Mở rộng hoạt động thanh toán quốc tế tại Sở giao dịch Ngân hàng Nông nghiệp & Phát triển nông thôn Việt Nam - Pdf 11

Chuyên đề tốt nghiệp GVHD: TS.Đàm Văn Huệ
LỜI CẢM ƠN
Em xin chân thành cảm ơn các thầy cô trong khoa Ngân hàng – Tài chính,
trường Đai học kinh tế quốc dân đã giảng dạy em trong thời gian qua, đặc biệt
em xin cảm ơn thầy giáo, TS. Đàm Văn Huệ là người đã trực tiếp hướng dẫn
em trong suốt thời gian thực tập và làm chuyên đề tốt nghiệp. Nhờ sự hướng
dẫn và dìu dắt của thầy cô, em đã tích lũy được những kiến thức cơ bản đáng
quý, đồng thời qua thời gian thực tập và làm chuyên đề, em có điều kiện ứng
dụng kiến thức của mình vào thực tiễn, qua đó giúp em đúc kết được những
kinh nghiệm quý báu để tiếp tục bước trên con đường sự nghiệp sau này. Em
cũng xin chân thành cảm ơn các chị tại Phòng Kinh doanh ngoại tệ và Thanh
toán quốc tế nói riêng và các cô chú, anh chị tại Sở giao dịch Ngân hàng
Nông nghiệp & Phát triển nông thôn Việt Nam nói chung đã tạo điều kiện cho
em được thực tập tại đây và hoàn thành chuyên đề này.
Mặc dù đã rất cố gắng nhưng do thời gian có hạn và kiến thức còn hạn
chế nên bài viết không thể tránh khỏi những thiếu sót. Rất mong được sự
đóng góp và ủng hộ của thầy cô, anh chị và các bạn.
Xin chân thành cảm ơn !
1
Chuyên đề tốt nghiệp GVHD: TS.Đàm Văn Huệ
LỜI MỞ ĐẦU
Lịch sử phát triển kinh tế thế giới đã khẳng định một đất nước muốn phát
triển một cách bền vững và nhanh chóng thì ngoài việc khai thác tối đa tiềm
năng trong nước, còn phải biết tận dụng “tinh hoa” của nhân loại về khoa học
kỹ thuật, về kinh tế, phát huy lợi thế của kinh tế trong nước thông qua xuất
nhập khẩu. Đặc biệt trong thời đại ngày nay, xu hướng toàn cầu hóa nền kinh
tế đang diễn ra với tốc độ rất mạnh mẽ khiến cho các quốc gia trong khu vực
và trên thế giới luôn vận động trong một mối tương quan chặt chẽ. Không một
quốc gia nào muốn phát triển mà lại cho phép mình đứng ngoài “cuộc chơi”
chung này. Việt Nam cũng không nằm ngoài xu thế đó, sau khi gia nhập Tổ
chức thương mại thế giới WTO (7/11/2006) và gần đây là thành viên không

Việt Nam” để làm chuyên đề thực tập tốt nghiệp của mình.
Phạm vi chuyên đề chỉ đi nghiên cứu sâu về hoạt động thanh toán quốc tế
của Ngân hàng trong những năm gần đây, từ đó đưa ra các điểm mạnh, điểm
yếu cũng như một số giải pháp nhằm nâng cao khả năng cạnh tranh của Ngân
hàng Nông nghiệp & Phát triển nông thôn Việt Nam trong lĩnh vực thanh toán
quốc tế.
Chuyên đề được kết cấu theo 3 phần: Phần mở đầu, Phần nội dung và
Phần kết luận. Phần nội dung được trình bày trong 3 chương:
Chương 1: Những vấn đề cơ bản về thanh toán quốc tế của Ngân hàng
thương mại. Chương này tập trung tìm hiểu những vấn đề chung về mặt lý
thuyết của hoạt động thanh toán quốc tế cũng như vai trò của ngân hàng
thương mại.
Chưong 2: Thực trạng hoạt động thanh toán quốc tế tại Sở giao dịch Ngân
hàng Nông nghiệp & Phát triển nông thôn Việt Nam. Chương này đi vào phân
tích tình hình hoạt động thanh toán quốc tế tại Sở giao dịch Ngân hàng Nông
nghiệp & Phát triển nông thôn Việt Nam, những kết quả đạt được và những
khó khăn, từ đó tìm ra nguyên nhân.
Chương 3: Giải pháp mở rộng hoạt động thanh toán quốc tế tại Sở giao
dịch Ngân hàng Nông nghiệp & Phát triển nông thôn Việt Nam. Trên cơ sở lý
thuyết ở chương 1 và những nhận định ở chương 2, chương 3 đưa ra một số
giải pháp, kiến nghị nhằm hoàn thiện hoạt động này.
3
Chuyên đề tốt nghiệp GVHD: TS.Đàm Văn Huệ
CHƯƠNG I:
NHỮNG VẤN ĐỀ CƠ BẢN VỀ THANH TOÁN QUỐC TẾ
CỦA NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI
1.1 CÁC HOẠT ĐỘNG CHỦ YẾU CỦA NHTM
1.1.1 KHÁI NIỆM VỀ NHTM
Ngân hàng là một trong các tổ chức tài chính quan trọng nhất của nền
kinh tế. Ngân hàng bao gồm nhiều loại tùy thuộc vào sự phát triển của nền

