SUY NGHĨ VỀ ĐÀO TẠO MỸ THUẬT NHÂN XEM TRIỂN LÃM MỸ THUẬT QUỐC TẾ 6 TRƯỜNG ĐẠI HỌC MỸ THUẬT - Pdf 11


SUY NGHĨ VỀ ĐÀO TẠO MỸ THUẬT NHÂN XEM
TRIỂN LÃM MỸ THUẬT QUỐC TẾ 6 TRƯỜNG
ĐẠI HỌC MỸ THUẬT
Có sáng tác mỹ thuật là có nhận xét về tác phẩm mỹ thuật.
Người nhận xét sáng tác mỹ thuật có thể không làm ra tác
phẩm nhưng có thể phát biểu những suy nghĩ của mình về tác
phẩm đã được làm ra. Khi đời sống xã hội phát triển, yêu cầu về thưởng thức, đánh
giá, nhận xét về một tác phẩm mỹ thuật cũng trở thành một chức năng có tính chất
xã hội làm cho đời sống sáng tác được kích thích. Khi thưởng thức giá trị của tác
phẩm mỹ thuật người xem thường chú ý tiêu chí thẩm mỹ của từng triển lãm, của
thời đại. Tuy vậy, giá trị của tác phẩm mỹ thuật chỉ là tương đối, ngay cả khi tác
phẩm đó được giới chuyên nghiệp đánh giá cao. Mỗi loại tác phẩm có ngôn ngữ
của riêng mình, người xem cũng đòi hỏi tác phẩm phải thoả mãn những đặc trưng
ngôn ngữ ấy. Những tác phẩm mỹ thuật trưng bày trong triển lãm 6 trường đào tạo
mỹ thuật chuyên nghiệp Việt - Thái Lan đang diễn ra ở 3 thành phố lớn Huế,
Thành phố Hồ Chí Minh, Hà Nội vào tháng 11, 12 năm 2007 cũng sẽ bị người xem
đòi hỏi, quan tâm nhiều tới yếu tố hàn lâm của mỗi cơ sở đào tạo đại học mỹ thuật,
kỹ thuật sử dụng chất liệu, phong cách nghệ thuật, chiều sâu ý tưởng của mỗi tác
phẩm.
Triết học thế kỷ XX quan tâm đến những vấn đề của con người, quan tâm nghiên
cứu nội tâm của con người và cho rằng con người cần phải nhận thức thế giới theo
cảm xúc, tâm trạng cá nhân của mình. Đặc biệt triết học hiện sinh có ảnh hưởng
nhiều đến đến nghệ thuật hiện đại của các nước Tây phương, dành mọi ưu tiên cho
việc nghiên cứu con người. Họ cho rằng việc nghiên cứu con người trong những

