Trang 1 Luận văn
Thực trạng và giải pháp đối
với tín dụng trung - dài hạn
tại chi nhánh Ngân Hàng
No&PTNT Đông Hà Nội
Trang 2
LỜI NÓI ĐẦU
Trong những năm qua, dưới sự lãnh đạo sáng suốt của Đảng và Nhà Nước
đất nước ta ngày càng phát triển. Nền kinh tế hàng hoá nhiều thành phần vận hành
theo cơ chế thị trường đinh hướng xã hội chủ nghĩa đã giành được những thành tựu
to lớn như kiềm chế lạm phát, nhịp độ tăng trưởng về tổng sản phẩm trong nước đã
vượt kế hoạch đề ra, nước ta đã thoát khỏi khủng hoảng…Bên cạnh những thành
tựu đạt được chúng ta còn những mặt chưa làm được như: Tình hình xã hội còn
nhiều tiêu cực, quản lý nhà nước về kinh tế còn lỏng lẻo, chỉ số giá tiêu dùng tăng
đột biến…Đảng và Nhà Nước ta đã xác định nhiệm vụ quan trọng trong thời gian
tới là tiến hành công nghiệp hoá, hiện đại hoá nền kinh tế đất nước. Muốn vậy,
chúng ta cần phải có nguồn vốn trung - dài hạn lớn để xây dựng cơ sở hạ tầng, đổi
mới công nghệ, trang bị kỹ thuật tiên tiến, đồng thời có sự nâng cấp mở rộng sản
xuất kinh doanh đối với các thành phần kinh tế từ đó tạo đà cho sự phát triển. Có
thể nói, chỉ có nguồn vốn trung - dài hạn mới giúp ta hoàn thành mục tiêu này. Do
đó mà nguồn vốn trung - dài hạn đóng một vai trò quan trọng đối với sự phát triển
của nền kinh tế.
Tuy nhiên, có nguồn vốn trung - dài hạn thôi là chưa đủ mà phải biết sử
dụng hiệu quả nguồn vốn đó thì mới phát huy hết được vai trò tích cực cũng như
chống lại sự lãng phí. Hay nói một cách khác, chỉ khi nào mở rộng gắn liền với
1.1.1. Khái niệm tín dụng trung – dài hạn
Tín dụng (credit), xuất phát từ tiếng Latinh là credo – là sự tin tưởng, sự tín
nhiệm và được định nghĩa dưới nhiều giác độ khác nhau:
- Tín dụng là quan hệ vay mượn trên nguyên tắc hoàn trả.
- Tín dụng là quá trình tập trung và phân phối lại vốn tiền tệ hay hiện vật
trên nguyên tắc có hoàn trả.
- Tín dụng là sự chuyển nhượng tạm thời một lượng giá trị từ người sở hữu
sang người sử dụng để sau một thời gian sẽ thu hồi về một lượng giá trị lớn hơn
lượng giá trị ban đầu.
- Tín dụng là sự chuyển dịch vốn dưới hình thái tiền tệ hay hiện vật của một
tổ chức, cá nhân này cho một tổ chức, cá nhân khác sử dụng trong một thời gian
nhất định trên nguyên tắc hoàn trả.
Như vậy, tín dụng có thể được diễn đạt bằng nhiều cách khác nhau nhưng
bản chất của tín dụng là một giao dịch về tài sản giữa một bên là người đi vay và
một bên là người cho vay trên cơ sở hoàn trả cả gốc và lãi.
Đối với một ngân hàng thương mại, tín dụng là chức năng cơ bản của ngân
hàng, là một trong những nghiệp vụ cơ bản của ngân hàng. Tín dụng ngân hàng
được định nghĩa như sau:
Tín dụng ngân hàng là một hình thức tín dụng phản ánh một giao dịch về
tài sản (tiền hoặc hàng hoá) giữa bên cho vay là ngân hàng hoặc các tổ chức tín
dụng và bên đi vay là các cá nhân, doanh nghiệp, chủ thể sản xuất kinh doanh,
trong đó bên cho vay chuyển tài sản cho bên đi vay sử dụng trong một thời gian
nhất định theo thoả thuận, bên đi vay có trách nhiệm hoàn trả vô điều kiện vốn gốc
và lãi cho bên cho vay khi đến hạn thanh toán.