chi tiêu cho tiêu dùng và đầu tư vượt quá thu nhập và vì thế họ là những
người cần bổ sung vốn; (2) các cá nhân và tổ chức thặng dư trong chi tiêu, tức
là thu nhập hiện tại của họ lớn hơn các khoản chi tiêu cho hàng hóa, dịch vụ
và do vậy họ có tiền để tiết kiệm.
Chức năng tạo phương tiện thanh toán
Tiền – vàng có một chức năng quan trọng là làm phương tiện thanh toán.
Các ngân hàng thợ vàng tạo phương tiện thanh toán khi phát hành giấy nhận
nợ với khách hàng. Giấy nhận nợ do ngân hàng phát hành với ưu điểm nhất
định đã trở thành phương tiện thanh toán rộng rãi được nhiều người chấp
nhận. Với nhiều ưu thế, dần dần giấy nợ của ngân hàng đã thay thế tiền kim
loại làm phương tiện lưu thông và phương tiện cất trữ; nó trở thành tiền giấy.
Chức năng trung gian thanh toán
Ngân hàng trở thành trung gian thanh toán lớn nhất hiện nay ở hầu hết các
quốc gia. Thay mặt khách hàng, ngân hàng thực hiện thanh toán giá trị hàng
hóa và dịch vụ . Để việc thanh toán nhanh chóng, thuận tiện và tiết kiệm chi
phí, ngân hàng đưa ra cho khách hàng nhiều hình thức thanh toán như thanh
toán bằng séc, ủy nhiệm chi, nhờ thu, các loại thẻ... cung cấp mạng lưới thanh
toán điện tử, kết nối các quỹ và cung cấp tiền giấy khi khách hàng cần. Các
ngân hàng còn thực hiên thanh toán bù trừ với nhau thông qua ngân hàng
5
Chuyên đề tốt nghiệp GVHD: TS.Đàm Văn Huệ
Trung ương hoặc thông qua các trung tâm thanh toán. Công nghệ thanh toán
qua ngân hàng càng đạt hiệu quả cao khi qui mô sử dụng công nghệ đó càng
được mở rộng. Nhiều hình thức thanh toán được chuẩn hóa góp phần tạo tính
thống nhất trong thanh toán không chỉ giữa các ngân hàng trong một quốc gia
mà còn giữa các ngân hàng trên toàn thế giới. Các trung tâm thanh toán quốc
tế được thiết lập đã làm tăng hiệu quả của thanh toán qua ngân hàng , biến
ngân hàng trở thành trung tâm thanh toán quan trọng và có hiệu quả, phục vụ
đắc lực cho nền kinh tế toàn cầu.
1.1.2 CÁC HOẠT ĐỘNG CHỦ YẾU CỦA NHTM