nhịp độ chưa từng thấy, người ta thay chú ngựa bằng chiếc ô tô, thay ngọn nến
bằng đèn điện Con người nhìn về tương lai với niềm hy vọng một đời sống văn
minh. Thế nhưng những hy vọng đó đã tiêu tan. Đại chiến thế giới lần thứ nhất
(1914-1918), lần thứ hai (1939-1945) đã làm cho châu Âu rung chuyển. Hậu quả
của nó làm cho mặt đất của hành tinh chúng ta nhuốm đầy máu và phần lớn những
giá trị của chúng ta bị huỷ hoại. Những cuộc chiến tranh của thế kỷ XX là kết quả
của những thành tựu khoa học - kỹ thuật, khám phá của khoa học mà con người
chưa từng biết, buộc các nhà khoa học phải từ bỏ khuôn mẫu tư duy phổ biến thế
kỷ XIX. Xa rời cái cụ thể và hướng tới cái trừu tượng đã trở thành một khuynh
hướng phổ biến không chỉ trong khoa học tự nhiên mà cả trong khoa học nhân văn.
Và cuối cùng khuynh hướng đó đã được thể hiện trong sáng tác mỹ thuật. Chủ
nghĩa Hình thức trong sáng tác mỹ thuật thế kỷ XX về tổng thể có quan hệ chặt chẽ
và sâu sắc với triết học và tâm lý học thế kỷ XX. Muốn hiểu được nhiều tác phẩm
mỹ thuật Hình thức chủ nghĩa cần phải tìm ra chiếc chìa khoá để mở ra những ẩn ý
siêu hình hoặc tâm lý sâu sắc của nó. Không thể hình dung được tác phẩm mỹ
thuật có hình thức chủ nghĩa mà không có sự phân tích tâm lý vô thức của
Sigmund Freud (1856-1939), triết học trực giác của Henri Bergson.
Sáng tạo mỹ thuật cũng là một phương pháp nhận thức thế giới đóng vai trò đáng
kể trong việc hình thành nền móng tư tưởng. Các tác phẩm mỹ thuật hình thức chủ
nghĩa là thái độ đối với thời đại, mang trong mình tâm lý cá nhân và thế giới quan.
Chỉ có người nghệ sĩ mới thể hiện được trong tác phẩm của mình bản chất của tư
tưởng và chỉ có tác phẩm mỹ thuật mới có khả năng trả lời câu hỏi cuộc sống là gì!
Triết học của Henri Bergson, một trong những nhà triết học và lý luận nghệ thuật
duy tâm thần bí Pháp nổi tiếng nhất của 30 năm đầu thế kỷ XX đã đem bản năng
và trực giác để nhận thức cuộc sống. Hình thức cao nhất của trực giác, theo ông,
trực cảm thẩm mỹ của người nghệ sĩ và chỉ có sáng tạo nghệ thuật mới có thể thấu
hiểu bản chất thực của đời sống
Do tìm kiếm những phương thức biểu đạt mới, trong mỹ thuật đầu thế kỷ XX đã
lần lượt nảy sinh một số chủ nghiã, trường phái, chối bỏ nguyên tắc phản ánh cuộc
sống hiện thực. Chủ nghĩa Dã thú đã chọn màu sắc hoang dã sáng rực rỡ, âm vang,

hồn và những cảm nhận của hoạ sĩ như có sự rung động nào đó. Kanđinxki là nhà
lý luận đầu tiên của chủ nghĩa Trừu tượng đã chứng minh được hình thức là
phương tiện thể hiện “âm hưởng bên trong”, nó được sinh ra từ “sự tất yếu nội tại”
và như vậy mỹ thuật có đóng góp đa dạng của hình thức thể hiện các hình thái khác
nhau của thế giới tinh thần, những khát vọng nội tâm khác nhau của mỗi hoạ sĩ. Sự
thăng hoa của chủ nghĩa Trừu tượng gắn liền với nhiều hoạ sĩ tên tuổi và cho đến
ngày nay vẫn chưa chấm dứt. Điều này có lẽ nó thể hiện được tư tưởng tự do - tư
tưởng của triết học thời đại, tự do ngôn luận, tự do tìm tòi sáng tạo, tự do tạo dựng
phong cách riêng, tự do thích mất cân đối hơn là hài hoà, tự do giữ nguyên tắc hoặc
cự tuyệt nguyên tắc. Bản thân mỗi người sáng tác mỹ thuật tự khám phá bí quyết tự
do cho mình. Nghệ thuật thiếu tự do không thể tồn tại được. Chỉ có tự do mới cho
phép cá nhân khai mở khả năng sáng tạo của mình
Phải thừa nhận mỹ thuật thế kỷ XX là phức tạp và có vấn đề vì nó xuất hiện trong
thời đại có nhiều vấn đề cần giải quyết từ những cuộc sống cá nhân khác nhau.
Nghệ thuật từ thế kỷ XIX trở về trước đã gắn bó chặt chẽ với triết học tôn giáo, với
mỹ học cổ điển và làm cho con người chìm sâu vào thế giới thần linh, thần thánh,
cuộc sống thiên đường, vào sự chuẩn mực của cái đẹp. Mỹ thuật hình thức chủ
nghĩa thời đại chiến thế giới thể hiện về một thân phận con người bị thế giới bỏ rơi,
thể hiện được cuộc sống của loài người trong xã hội tư bản. Cái mà một người bình
thường cảm nhận một cách hời hợt và mơ hồ thì nhiều hoạ sĩ lại nhận thức và rung
động mạnh mẽ và bệnh hoạn. Tâm trạng bi quan kiểu hư vô chủ nghĩa trở thành
một hiện tượng phổ biến ở các nước tư bản Tây phương. Trong cái bề bộn của các
trường phái mỹ thuật, một đồ vật hết đát sử dụng có thể trở thành đối tượng của
nghệ thuật, do đó thường nảy sinh câu hỏi về ý nghĩa của các tác phẩm nghệ thuật.
Các nhà sáng tác mỹ thuật có xu hướng từ bỏ con đường mòn và bước vào những
cái chưa bao giờ nếm trải. Mãi mãi sẽ là như vậy, bản tính của loài người cũng như
vậy, đó là quy luật nội tại của tiến trình sáng tạo.
Chúng ta cần băn khoăn xem trên đường đi tới tương lai, trước mắt là trong kỷ
nguyên thứ XXI này sẽ mang lại cho con người nhu cầu thẩm mỹ gì? Những vấn
đề chúng ta trăn trở là loài người sẽ đi đến đâu, những yếu tố nào xác định khuynh