Về các hình thức của tín dụng ngân hàng thì có nhiều tiêu thức khác nhau
để phân chia tín dụng ngân hàng. Dưới đây là một cách phân chia phổ biến mà
Trang 5
Ngân hàng thường sử dụng khi phân tích và đánh giá:
Phân theo thời hạn tín dụng ta có:
Trang 6
- Tín dụng trung - dài hạn thường có thời gian kéo dài, quy mô tín dụng
thường lớn, nguy cơ rủi ro cao vì nền kinh tế quốc gia luôn biến động. Sự biến
động này có thể tích cực hoặc tiêu cực mà chúng ta không thể biết được. Do đó mà
môt khoản vay dài hạn thường đem lại nhiều rủi ro hơn là một khoản vay ngắn hạn
vì thời gian càng dài thì xác suất xảy ra những biến động này lớn hơn . Mặt khác,
lãi suất của cho vay trung - dài hạn thường lớn hơn lãi suất cho vay ngắn hạn. Vì
độ rủi ro cao hơn, thời gian thu hồi vốn lâu hơn.
1.1.3. Các hình thức tín dụng trung - dài hạn
1.1.3.1. Tín dụng theo dự án đầu tư
a. Cho vay đồng tài trợ ( Synđicate loan):
- Là quá trình cho vay của một nhóm tổ chức tín dụng (từ 2 tổ chức tín dụng
trở lên) cho một dự án, do một tổ chức tín dụng làm đầu mối, phói hợp với các bên
bên đồng tài trợ để thực hiện, nhằn phân tán rủi ro của các tổ chức tín dụng.
- Hình thức này được được áp dụng trong các trường hợp : Các dự án đầu tư
đòi hỏi một khoản vốn lớn mà các ngân hàng riêng lẻ thìo không đáp ứng hết được
ngân hàng thường chỉ được phép đầu tư vốn tới một mức độ nhất định so với tổng
nguồn vốn của mình và không được đầu tư qúa nhiều vốn vào một công ty để đảm
bảo an toàn vốn tài sản. Thậm chí đối với một vài dự án ngân hàng có thể đáp ứng
toàn bộ nhưng rủi ro quá lớn ngân hàng không muốn đảm nhận hết. Do vậy, cho vay
đồng tài trợ là một họat động tín dụng giúp ngân hàng phân tán rủi ro và có thể sử
dụng tối đa nguồn vốn của họ cho đầu tư vào các dự án dài hạn.
b. Cho vay trực tiếp theo dự án:
- Đây là hình thức tín dụng trung – dài hạn phổ biến trong nền kinh tế thị
trường. ngân hàng thương mại tiến hành mọi hoạt động và tự chịu trách nhiệm với
từng dự án đầu tư của khách hàng mà họ đẫ lựa chọn để tài trợ.
Chính vì vậy, công việc của ngân hàng không chỉ đơn thuần là cho vay mà
còn phải quán xuyến hàng loạt các công việc khác có liên quan đến trực thi có hiệu
quả của dự án như : quy hoạch sản xuất, thiết kế, quy trình công nghệ, tiêu chuẩn
thiết bị máy móc, giá cả thị trường, hiệu quả đầu tư Bởi vì việc quy định cấp một
đáp ứng được thời cơ sản xuất kinh doanh trong nền kinh tế thị trường, mặt khác
phương thức thanh toán tiền thuê linh hoạt thích ứng với hoàn cảnh và điều kiện
sản xuất cũng như tiêu thụ sản phẩm của doanh nghiệp và mỗi cá nhân.
- Đối với các công ty nhỏ hoặc công ty không có uy tín : ngân hàng có thể
không chấp nhận cho vay dài hạn nhưng có thể cho hưởng tín dụng thuê mua. Có
Trang 8
thể nói, mô hình tín dụng thuê mua rất có ý nghĩa đối với nền kinh tế thị trường,
nhất là đối với nền kinh tế nhiều thành phần như ở Việt Nam hiện nay.