cho ngân hàng để lấy tiền trước ). Sau đó là bước chuyển tiếp từ chiết khấu
thương phiếu sang cho vay trực tiếp đối với các khách hàng ( là người mua),
giúp họ có vốn để mua hàng dự trữ nhằm mở rộng sản xuất kinh doanh.
Cho vay tiêu dùng
Trong giai đoạn đầu hầu hết các ngân hàng không tích cực cho vay đối
với cá nhân và hộ gia đình bởi vì họ tin rằng các khoản cho vay tiêu dùng rủi
ro vỡ nợ tương đối cao. Sự gia tăng thu nhập của người tiêu dùng và sự cạnh
tranh trong cho vay đã buộc các ngân hàng phải hướng tới người tiêu dùng
như là một khách hàng tiềm năng. Sau Chiến tranh thế giới lần thứ hai, tín
dụng tiêu dùng đã trở thành một trong những loại hình tín dụng tăng trưởng
nhanh nhất ở các nước có nền kinh tế phát triển.
Tài trợ cho dự án
Bên cạnh cho vay truyền thống là cho vay ngắn hạn các ngân hàng ngày
càng trở nên năng động trong việc tài trợ cho xây dựng nhà máy mới đặc biệt
là trong các ngành công nghệ cao. Do rủi ro trong loại hình tín dụng này nói
chung là cao song lại lãi lớn. Một số ngân hàng còn cho vay để đầu tư vào
đất.
1.1.2.4 Thanh toán
Khi doanh nhân gửi tiền vào ngân hàng , họ nhận thấy ngân hàng không
chỉ bảo quản mà còn thực hiện các lệnh chi trả cho khách hàng của họ. Thanh
toán qua ngân hàng đã mở đầu cho thanh toán không dùng tiền mặt, tức là
người gửi tiền không cần phải đến ngân hàng để lấy tiền mà chỉ cần viết giấy
chi trả cho khách ( còn được gọi là séc ), khách hàng mang giấy đến ngân
hàng sẽ nhận được tiền. Các tiện ích của thanh toán không dùng tiền mặt ( an
7
Chuyên đề tốt nghiệp GVHD: TS.Đàm Văn Huệ
toàn, nhanh chóng, chính xác, tiết kiệm chi phí ) đã góp phần rút ngắn thời
gian kinh doanh và nâng cao thu nhập cho các doanh nhân. Khi ngân hàng mở
rộng chi nhánh, thanh toán qua ngân hàng được mở rộng phạm vi, không chỉ
trong nước mà trên toàn thế giới, cùng với đó là sự tiến bộ của khoa học kỹ

với mức độ nào đó các chính sách của Chính phủ và tài trợ cho Chính phủ.
Bảo lãnh
Do khả năng thanh toán của ngân hàng cho một khách hàng rất lớn và do
ngân hàng nắm giữ tiền gửi của các khách hàng, nân ngân hàng có uy tín
trong bản lãnh cho khách hàng. Trong những năm gần đây, nghiệp vụ bảo
lãnh ngày càng đa dạng và phát triển mạnh. Ngân hàng thường bảo lãnh cho
khách hàng của mình mua chịu hàng hóa và trang thiết bị, phát hành chứng
khoán, vay vốn của tổ chức tín dụng khác.
Cho thuê thiết bị trung và dài hạn
Nhằm để bán được các thiết bị, đặc biệt là các thiết bị có giá trị lớn, nhiều
hãng sản xuất và thương mại đã cho thuê ( thay vì bán ) các thiết bị. Rất nhiều
ngân hàng tích cực cho khách hàng kinh doanh quyền lựa chọn thuê các thiết
bị, máy móc cần thiết thông qua hợp đồng thuê mua, trong đó ngân hàng mua
thiết bị và cho khách hàng thuê.
Ngoài các nghiệp vụ nói trên, các ngân hàng hiện đại ngày nay còn có thể
cung cấp các nghiệp vụ về tài chính sau:
- Dịch vụ ủy thác và tư vấn
- Dịch vụ môi giới đầu tư chứng khoán
- Các dịch vụ bảo hiểm
- Các dịch vụ đại lý
1.2 HOẠT ĐỘNG THANH TOÁN QUỐC TẾ CỦA NHTM
1.2.1 Khái niệm về hoạt động thanh toán quốc tế
Trong bối cảnh hội nhập kinh tế toàn cầu như hiện nay, các mối quan hệ
kinh tế, chính trị thương mại ngày càng phát triển mạnh mẽ và kết quả là hình
thành nên các khoản thu và chi tiền tệ quốc tế giữa các đối tác ở các nước
khác nhau. Các mối quan hệ tiền tệ này ngày một phong phú, đa dạng với quy
mô ngày càng lớn. Chúng góp phần tạo nên tình trạng tài chính của mỗi
nước, có thể ở trạng thái bội thu hay bội chi. Trong các mối quan hệ quốc tế,
các đối tác ở các nước khác nhau, do vậy có sự khác nhau về ngôn ngữ, cách
9

