Hệ thống phân loại các chứng bệnh
tâm thần Có hai hệ thống phân loại bệnh tâm thần được
sử dụng rộng rãi hiện nay. Đó là Bảng phân
loại bệnh Quốc tế (ICD) và Sách Chẩ
n đoán và
Thống kê (DSM). Để giúp cho công tác chẩn đoán các chứng bệnh tâm thần, trên thế giới đã sử dụng
một số hệ thống phân loại bệnh. Lịch sử của các hệ thống này bắt nguồn từ các
nghiên cứu của Kraepelin vào cuối thế kỉ 19. Ông đã mô tả một loạt các hội chứng,
và nhận thấy rằng mỗi hội chứng lại bao gồm nhiều các triệu chứng khác. Sự kết
hợp các triệu chứng như vậy tạo nên sự khác biệt giữa hội chứng này với hội
chứng khác. Và đó là cơ sở để ra đời các hệ thống phân loại. Có hai hệ thống phân
loại bệnh tâm thần được sử dụng rộng rãi hiện nay. Đó là Bảng phân loại bệnh
Quốc tế (ICD) và Sách Chẩn đoán và Thống kê (DSM).
ICD-10 đã được xác nhận tại Hội nghị Y tế thế giới lần thứ 43 vào tháng 5 năm
1990 và được các nước thành viên WHO đưa vào sử dụng từ năm 1994. Ấn bản
đầu tiên, được gọi là Danh sách các nguyên nhân tử vong Quốc tế, đã được Viện
thống kê quốc tế thông qua năm 1893. ICD là hệ thống phân loại bệnh theo tiêu
chuẩn quốc tế cho tất cả các dịch tễ học nói chung, mục đích quản lý sức khỏe và
sử dụng trong lâm sàng. Phân loại bệnh về các rối loạn tâm thần và hành vi thuộc
chương 5 của ICD-10. Nó gồm các mảng sau đây:
- Trục II: có hoặc không có trạng thái bệnh lí kéo dài, bao gồm các rối loạn nhân
cách và rối loạn phát triển tâm trí (mặc dù các rối loạn phát triển, như Tự kỷ, đã
được mã hoá trên trục II trong phiên bản trước đó, các rối loạn này đang có trên
Axis I). Các rối loạn thường gặp bao gồm các rối loạn nhân cách như paranoid,
Schizoid, schizotypal, Rối loạn nhân cách chống đối xã hội, Rối loạn nhân cách
narcissistic, Rối loạn nhân cách không thanh thật, Rối loạn nhân cách lảng tránh,
Rối loạn nhân cách phụ thuộc, ám ảnh-cưỡng bức, chậm phát triển tâm trí.
- Trục III: thông tin về trạng thái sức khoẻ cơ thể của cá nhân. Các rối loạn thường
gặp bao gồm các tổn thương não và các rối loạn sức khỏe thể chất …
- Trục IV: Các vấn đề tâm lý và các yếu tố môi trường
- Trục V: đánh giá tổng quát về hoạt động chức năng (từ 1 điểm cho kích động liên
tục, hành vi tự sát hoặc bất lực cho đến 100 điểm đối với duy trì nhân cách hài hoà,
không có các triệu chứng) hoặc Mô hình “Đánh giá tổng quát của trẻ em” cho trẻ
em và thiếu niên dưới 18 tuổi.
Các hệ thống phân loại có rất nhiều ưu điểm. Chúng không phải là sự liệt kê đơn
giản các định nghĩa về những vấn đề sức khỏe tâm thần. Hơn thế nữa, chúng cũng
đưa ra cách sử dụng hệ thống phân cực phù hợp với mô hình điều trị y khoa. Một
cá nhân có phải điều trị hay không và có phải vào viện hay không tuỳ thuộc vào
anh ta có bệnh hay không. Tuy nhiên người ta vẫn còn tranh luận về cái mà mô
hình y khoa đề ra rằng một chẩn đoán tin cậy phải nhất quán trong một nước hoặc
giữa các nước và phải khẳng định được:
- Bất kì một cá nhân nào có vấn đề sức khỏe tâm thần thì phải được chẩn đoán như
nhau trên thế giới
- Họ phải được điều trị như nhau dù là ở đâu
- Mô hình phân loại không thừa nhận kinh nghiệm của cá nhân. Họ chỉ làm nhiệm
vụ chẩn đoán và trị liệu chính chẩn đoán đó chứ không trị liệu cá nhân.
- Mô hình phân loại cũng hàm ý rằng các yếu tố sinh học đóng vai trò cơ sở trong
sự phát triển của những vấn đề sức khỏe tâm thần và như vậy trị liệu sinh học
đương nhiên là có cơ sở. Sự lí giải như vậy đã bỏ qua những chứng cứ về vai trò
then chốt của các yếu tố tâm lí, xã hội đối với sự hình thành và phát triển những
vấn đề về sức khỏe tâm thần và các yếu tố sinh học tham gia vào những vấn đề này
cũng bị thay đổi khi các yếu tố tâm lí, xã hội thay đổi. Điều này có thể không được
đánh giá đúng mức khi liệu pháp hoá dược đã có kết quả trong việc điều trị một số
bệnh dường như liên quan nhiều đến các yếu tố sinh học (ví dụ, tâm thần phân liệt,
trầm cảm). Tuy nhiên, các liệu pháp tâm lí đã chứng tỏ có hiệu quả hơn dược lý
trong việc điều trị nhiều bệnh.