1.1.4. Vai trò của tín dụng trung - dài hạn trong nền kinh tế thị trường
1.1.4.1. Đối với nền kinh tế
Tín dụng có vai trò quan trọng trọng nền kinh tế, hoạt động tín dụng trung - dài
hạn nếu có hiệu quả sẽ có tác động tới mọi lĩnh vực kinh tế - chính trị - xã hội. Phát
triển cho vay tín dụng trung - dài hạn sẽ giảm bớt đáng kể các khoản bao cấp từ
ngân sách cho đầu tư xây dựng cơ bản và giảm bớt thâm hụt ngân sách. Xuất phát
từ chức năng tập trung và phân phối lại vốn trong nền kinh tế tín dụng trung - dài
hạn đã thu hút được nguồn vốn dư thừa, tạm thời nhàn rỗi để đưa vào sản xuất
kinh doanh, đáp ứng nhu cầu vốn cho doanh nghiệp, từ đó phục vụ cho sự tăng
trưởng của nền kinh tế.
Mặt khác, trong qúa trình huy động vốn và cho vay cũng như tổ chức thanh
toán cho khách hàng, ngân hàng có thể đánh giá được tình hình tiêu thụ sản phẩm,
tinh hình sản xuất kinh doanh cũng như khả năng thanh toán chi trả của khách
hàng. Trong quá trình cho vay, để tránh rủi ro ngân hàng luôn đánh giá, phân tích
khả năng tài chính và thường xuyên giám sát hoạt động sản xuất kinh doanh để có
thể điều chỉnh, tác động kịp thời khi cần thiết, hướng cho hoạt động của doanh
nghiệp đi đúng hướng, từng bước tạo tiền đề vật chất cho xã hội.
Mặc dù là một đơn vị kinh doanh, nhưng các ngân hàng quốc doanh vẫn là
một bộ phận của nhà nước, hoạt động tín dụng trung - dài hạn cũng nhằm thực
hiện các mục tiêu phát triển kinh tế quốc gia thông qua các chính sách ưu đãi trong
tín dụng. Về nguyên tắc, ngân hàng ưu đãi đối với các công trình sản xuất trực tiếp
cho doanh nghiệp là đi vay để đổi mới. Khi tìm kiếm các nguồn vốn từ bên ngoài,
doanh nghiệp mong muốn có đựơc những khoản tín dụng trung - dài hạn từ ngân
hàng. Có người cho rằng cách tốt nhất để huy động vốn là doanh nghiệp phát hàng
cổ phiếu, trái phiếu huy động vốn dài hạn. Chúng ta không phủ nhận những mặt
tích cực của thị truờng chứng khoán trong việc phục vụ nhu cầu bổ sung vốn cho
doanh nghiệp, nhưng hình thức này chỉ phát huy hiệu quả ở những nước có thị
trường vốn và thị trường chứng khoán hoàn hảo. thậm trí ở những nước này trong
nhiều trường hợp doanh nghiệp có thể giảm bớt những khoản chi phí mà lẽ ra họ
phải trả khi tổ chức phát hành chứng khoán. Đối với những khoản đi vay doanh
nghiệp được chủ động điều hành các hoạt động kinh doanh, tiến hành các dự án
lớn mà không phải phân chia quyền lực nếu lựa chọn việc tài trợ thông qua phát
Trang 10
hành cổ phiếu, không phải đối phó với các trái phiếu hay cổ phiếu ưu đãi khi
doanh nghiệp không còn cần vốn nữa và có ý muốn thu lại số cổ phiếu này. Mặt
khác, việc trả nợ trung - dài hạn cũng được ấn định theo định kỳ theo từng kỳ hạn
hợp lý và ổn định.Vì vậy, doanh nghiệp có cơ sở để thực hiện trách nhiệm trả nợ
của họ.
Như vậy, tín dụng trung - dài hạn đã giúp các doanh nghiệp đầu tư xây
dựng nhà xưởng, mua sắm máy móc thiết bị… để cải tiến công nghệ sản xuất,
nâng cao chất lượng sản phẩm tạo điều kiện mở rộng quy mô sản xuất kinh doanh
và mở rộng chiếm lĩnh thị trường mới. Có thể nói, tín dụng trung - dài hạn là trợ
thủ đắc lực cho các doanh nghiệp đạt được mục tiêu kinh doanh : lợi nhuận, an
toàn, phát triển không ngừng trong khi nguồn vốn trung - dài hạn doanh nghiệp
có trong tay không đủ đáp ứng nhu cầu.