đồng thời phải tính toán thận trọng để lựa chọn các biện pháp phòng chống rủi
ro khi tỷ giá hối đoái biến động.
10
Chuyên đề tốt nghiệp GVHD: TS.Đàm Văn Huệ
Tiền tệ trong thanh toán quốc tế thường không phải là tiền mặt mà nó tồn
tại dưới hình thức các phương tiện thanh toán như thư chuyển tiền, điện
chuyển tiền, hối phiếu, kỳ phiếu và séc ghi bằng ngoại tệ.
Thanh toán giữa các nước đều được tiến hành thông qua ngân hàng và
không dùng tiền mặt, nếu có thì chỉ trong những trường hợp riêng biệt. Do
vậy thanh toán quốc tế về bản chất chính là các nghiệp vụ ngân hàng quốc tế.
Chúng được hình thành và phát triển trên cơ sở các hợp đồng ngoại thương và
các trao đổi tiền tệ quốc tế.
Thanh toán quốc tế được thực hiện dựa trên nền tảng pháp luật và tập
quán thương mại quốc tế, đồng thời nó cũng bị chi phối bởi luật pháp của các
quốc gia, bởi các chính sách kinh tế, chính sách ngoại thương và chính sách
ngoại hối của các quốc gia tham gia trong thanh toán.
1.2.2 Vai trò của ngân hàng trong thanh toán quốc tế
Trong quan hệ thương mại, quyền lợi của các bên thường không phải lúc
nào cũng đều thuận lợi như nhau, có những điều kiện tốt cho bên này thì lại
gây khó khăn, cản trở cho bên kia. Do đó, các bên thường xảy ra mâu thuẫn
với nhau, bên nào cũng muốn giành về mình phần thuận lợi hơn. Để giải
quyết mâu thuẫn đó cần phải có sự tham gia của các ngân hàng thương mại
đóng vai trò là trung gian thanh toán , tạo nên sự tin tưởng, thuận lợi cho cả
hai bên.
Mặt khác, tham gia vào hoạt động xuất nhập khẩu ít nhất là hai đối tác từ
hai quốc gia khác nhau. Chính vì vậy, trong quá trình giao dịch sẽ gặp một số
khó khăn trở ngại như sự bất đồng về ngôn ngữ, văn hóa, mỗi quốc gia lại có
những luật lệ khác nhau về dân sự, chính sách kinh tế, quan hệ đối ngoại...Ở
mỗi nước lại có đồng tiền riêng của mình cũng như chế độ quản lý ngoại hối
riêng. Việc quyết định dùng đồng tiền nào để thanh toán cũng cần phải được

ngôn ngữ, phong tục tập quán thanh toán cũng đòi hỏi các ngân hàng phải là
những chuyên gia trong lĩnh vực thương mại quốc tế, có khả năng cung cấp
những thông tin và lời khuyên, có kỹ năng soạn thảo hợp đồng quốc tế nhằm
đưa đến việc ký kết hợp đồng thành công, tránh tối đa những tranh cãi, bất
đồng có thể nảy sinh.
Ngày nay, sự tham gia của các ngân hàng thương mại không chỉ dừng lại
ở sự hỗ trợ về mặt kỹ thuật mà còn cả về mặt tài chính. Các ngân hàng khi cần
thiết sẽ là người bảo lãnh thanh toán hoặc tài trợ cho các doanh nghiệp thực
12
Chuyên đề tốt nghiệp GVHD: TS.Đàm Văn Huệ
hiện hoạt động xuất nhập khẩu. Chẳng hạn, với những hợp đồng ngoại thương
có giá trị lớn, khi vốn lưu động của khách hàng không đủ để thực hiện hợp
đồng, họ sẽ nhờ đến sự trợ giúp của ngân hàng thông qua việc tài trợ vốn hay
bảo lãnh thanh toán. Ngân hàng khi đó vừa là ngân hàng phục vụ người xuất
khẩu (hoặc nhập khẩu), vừa là ngân hàng tài trợ giúp thương vụ được thực
hiện. Ngược lại, trong quá trình tài trợ, muốn đảm bảo đồng vốn tài trợ được
sử dụng đúng mục đích, quản lý được nguồn thu, ngân hàng sẽ tham gia thanh
toán quốc tế với vai trò là ngân hàng thương lượng (Negotiating Bank), ngân
hàng nhờ thu (Collection Bank) hoặc ngân hàng phát hành ( Issuing Bank).
Có thể thấy rằng, ngày nay sự tham gia của các ngân hàng thương mại
trong hoạt động thanh toán quốc tế là một tất yếu và đang ngày càng đóng vai
trò quan trọng. Tuy nhiên, mức độ tham gia của các ngân hàng vào hoạt động
này rất khác nhau, tùy thuộc vào khả năng đáp ứng của mỗi ngân hàng đến
đâu. Để xem xét khả năng đáp ứng của mỗi ngân hàng đối với hoạt động
thanh toán quốc tế, chúng ta cần quan tâm tới “Các phương tiện thanh toán
quốc tế” và “Các phương thức thanh toán quốc tế”, những vấn đề này sẽ
được trình bày trong các phần sau đây.
1.2.3 Các phương tiện thanh toán quốc tế
Các phương tiện lưu thông tín dụng dùng làm phương tiện thanh toán
quốc tế được hình thành trên cơ sở sự phát triển của tín dụng thương mại, tín