Trường Đại học Mỹ thuật Thành phố Hồ Chí Minh, chúng ta cũng dễ nhận ra
chiếm gần hết triển lãm, những tác phẩm có phong cách hình thức chủ nghĩa mà đã
được khẳng định ở thế kỷ XX. Các tác giả đã tỏ ra rất thông thạo trong việc sử
dụng các kỹ thuật thể hiện nội tâm tự do của mình. Hiếm hoi tác giả đã đặt ra vấn
đề của thế kỷ XXI. Tác phẩm Phía sau (125 x 125 cm) của Lê Anh Vân như hứa
hẹn cả một chặng đường sáng tạo và trước hết cần phải có cơ bản vững vàng. Tìm
lối (155 x 155 cm) sơn dầu của Trần Quốc Tuấn tuy chưa phải là đề tài hay nhưng
khiến ta suy nghĩ về một đất nước đang cải cách của chúng ta và nếu không tỉnh
táo, thận trọng cũng rất dễ lạc lối. Các tác phẩm của Thái Lan cũng sẽ làm chúng ta
chú ý đến các kỹ thuật sáng tác đồ hoạ. Khoa học thế kỷ XXI cũng sẽ dễ dàng trợ
giúp chúng ta trong việc tìm tòi những kỹ thuật biểu hiện mới làm tăng hiệu quả
thẩm mỹ của ý đồ tác phẩm
Như đã phân tích, nếu chúng ta thừa nhận thế kỷ XXI có cái gì khác thế kỷ XX thì
nó phải được thể hiện trên những tác phẩm mỹ thuật được sinh ra vào thế kỷ XXI.
Đã đến lúc thế kỷ XXI đòi hỏi một hình thức biểu hiện mới và điều này nó phải
được manh nha từ các cơ sở đào tạo đại học mỹ thuật, nơi tập trung các thầy dạy,
các nhà nghiên cứu mỹ thuật, các điều kiện nghiên cứu mỹ thuật tốt nhất. Người
sáng tác mỹ thuật không nên đánh đố những người thưởng thức mỹ thuật. Đã đến
lúc cái đẹp cũng cần minh bạch như cuộc thi hoa hậu, rất đẹp đấy nhưng phải trả
lời tốt các câu hỏi một cách thông minh có trí tuệ. Các tác phẩm thế kỷ XXI cũng
cần phải rất đẹp về hình thức biểu hiện và đằng sau đó phải tiềm ẩn một ý tưởng
thông minh, hóm hỉnh, sâu sắc, đạo đức nhân văn đầy trí tuệ làm hấp dẫn con
người của thế kỷ XXI. Không làm được điều đó con người của thế kỷ XXI, con
người của xã hội thông tin, con người của khoa học công nghệ sẽ quay lưng lại với
các tác phẩm mỹ thuật đương đại. Nếu trong các cơ sở đào tạo đại học mỹ thuật
không làm được điều đó, chúng ta nên định hướng lại đào tạo mỹ thuật, dạy chép
những tác phẩm có giá trị thoả mãn nhu cầu tinh thần của nhân dân ngày càng
nhiều và tạm thời chưa thoả mãn nhu cầu ngày càng cao.



Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status