1.1.4.3. Đối với ngân hàng
Nếu ngân hàng có một nguồn vốn ổn định trong thời gian dài để đầu tư dài
hạn sẽ tạo ra lợi nhuận cao hơn rất nhiều so với việc dùng nó để cho vay ngắn hạn,
vì mỗi món vay trung - dài hạn cấp cho doanh nghiệp thường là rất lớn, lãi suất
cao. Bên cạnh khoản lợi nhuận hấp dẫn, tín dụng trung - dài hạn còn là vũ khí cạnh
góp đáng kể trong việc thúc đẩy quá trình tích tụ và tập trung vốn để đẩy mạnh
tiến trình phát triển của xã hội. lịch sử đã chứng minh điều đó thông qua sự ra đời
và phát triển của xã hội loài người qua các hình thái kinh tế -xã hội.
Ngày nay cùng với sự phát triển của sản xuất và lưu thông hàng hoá, tín
dụng cũng ngày càng phát triển nhằm cung cấp thêm các phương tiện giao dịch để
đáp ứng nhu cầu giao dịch ngày càng tăng trong xã hội. Trong điều kiện đó, chất
lượng tín dụng ngày càng được quan tâm bởi vì:
Đảm bảo chất lượng tín dụng là điều kiện để ngân hàng làm tốt vai trò trung
tâm thanh toán: khi chất lượng tín dụng được đảm bảo sẽ tăng vòng quay vốn tín
dụng, với một khối lượng tiền như cũ, có thể thực hiện số lần giao dịch lớn hơn,
tạo điều kiện tiết kiệm tiền trong lưu thông, củng cố sức mua của đồng tiền.
Chất lượng tín dụng góp phần kiềm chế lạm phát, ổn định tiền tệ, tăng
trưởng kinh tế, tăng uy tín quốc gia. Xuất phát từ chức năng tập trung và phân phối
lại vốn trong nền kinh tế, tín dụng trung - dài hạn đã thu hút những nguồn vốn dư
thừa, tạm thời nhàn rỗi để đưa vào hoạt động sản xuất kinh doanh, đáp ứng nhu
cầu vốn cho doanh nghiệp từ đố phục vụ cho sự tăng trưởng nền kinh tế. Mặt khác
tín dụng trung - dài hạn là một trong những cách để đưa tiền vào lưu thông nhằm
Trang 12
làm cho khối lượng tiền tệ trong nền kinh tế phù hợp với khối lượng hàng hoá.
Xuất phát từ chức năng tạo tiền của các ngân hàng thương mại, thông qua cho vay
chuyển khoản, thực hiện thanh toán không dùng tiền mặt, các ngân hàng thương
mại có thể mở rộng tiền ghi sổ gấp nhiều lần so với sô tiền thực có hoặc vì lý do
nào đó, các chủ tài khoản có khả năng phát hành séc và thanh toán bằng các
phương tiện khách cho khách vượt quá số tiền gửi thực tế của hộ … nhưng khi đi
vào lưu thông chúng đều có quyển thanh toán, chi trả như các phương tiện khác và
thường chúng được chuyển thành tiền mặt. Như vậy nghiệp vụ tín dụng của ngân
hàng thương mại có quan hệ chặt chẽ với khối lượng tiền mặt trong lưu thông và
là nguyên nhân tiềm ẩn của lạm phát. Đảm bảo chất lượng tín dụng sẽ tạo khả
năng giảm bớt lượng tiền thừa trong lưu thông, góp phần hạn chế lạm phát, ổn định
Chất lượng tín dụng trung - dài hạn tốt làm tăng khả năng sinh lợi của sản
phẩm, dịch vụ ngân hàng do giảm được sự chậm trễ, giảm chi phí nghiệp vụ, chi
phí quản lý, các chi phí thiệt hại do không thu hồi được vốn vay đã cho vay. Mặt
khác nó còn đảm bảo khả năng thanh toán và lợi nhuận của ngân hàng, tạo thế
mạnh cho ngân hàng trong cạnh tranh, tạo thuận lợi cho sự tồn tại lâu dài của ngân
hàng vì chất lượng tín dụng tốt tạo cho ngân hàng có nhiều khách hàng trung thành
và những khoản lợi nhuận để bổ xung vốn đầu tư. Bên cạnh đó, chất lượng tín
dụng tốt giúp ngân hàng củng cố các mối quan hệ xã hội bằng những điều kiện tốt
nhất.