hối phiếu của luật ULB.
Theo đó: Hối phiếu là tờ mệnh lệnh trả tiền vô điều kiện do một người ký
phát cho người khác, yêu cầu người này khi nhìn thấy phiếu, hoặc đến một
ngày cụ thể nhất định hoặc một ngày có thể xác định trong tương lai phải trả
một số tiền nhất định cho một người nào đó hoặc theo lệnh của người này trả
cho một người khác hoặc trả cho người cầm phiếu.
Trên cơ sở định nghĩa này chúng ta thấy hối phiếu có các đặc tính quan
trọng sau:
Thứ nhất, tính trừu tượng của hối phiếu thể hiện rằng trên hối phiếu
không cần phải ghi nội dung quan hệ tín dụng, tức là nguyên nhân sinh ra việc
lập hối phiếu mà chỉ cần ghi số tiền phải trả và những nội dung có liên quan
đến việc trả tiền. Hiệu lực pháp lý của hối phiếu cũng không bị ràng buộc do
nguyên nhân gì sinh ra hối phiếu. Một khi được tách khỏi hợp đồng và nằm
trong tay người thứ ba thì hối phiếu trở thành một trái vụ độc lập, chứ không
14
Chuyên đề tốt nghiệp GVHD: TS.Đàm Văn Huệ
phải là trái vụ sinh ra từ hợp đồng. Nghĩa vụ trả tiền của hối phiếu là trừu
tượng.
Thứ hai, tính bắt buộc trả tiền của hối phiếu thể hiện người trả tiền hối
phiếu phải trả theo đúng nội dung ghi trên phiếu và không được viện những lý
do riêng của mình đối với người phát phiếu, người ký hậu để từ chối việc trả
tiền, trừ trường hợp hối phiếu được lập trái với đạo luật chi phối nó. Ví dụ:
một người đặt hàng mua máy móc, sau khi ký hợp đồng đã chấp nhận trả tiền
vào tờ phiếu do người cung cấp hàng gửi đến, hối phiếu đó đã được chuyển
đến tay người thứ ba thì người đặt hàng bắt buộc phải trả tiền cho người cầm
phiếu này ngay cả trong trường hợp người cung cấp hàng vi phạm hợp đồng
không giao hàng cho người mua.
Thứ ba, tính lưu thông của hối phiếu thể hiện hối phiếu có thể được
chuyển nhượng một hay nhiều lần trong thời hạn của nó, bởi vì hối phiếu là
lệnh đòi tiền của một người này với người khác, hối phiếu có một trị giá tiền

