrưởng tín dụng
2.1.3.2. Hoạt động sử dụng vốn
Bên cạnh việc coi trọng công tác huy động vốn, ngân hàng Bình Liêu đặc
biệt coi trọng công tác sử dụng vốn vì đây là hoạt động chủ yếu đem lại lợi nhuận
cho ngân hàng. Mặt khác nếu làm tốt công tác sử dụng vốn có thể tác động trở lại
thúc đẩy hoạt động huy động vốn. Do bám sát định hướng phát triển kinh tế địa
phương, định hướng kinh doanh của nghành Ngân hàng Bình Liêu đã đưa ra chính
sách hợp lý nhằm tăng dư nợ, đáp ứng nhu cầu vốn trên địa bàn và góp phần thúc
đẩy kinh tế địa phương phát triển.
Là một huyện nông nghiệp cho nên công tác tín dụng chủ yếu là cho vay hộ
sản xuất. Những năm trước cho vay trực tiếp kinh tế hộ năm sau tăng trưởng cao
hơn năm trước nhưng chủ yếu là thực hiện cho vay từ phía khách hàng. Từ khi có
quyết định 67/TTg của thủ tướng chính phủ về một số chính sách tín dụng đối với
nông nghiệp và nông thôn, được sự chỉ đạo của Ngân hàng tỉnh Ngân hàng Bình
được nhu cầu của họ và để đáp ứng kịp thời nhu cầu đó.
- Tiến hành phân loại khách hàng, phân tích chất lượng tín dụng, xử lý rủi
ro, nâng cao chất lượng tín dụng.....
2.2. THỰC TRẠNG HIỆU QUẢ HUY ĐỘNG VỐN TẠI NHNo&PTNT
HUYỆN BÌNH LIÊU.
2.2.1. Hoạt động tăng trưởng nguồn vốn huy động
2.2.1.1. Tốc độ tăng trưởng từng loại nguồn vốn
Đối với NHTM, nguồn vốn huy động tại địa phương là nguồn vốn quan
trọng nhất và luôn luôn chiếm tỷ trọng cao nhất trong tổng nguồn vốn. Việc các
NHTM đảm bảo huy động đủ nguồn vốn cho công tác sử dụng vốn vừa đảm bảo
25
25