Có thể nói, với những ưu thế trên, việc củng cố và tăng cường chất lượng
tín dụng trung - dài hạn của các ngân hàng thương mại là sự cần thiết khách quan
vì sự tồn tại và phát triển lâu dài của các ngân hàng thương mại. Vì vậy, chất lượng
tín dụng luôn luôn đòi hỏi phải được nâng cao
1.2.2. Các chỉ tiêu đánh giá chất lượng tín dụng trung - đài hạn
Chất lượng tín dụng trung - dài hạn được xem xét, đánh giá thông qua hệ
thống chỉ tiêu sau:
1.2.2.1. Về phía khách hàng:
a. Các chỉ tiêu định tính đó là:
- Dự án sử dụng vốn vay trung - dài hạn của ngân hàng có đủ cơ sở pháp lý,
kinh tế, kỹ thuật để thực hiện được.
- Vốn vay được sử dụng đúng mục đích và có hiệu quả, đảm bảo đủ khả
năng trả ngân hàng nợ gốc và lãi, trang trải chi phí khác và để lại cho doanh nghiệp
một khoản thu nhập.
Trang 14
b. Các chỉ tiêu định lượng đó là:
- Thời gian thi công, thực hiện dự án đảm bảo đúng tiến độ.
- Chi phí phải không được vượt quá mức chi phí cho phép.
- Doanh thu phải không được thấp hơn mức doanh thu dự kiến.
- Lợi nhuận phải đạt hoặc vượt quá mức lợi nhuận đã định trong dự án.
Trang 15
phần trăm trong tổng dư nợ tín dụng. Tỷ lệ này không có hoặc càng nhỏ càng tốt.
- Chỉ tiêu nợ quá hạn khó đòi:
Tỷ lệ nợ quá hạn khó đòi =
Nợ quá hạn khó đòi của tín dụng trung – dài hạn
Tổng dư nợ tín dụng trung – dài hạn
Nếu tỷ lệ này cao thì nó phản ánh rằng món cho vay của ngân hàng có chất
lượng rất thấp, hoạt động của ngân hàng không có hiệu quả và các chỉ tiêu khác để
đánh giá chất lượng tín dụng trung - dài hạn trở nên không có giá trị. Vì vậy chỉ
tiêu này không có hoặc càng thấp càng tốt.
- Chỉ tiêu lợi nhuận:
Tỷ lệ lợi nhuận =
Lợi nhuận từ tín dụng trung – dài hạn
Tổng dư nợ tín dụng trung - dài hạn
Thông qua chỉ tiêu này, ta sẽ thấy được khả năng sinh lời của tín dụng trung
- dài hạn. Bất kỳ một khoản tín dụng nào cho dù đó là khoản ngắn hạn hay trung -
dài hạn không thể xem là có chất lượng cao nếu nó không đem lại lợi nhuận thực
tế cho ngân hàng. Tuy nhiên đối với các ngân hàng, đặc biệt là các ngân hàng
quốc doanh thì lợi nhuận nhiều khi không phải là cái đích để ngân hàng hướng tới
mà điều quan trọng là thực hiện được chủ trương, chính sách của Đảng và nhà
nước. Đặc biệt đối với NHNo & PTNT, với chức năng cho vay trung - dài hạn với
mức lãi suất kể cả lãi suất ưu đãi tín dụng để thực hiện các đường lối, chính sách
của Đảng và Nhà nước thì trong nhiều trường hợp lợi nhuận không phải là mục
tiêu mà ngân hàng cần phải hướng tới. Nói như vậy không có nghĩa là ngân hàng
không quan tâm tới lợi nhuận. Vì sự tồn tại và phát triển của bản thân ngan hàng
mà ngân hàng không thể cho vay các món vay có lợi nhuận bằng không hoặc nhỏ
hơn không. Nhìn chung nếu như c các chỉ tiêu khác giữa các dự án cho vay là như
giải quyết được những hạn chế, vướng mắc cũng như phát huy được những ưu
điểm để nâng cao chất lượng tín dụng trung - dài hạn, góp phần thúc đẩy sự phát
triển của nền kinh tế đất nước.