bản số một của hối phiếu. Bản số hai lại ghi “Sau khi nhìn thấy bản thứ hai
của hối phiếu này (bản thứ nhất có cùng nội dung và ngày tháng không trả
tiền)..”. Hối phiếu không có bản phụ.
Thứ hai, về mặt nội dung, theo Luật Thống nhất về Hối phiếu ban hành
theo Công ước Geneve 1930 (Uniform Law for Bill of Exchange - ULB),
một hối phiếu phải bao gồm 8 nội dung bắt buộc sau đây:
1. Tiêu đề của hối phiếu: Chữ Hối phiếu là tiêu đề của một hối phiếu,
thiếu tiêu đề này, hối phiếu sẽ trở thành vô giá trị. Ngôn ngữ của tiêu đề phải
cùng ngôn ngữ của toàn bộ nội dung hối phiếu.
2. Địa điểm và ngày ký phát hối phiếu: thông thường địa chỉ của người lập
hối phiếu là địa điểm ký phát phiếu. Hối phiếu được ký phát ở đâu thì lấy địa
điểm ký phát ở đó. Một hối phiếu không ghi rõ địa điểm ký phát, người ta cho
phép lấy địa chỉ bên cạnh tên của người ký phát làm địa điểm ký phát hối
phiếu. Nếu trên hối phiếu thiếu cả địa chỉ của người phát hành thì hối phiếu
đó vô giá trị. Ngày tháng ký phát hối phiếu có ý nghĩa quan trọng trong việc
xác định kỳ hạn trả tiền của hối phiếu có kỳ hạn nếu hối phiếu ghi rằng: “Sau
X ngày kể từ ngày ký phát hối phiếu này”. Ngày ký phát hối phiếu còn liên
quan đến khả năng thanh toán của hối phiếu. Ví dụ, nếu ngày ký phát hối
phiếu xảy ra sau ngày người có nghĩa vụ trả tiền hối phiếu mất khả năng
16
Chuyên đề tốt nghiệp GVHD: TS.Đàm Văn Huệ
thanh toán như bị phá sản, bị đưa ra tòa, bị chết v.v.. thì khả năng thanh toán
hối phiếu đó không còn nữa.
3. Mệnh lệnh đòi tiền vô điều kiện một số tiền cụ thể: hối phiếu là một
mệnh lệnh đòi tiền, không phải là một yêu cầu đòi tiền. Việc trả tiền là vô
điều kiện, có nghĩa là trong hối phiếu không được viện lý do nào khác, trừ lý
do hối phiếu trái với luật hối phiếu, để quyết định có trả tiền hay không. Số
tiền của hối phiếu là một số tiền nhất định, tức là một số tiền được ghi một
cách đơn giản và rõ ràng, người ta có thể nhìn qua để biết được số tiền phải
trả là bao nhiêu, không cần qua các nghiệp vụ tính toán nào dù là đơn giản. Số

phiếu chỉ định.
7. Người trả tiền hối phiếu được ghi rõ ở mặt trước, góc trái cuối cùng của
tờ hối phiếu, sau chữ “gửi..”
8. Người ký phát phiếu được ghi ở mặt trước, góc phải cuối cùng của tờ
phiếu. Cần đặc biệt chú ý là tất cả những người có liên quan được ghi trên tờ
hối phiếu phải ghi rõ đầy đủ tên, địa chỉ mà họ dùng để đăng ký hoạt động
kinh doanh. Người ký phát hối phiếu phải ký tên trên mặt trước, góc phải cuối
cùng của tờ hối phiếu đó. Người ký phát hối phiếu phải đăng ký mẫu chữ ký
với một cơ quan chuyên trách, không được phép ủy quyền cho người khác ký
thay mình trên hối phiếu. Chữ ký phải được ký bằng tay và không được đóng
dấu đè lên chữ ký.
Ngoài những nội dung bắt buộc nêu trên, hối phiếu còn có thể bao gồm
thêm những nội dung khác do hai bên thỏa thuận, miễn là các nội dung này
không làm sai lạc tính chất của hối phiếu do luật quy định.
+ Phân loại hối phiếu
*Căn cứ vào thời hạn trả tiền của hối phiếu, người ta chia hối phiếu làm
3 loại:
Hối phiếu trả tiền ngay: Người trả tiền khi nhìn thấy hối phiếu này do
người cầm phiếu xuất trình thì phải trả tiền ngay cho họ.
Hối phiếu trả tiền ngay sau một số ngày nhất định, thường là trả tiền sau
5-7 ngày: Người trả tiền khi nhìn thấy hối phiếu này do người cầm phiếu xuất
trình thì tiến hành ký chấp nhận trả tiền, sau đó từ 5 - 7 ngày thì trả tiền tờ hối
phiếu đó.
18
Chuyên đề tốt nghiệp GVHD: TS.Đàm Văn Huệ
Hối phiếu có kỳ hạn: Sau một thời gian nhất định ghi trên hối phiếu,
người trả tiền phải trả hoặc tính từ ngày ký phát hối phiếu hoặc tính từ ngày
chấp nhận hối phiếu hoặc từ một ngày quy định cụ thể.
*Căn cứ vào hối phiếu có kèm theo chứng từ hay không, có thể chia hối
phiếu làm 2 loại:

tiền nhất định vào một ngày nhất định cho người hưởng lợi được chỉ định trên
Kỳ phiếu hoặc theo lệnh của người hưởng lợi trả cho một người khác.
Như vậy, ngược lại với hối phiếu, kỳ phiếu do con nợ viết ra để hứa cam
kết trả tiền cho người hưởng lợi. Với tính thụ động trong thanh toán như vậy,
trong thanh toán quốc tế, kỳ phiếu ít thông dụng hơn hối phiếu.
Các điều mà luật dùng để điều chỉnh hối phiếu cũng được áp dụng tương
tự cho kỳ phiếu thương mại. Tuy nhiên, có một số đặc thù sau:
Thứ nhất, kỳ hạn kỳ phiếu được quy định rõ trên tờ lệnh này. Trên kỳ
phiếu phải ghi rõ ngày tháng năm sẽ trả tiền cho chủ nợ.
Thứ hai, một kỳ phiếu có thể do một hay nhiều người ký phát để cam kết
thanh toán cho một hay nhiều người hưởng lợi.
Thứ ba, kỳ phiếu cần có sự bảo lãnh của ngân hàng hoặc Công ty tài
chính. Sự bảo lãnh này đảm bảo khả năng thanh toán của kỳ phiếu. Bởi vì về
bản chất kỳ phiếu là do con nợ cam kết trả nợ, do vậy để đảm bảo cho lời cam
kết này, bắt buộc phải có sự bảo lãnh.
Thứ tư, hối phiếu thường gồm 2 bản, bản số 1 và số 2, kỳ phiếu chỉ có
một bản chính duy nhất do con nợ ký phát để chuyển cho người hưởng lợi kỳ
phiếu đó.
1.2.3.3 Séc ( Cheque )
+ Khái niệm: Séc là một tờ mệnh lệnh vô điều kiện của người chủ tài khoản
ra lệnh cho ngân hàng trích từ tài khoản của mình để trả cho người có tên
trong séc, hoặc trả theo lệnh của người ấy hoặc trả cho người cầm séc một số
tiền nhất định bằng tiền mặt hay chuyển khoản.
Người có tiền mở tại ngân hàng một tài khoản, ngân hàng sẽ cấp cho
người gửi tiền một quyển séc. Mỗi lần muốn rút tiền ra thì lập một tờ séc đưa
đến ngân hàng để lĩnh tiền.
Séc là một phương tiện thanh toán được sử dụng rộng rãi trong các nước
có hệ thống ngân hàng phát triển cao. Hiện nay séc là phương tiện chi trả
được dùng hầu như phổ biến trong thanh toán nội địa của tất cả các nước. Séc
20

tiền, ký hiệu tiền, số tiền bằng số, bằng chữ lên chỗ trống của tờ séc.
21
Chuyên đề tốt nghiệp GVHD: TS.Đàm Văn Huệ
Đặc điểm của séc là có tính thời hạn, tức là tờ séc chỉ có giá trị tiền tệ
hoặc thanh toán nếu thời hạn hiệu lực của nó chưa hết đối với séc thương mại.
Thời hạn hiệu lực của tờ séc được ghi rõ trên tờ séc và tùy thuộc vào phạm vi
không gian mà séc lưu hành và luật pháp các nước quy định. Nói chung séc
lưu hành trong nội địa thời gian ngắn hơn lưu hành trong thanh toán quốc tế.
Séc trả tiền ngay, thời hạn hiệu lực là 8 ngày làm việc kể từ ngày phát
hành séc, nếu là séc lưu hành trong nước, thời hạn hiệu lực là 20 ngày làm
việc nếu lưu thông ngoài nước trong cùng một châu, là 70 ngày nếu séc được
trả ở một nước không cùng châu. Qúa thời hạn trên nếu séc không quay trở lại
ngân hàng thì séc sẽ mất hiệu lực. Đối với séc du lịch thì không quy định thời
hạn hiệu lực. Ở Việt Nam, thời hạn thanh toán séc là 15 ngày kể từ ngày ký
phát séc.
+ Những người liên quan đến séc
Những người liên quan đến việc phát hành và sử dụng séc thường bao
gồm ngưới ký phát séc, người hưởng lợi séc và ngân hàng thanh toán séc.
Người phát ra séc để trả nợ gọi là người phát hành séc. Ngân hàng thanh toán
là người trả tiền cho người hưởng lợi tờ séc. Người nhận tiền là người hưởng
lợi tờ séc.
Sau khi séc được phát hành, người có quyền hưởng lợi tờ séc gọi là người
cầm séc. Séc có thể chuyển nhượng cho nhiều người liên tiếp bằng phương
pháp ký hậu trong thời hạn hiệu lực của séc.
Ký hậu có 2 ý nghĩa. Thứ nhất, ký hậu chứng nhận việc chuyển giao
quyền hưởng séc cho một người khác. Thứ hai, ký hậu xác nhận trách nhiệm
của người chuyển nhượng đối với tất cả những người cầm giữ tờ séc sau đó
về việc trả tiền đối với tờ séc. Tuy nhiên người chuyển nhượng séc có thể
thoái thác trách nhiệm này bằng cách ghi thêm một điều kiện về bảo lưu cùng
với chữ ký hậu “không được truy đòi”. Việc ký hậu séc chỉ được thực hiện