1.2.3. Những nhân tố ảnh hưởng tới chất lượng tín dụng trung - dài
hạn
1.2.3.1. Những nhân tố khách quan
a. Môi trường kinh tế:
Môi trường kinh tế dù thay đổi theo chiều hướng nào cũng đều tác động tới
chất lượng tín dụng của ngân hàng. Nếu sự thay đổi theo chiều hướng tốt thì chất
lượng của các khoản tín dụng trung - dài hạn sẽ được nâng cao. Ngược lại, sự thay
đổi theo chiều hướng xấu thì sẽ làm cho chất lượng các khoản tín dụng trung - dài
Trang 17
hạn xấu đi ngoài ý muốn. Ví dụ khi nền kinh tế có hiện tượng lạm phát tăng vọt,
giá cả đồng tiền giảm sút, chỉ số giá cả tăng nhanh gây khó khăn cho sản xuất kinh
doanh, tác động xấu đến khả năng thu hồi công nợ của ngân hàng. Hay khi có sự
biến động lớn trong tỷ giá do sự thay đổi chính sách tiền tệ của Nhà nước, đồng
nội tệ bị giảm giá, các doanh vốn bằng ngoại tệ mà không có nguồn thu bằng
ngoại tệ sẽ gặp khó khăn trong việc trả nợ ngân hàng. Sự biến động về tỷ giá như
vậy cũng khiến các doanh nghiệp phải nhập thiết bị nước ngoài lẽ ra đã vay ngân
hàng đủ tiền sẽ trở thành không đủ tiền để nhập gây ảnh hưởng trực tiếp tới chất
lượng khoản vay.
Nói như vậy không có nghĩa là chỉ môi trường kinh tế trong nước này thay
đổi sẽ tác động tới chất lượng tín dụng trung - dài hạn mà sự thay đổi của môi
trường kinh tế thế giới cũng gây ảnh hưởng không nhỏ, đặc biệt là đối với doanh
nghiệp hoạt động xuất nhập khẩu. Sự thay đổi ấy thể hiện trực tiếp qua sự biến
động về nhu cầu thị trường, sự biến động về tỷ giá khiến cho các doanh nghiệp
kinh doanh xuất nhập khẩu bị thua lỗ ảnh hưởng tới việc trả nợ ngân hàng của
doanh nghiệp.
b. Môi trường chính trị - xã hội
kinh doanh của các doanh nghiệp, gây nên các khoản nợ quá hạn cho ngân hàng.
Như vậy, pháp luật có vị trí hết sức quan trọng đối với hoạt động ngân hàng nói
chung và chất lượng tín dụng trung - dài hạn nói riêng.
d. Chính sách tín dụng
Chính sách tín dụng là kim chỉ nan đảm bảo cho hoạt động tín dụng đi đúng
quỹ đạo, nó có ý nghĩa quyết định đến sự thành bại của mọi ngân hàng. Một chính
sách tín dụng đúng đắn sẽ thu hút được nhiều ngân hàng, đảm bảo khả năng sinh
lời của hoạt động tín dụng trên cơ sở phân tán rủi ro, tuân thủ pháp luật, đường lối
chính sách của nhà nước và đảm bảo công bằng xã hội. Ngược lại, nếu chính sách
tín dụng không hợp lý, chồng chéo sẽ gây khó khăn cho ngân hàng khi thực hiện
nghiệp vụ tín dụng. điều đó có nghĩa là chất lượng tín dụng trung - dài hạn phụ
thuộc vào việc xây dựng chính sách tín dụng của ngân hàng có đúng đắn hay
không.
e. Môi trường tự nhiên
Môi trường tự nhiên có một ảnh hưởng không nhỏ tới chất lượng tín dụng
của ngân hàng nói chung đặc biệt là tín dụng trung - dài hạn nói riêng bởi vì thiên
tai là một yếu tố bất khả kháng, chúng ta không thể dự đoán một cách chắc chắn là
Trang 19
khi nào những thiên tai như bão lũ lụt, hạn hán, hoả hoạn, dịch bệnh…sẽ xảy ra và
mức độ ảnh hưởng, thiệt hại của chúng là như thế nào. Thông thường khi thiên tai
xảy ra, nó thường gây thiệt hại rất lớn cho các ngành sản xuất, dịch vụ, gây ra các
biến động xấu ngoài dự kiến trong mối quan hệ tín dụng giữa ngân hàng và các
khách hàng của mình làm cho vốn của ngân hàng đầu tư vào các doanh nghiệp sẽ ít
nhiều bị ảnh hưởng và dẫn tới rủi ro làm giảm chất lượng tín dụng.
1.2.3.2. Các nhân tố chủ quan
a. Về phía khách hàng
- Năng lực của khách hàng
Không một khách hàng nào khi đi vay lại không muốn món vay đem lại
hiệu quả nhưng nhiều khi do năng lực có hạn nên họ không thể thực hiện được ý
nhuận được của cả dự án, ảnh hưởng xấu tới việc trả nợ ngân hàng. Nếu đảm bảo
thu nhập của mình, doanh nghiệp nâng giá bán của sản phẩm lên thì điều này sẽ
làm cho việc tiêu thụ sản phẩm gặp khó khăn, khả năng thu hồi vốn sản xuất bị
chậm trễ, dễ dàng vi phạm việc trả nợ ngân hàng về mặt thời hạn.
b. Về phía ngân hàng
Công tác thẩm định
Tín dụng trung - dài hạn được tiến hành chủ yếu dựa trên các dự án đầu tư.
Muốn xem xét dự án có đủ độ tin cậy để có thể cho vay được hay không,
ngân hàng cần tiến hành thẩm định dự án đầu tư.
Thẩm định dự án đầu tư
Thẩm định dự án đầu tư là việc tổ chức, xem xét một cách khách quan, khoa
học và toàn diện các nội dung cơ bản có ảnh hưởng đến công cuộc đầu tư để ra
quyết định đầu tư và cho phép đầu tư.
Mục đích của việc thẩm định dự án đầu tư là nhằm giúp ngân hàng rút ra
kết luận chính xác về tính khả thi, hiệu quả kinh tế, khả năng trả nợ và những rủi
ro có thể xảy ra của dự án để đưa ra quyết định cho vay hoặc từ chối cho vay.
Thông qua công tác thẩm định, ngân hàng sẽ phát hiện, bổ sung thêm những
giải pháp nhằm nâng cao tính khả thi của dự án đồng thời làm cơ sở để xác định
số tiền cho vay, thời gian cho vay, mức thu nợ hợp lý, tạo điều kiện thuận lợi cho
doanh nghiệp hoạt động có hiệu quả.
Thẩm định tín dụng một cách kỹ càng, đúng quy trình thẩm định sẽ góp
phần giảm được những rủi ro của tín dụng trung - dài hạn, giúp ngân hàng thu
được lợi nhuận và đảm bảo tính ổn định của các khoản vay. Công tác thẩm định
Trang 21
tập trung ở hai nội dung:
+ Thẩm định toàn diện các nội dung của luận chứng kinh tế, kỹ thuật, báo
cáo kinh tế của các dự án tiền khả thi.
+ Thẩm định toàn diện tình hình sản xuất kinh doanh, tình hình tài chính
chuyển giao công nghệ.
+ Thẩm định tiến độ thực hiện của dự án.
- Thẩm định về phương diện tổ chức:
+ Xem xét cơ cấu tài chính: vấn đề về quyền lợi và trách nhiệm được kết
nối như thế nào.
+ Năng lực tài chính, quản lý của nhóm điều hành, của nhân viên: có những
hoạt động đào tạo trước mắt và lâu dài.
- Thẩm định về mặt tài chính của dự án
Đây chính là vấn đề cốt lõi nhất khi thẩm định dự án đầu tư đối với bất kỳ
một ngân hàng nào khi đưa ra quyết định cho vay mà đặc biệt là cho vay trung -
dài hạn. Thẩm định về mặt tài chính được coi là sự đảm bảo tối thiểu cho khoản
vay sắp cung cấp. Thẩm định tài chính bao gồm các nội dung chính là:
+ Vốn xây lắp: thường được tính toán trên cơ sở khối lượng công tác xây
lắp và đơn giá xây lắp tổng hợp hay suất vốn đầu tư.
+ Vốn thiết bị: căn cứ vào danh mục thiết bị để kiểm tra giá cả mua và chi
phí vận chuyển, bảo quản theo quy định của nhà nước. Đối với những thiết
bị được chuyển giao công nghệ thì tính gồm cả chi phí chuyển giao công
nghệ.
+ Vốn kiến thiết cơ bản khác: cần tính tới nhu cầu vốn lưu động ban đầu và
nhu cầu bổ sung vốn lưu động và những khoản mục chi phí cần thiết khác.
Dựa trên những tính toán cơ bản thì chủ dự án có trách nhiệm bỏ một phần
vốn tự có của mình vào tổng khoản vay và đó được coi là điều kiện cần đảm bảo
về uy tín và độ an toàn, phòng tránh rủi ro của khoản tín dụng trung - dài hạn.