không cần sự ủy quyền cũng lĩnh được tiền.
* Căn cứ vào người phát hành séc được chia làm hai loại:
Séc cá nhân: được sử dụng để nhận tiền tại ngân hàng của nhà nhập khẩu.
Thuận lợi cơ bản đối với người nhập khẩu là họ được hưởng lợi cho đến khi
séc xuất trình tại ngân hàng của nhà nhập khẩu. Tuy nhiên, trong trường hợp
23
Chuyên đề tốt nghiệp GVHD: TS.Đàm Văn Huệ
này nhà nhập khẩu cũng phải chịu rủi ro khi tỷ giá ngoại tệ tăng. Tuy nhiên
séc loại này không được an toàn khi sử dụng trong thanh toán quốc tế.
Séc bảo chi của ngân hàng hay séc xác nhận: Loại séc này bảo đảm an
toàn hơn trong thanh toán quốc tế và sử dụng thuận lợi hơn.
Ngoài ba cách phân loại séc nêu trên, còn có các loại séc đặc biệt như séc
du lịch, séc gạch chéo, séc tài khoản của người hưởng lợi.
Séc du lịch là loại séc do ngân hàng phát hành và được trả tiền tại bất cứ
một chi nhánh hay đại lý của ngân hàng đó. Ngân hàng phát séc đồng thời
cũng là ngân hàng trả tiền. Người hưởng lợi là khách du lịch có tiền tại ngân
hàng phát séc. Trên séc du lịch phải có chữ ký của người hưởng lợi. Khi lĩnh
tiền tại ngân hàng được chỉ định, người hưởng lợi phải ký tại chỗ để ngân
hàng kiểm tra, nếu đúng, ngân hàng mới trả tiền. Thời gian của séc du lịch có
hiệu lực do ngân hàng phát séc và người hưởng lợi thỏa thuận, có thể có hạn
và có thể vô hạn. Trên séc du lịch có ghi rõ khu vực các ngân hàng trả tiền,
ngoài khu vực đó, séc không có giá trị lĩnh tiền.
1.2.3.4 Thẻ thanh toán
Thẻ thanh toán là loại phương tiện chi trả hiện đại, xuất hiện với tư cách
là phương tiện thanh toán lần đầu tiên tại Mỹ vào năm 1914. Tuy nhiên, nó
chỉ được sử dụng rộng rãi vào những năm 1950. Và vào khoảng những năm
1960, thẻ thanh toán đã dần dần thâm nhập vào cuộc sống dân của cư tại các
nước Châu Âu và ngày nay nó đã phát triển rộng rãi, trở thành phương tiện
thông dụng trên thế giới.
+ Khái niệm: Thẻ thanh toán (hay thẻ chi trả, thẻ giao dịch) là một phương

Diners club, Amex ...
* Căn cứ vào tính chất thanh toán thẻ được chia làm 3 loại:
Thẻ tín dụng (Credit card): được sử dụng phổ biến nhất. Chủ thẻ được
phép sử dụng một hạn mức tín dụng không phải trả lãi để mua sắm tại những
cơ sở kinh doanh chấp nhận loại thẻ này.
Thẻ ghi nợ (Debit card): đây là loại thẻ có quan hệ trực tiếp và gắn liền
với tài khoản tiền gửi. Loại thẻ này khi dùng để mua hàng sẽ được khấu trừ
ngay lập tức vào tài khoản của chủ thẻ thông qua những thiết bị điện tử đặt tại
các có sở kinh doanh. Thẻ ghi nợ còn dùng để rút tiền ở máy tự động. Nó
không có mức hạn mức tín dụng vì phụ thuộc vào số dư hiện hữu trên tài
khoản của chủ thẻ.
25

Trích đoạn Sự phát triển của thị trường ngoại hối Quá trình hình thành và phát triển của Sở giao dịch Chức năng các phòng ban Hoạt động huy động vốn Thực trạng hoạt động thanh toán quốc tế theo phương thức
Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status