- Tiến độ bỏ vốn đầu tư: có ý nghĩa rất quan trọng, đặc biệt là đối với những
công trình có thời gian xây dựng dài, cần thiết phải phân bổ tiến độ bỏ vốn theo
giai đoạn thích hợp để tạo điều kiện cho việc điều hành vốn của ngân hàng.
- Yếu tố quyết định trực tiếp cho việc lựa chọn cho vay hay không chính là
khả năng sinh lợi của dự án vì ngân hàng cũng là một đơn vị sản xuất kinh doanh
nên họ cũng phải quan tâm tới lợi nhuận của dự án. Vì vậy, trước khi bỏ vốn đầu
tư, khách hàng và ngân hàng thường tiến hành thẩm định tính khả thi của dự án
i
r
Ci
r
Ti
)1()1(
00
Trong đó:
n: số năm
r: tỷ lệ chiết khấu
T
i
: khoản thu của dự án ở năm thứ i
C
i
: khoản chi cho đầu tư ở năm thứ i
Ngân hàng cho vay khi NPV > 0 vì khi đó dự án có tính khả thi, doanh
nghiệp sẽ có lãi và có thể trả nợ ngân hàng.
+ Chỉ tiêu suất thu hồi nội bộ (IRR)
Suất thu hồi nội bộ là lãi suất chiết khấu mà tương ứng với nó giá trị của
Trang 24
NPV = 0
21
người gửi tiền, người đi vay và quyền lợi của chính bản thân ngân hàng. Chính
sách tín dụng phải tạo ra sự công bằng, không những phải đảm bảo an toàn cho
hoạt động của ngân hàng mà còn phải đảm bảo đủ sức hấp dẫn đối với khách hàng.
Một chính sách tín dụng đồng bộ, thống nhất và đầy đủ, đúng đắn sẽ xác định
phương hướng đúng đắn cho cán bộ tín dụng. Ngược lại, một chính sách tín dụng
không đầy đủ, đúng đắn và thống nhất sẽ tạo ra định hướng lệch lạc cho hoạt động
tín dụng, dẫn đến việc cấp tín dụng không đúng đối tượng tạo kẽ hở cho người sử
dụng vốn không đem lại hiệu quả kinh tế, dẫn đến rủi ro tín dụng.
Ví dụ về chính sách lãi suất, khi lãi suất cho vay quá cao thì khách hàng sẽ
Trang 25
không đến vay ngân hàng, ngân hàng sẽ bị ứ đọng vốn gây một hiệu quả tồi tệ đến
hoạt động của ngân hàng. Ngược lại, nếu lãi suất cho vay quá thấp thì sẽ có rất
nhiều khách hàng đến vay và lúc này ngân hàng khó có khả năng đáp ứng hết khả
năng về vốn trung - dài hạn cho khách hàng vì hiện nay tỷ trọng khoản tiền gửi
trung - dài hạn so với tổng nguồn vốn huy động của ngân hàng là không lớn. Mặt
khác, lãi suất cho vay thấp dẫn tới việc ngân hàng không bù đắp được việc phải trả
lãi tiền gửi và trả lãi suất tiền gửi…
Chất lượng nhân sự
Con người là yếu tố quyết định đến sự thành bại trong quản lý vốn tín dụng
nói riêng cũng như trong hoạt động của ngân hàng nói chung. Việc tuyển chọn sự
có đạo đức nghề nghiệp tốt, có tinh thần trách nhiệm, tâm huyết với nghề, giởi
chuyên môn, am hiểu và có kiến thức phong phú về thị trường đặc biệt trong lĩnh
vực tham gia đầu tư vốn, năm vững những văn bản pháp luật có liên quan đến hoạt
động tín dụng, có năng lực phân tích và xử lý dự án xin vay, đánh giá tài sản thế
chấp, giám sát số tiền cho vay ngay từ khi cho vay đến khi thu hồi được nợ hoặc
xử lý xong món nợ theo quy định của ngân hàng… sẽ giúp cho ngân hàng có thể
ngăn ngừa được những sai phạm có thể xảy ra khi thực hiện chi kỳ khép kín của
một khoản tín dụng. Tuy nhên đối với những cán bộ không được đào tạo đầy đủ,