Luận văn " Quy chế pháp lý về giấy chứng nhận xuất xứ hàng hoá và thực tiễn áp dụng ở Việt Nam " pot - Pdf 11



TRƯỜNG ĐẠI HỌC NGOẠI THƯƠNG
KHOA KINH TẾ NGOẠI THƯƠNG
o0o

Khoá luận tốt nghiệp

Quy ch
ế pháp lý về giấy chứng nhận
xuất xứ hàng hoá và thực tiễn áp
dụng ở Việt Nam
Sinh viên : Mai Quỳnh Phương
Lớp Pháp 2 – K38E
Giáo viên hướng dẫn: Thạc sĩ Nguyễn Xuân Nữ

Hà Nội, năm 2003
MỤC LỤC

4

4

4

6

6

8

9

101113
1314

1. Cơ quan có thẩm quyền cấp Giấy chứng nhận xuất xứ hàng hoá ở
Việt Nam………………………………………………………………
1.1. Thẩm quyền của Bộ Thương mại trong việc cấp Giấy chứng nhận
xuất xứ hàng hoá………………………………………………………
1.2. Thẩm quyền của Phòng Thương mại và Công nghiệp Việt nam
trong việc cấp Giấy chứng nhận xuất xứ hàng hoá……………………

2. Quy chế cấp Giấy chứng nhận xuất xứ hàng hoá ở Việt Nam……….

2.1. Quy chế cấp Giấy chứng nhận xuất xứ hàng hoá của Bộ Thương
22

30

30

3849
5252

55


3.2. Tình hình cấp Giấy chứng nhận xuất xứ hàng hoá của Phòng
Thương mại và Công nghiệp Việt Nam………………………………
Chương 3: Một số giải pháp nhằm hoàn thiện việc sử dụng và cấp
Giấy chứng nhận xuất xứ hàng hoá ở Việt Nam…………………….

I.Đánh giá chung tình hình…………………………………………
1. Những tồn tại về phía cơ quan quản lý hoạt động cấp Giấy chứng
nhận xuất xứ hàng hoá………………………………………………….
2. Những tồn tại về phía cơ quan cấp Giấy chứng nhận xuất xứ hàng
hoá………………………………………………………………………

3. Những tồn tại về phía doanh nghiệp…………………………………
II. Một số giải pháp nhằm hoàn thiện việc sử dụng và cấp Giấy
chứng nhận xuất xứ hàng hoá ở Việt Nam…………………………

1.Về phía cơ quan quản lý hoạt động cấp Giấy chứng nhận xuất xứ
hàng hoá………………………………………………………………
2.Về phía cơ quan cấp Giấy chứng nhận xuất xứ hàng hoá…………….

3.Về phía doanh nghiệp………………………………………………
Kết luận………………………………………………………………
Phụ lục: Hướng dẫn khai các loại Giấy chứng nhận xuất xứ hàng hoá
727682

LỜI MỞ ĐẦU

Thực hiện đường lối đa phương hoá, đa dạng hoá các quan hệ kinh tế đối
ngoại, Việt Nam đã và đang dần dần hội nhập vào nền kinh tế khu vực và thế
giới. Chủ động hội nhập, Việt Nam đã trở thành thành viên đầy đủ của ASEAN
(1995), thành viên của ASEM (1996) và thành viên của APEC (1998). Quá
trình hội nhập đó đòi hỏi việc xây dựng và áp dụng chính sách phải tính đến
pháp luật và thực tiễn quốc tế. Đối với lĩnh vực thương mại, các quy chế, các
nguyên tắc cơ bản của thương mại quốc tế dang dần dần được nghiên cứu và áp
dụng tại Việt Nam trong đó quy chế về Giấy chứng nhận xuất xứ đang là một
trong những vấn đề quan trọng mà nhiều doanh nghiệp Việt Nam quan tâm.
Như chúng ta đã biết tiến trình hội nhập khu vực và quốc tế đã và đang
đặt ra cho Việt Nam nhiều thời cơ mới và nhiều thách thức khó khăn. Thách
thức không chỉ ở việc Việt Nam đi lên từ xuất phát điểm thấp, năng lực cạnh
tranh của cả nền kinh tế nói chung và các doanh nghiệp nói riêng còn yếu, cơ
cấu kinh tế, cơ cấu đầu tư còn nhiều bất hợp lý, chưa huy động được hiệu quả
mọi nguồn lực phát triển, trình độ quản lý còn nhiều bất cập mà còn ở chỗ
pháp luật thương mại quốc tế với những chế định pháp lý phức tạp còn nhiều
mới mẻ đối với Việt Nam. Cùng với những thách thức, Việt Nam cũng có nhiều
thời cơ mới. Đó là cơ hội mở rộng thị trường, cơ hội thu hút vốn đầu tư nước
ngoài, cơ hội được đảm bảo ổn định trong tiếp cận thị trường, cơ hội được h-
ưởng ưu đãi từ bên ngoài, hay cơ hội tiếp cận công nghệ mới và thu hẹp khoảng
cách phát triển…Trước những thời cơ mới và thách thức mới, Việt Nam đang
phải lựa chọn chiến lược phát triển phù hợp, mà về cơ bản là thực hiện chiến
lược công nghiệp hóa - hiện đại hóa đất nước với những tiêu thức phù hợp với
thời đại. Theo đó, tiến trình đẩy mạnh xuất khẩu, coi xuất khẩu là hướng ưu
tiên, là trọng điểm của kinh tế đối ngoại, và tạo thêm các mặt hàng xuất khẩu
chủ lực là những mục tiêu Việt Nam đề ra để thực hiện thành công chiến lược

Chương 2: Thực tiễn áp dụng các quy tắc xuất xứ và sử dụng Giấy
chứng nhận xuất xứ ở Việt Nam.
Chương 3: Một số giải pháp nhằm hoàn thiện việc sử dụng và cấp Giấy
chứng nhận xuất xứ ở Việt Nam.
Ngoài ra, phần cuối khoá luận có phần phụ lục: Các mẫu C/O chủ yếu và
cách khai
Tuy nhiên, trong khuôn khổ của một khoá luận tốt nghiệp, em không thể
trình bày được hết thực trạng và những vấn đề còn tồn tại trong hoạt động cấp
và sử dụng Giấy chứng nhận xuất xứ hàng hóa của nước ta trong những năm
vừa qua. Thêm vào nữa, khoá luận tốt nghiệp mới chỉ dừng lại ở kết quả của
quá trình nghiên cứu, phân tích tài liệu, chưa có nhiều kinh nghiệm từ thực tế nên
không thể tránh được những thiếu sót và hạn chế. Em rất mong nhận được sự đóng
góp ý kiến của các thầy cô và các bạn để luận văn tốt nghiệp của em được hoàn
thiện hơn.
Qua đây, em cũng xin gửi lời cảm ơn chân thành tới cô giáo Nguyễn
Xuân Nữ - Bộ môn Kinh tế Ngoại thương và các cán bộ trong Bộ Thương mại
tại Hà Nội đã chỉ bảo và hướng dẫn nhiệt tình để em hoàn thành khoá luận tốt
nghiệp này.
Hà Nội, ngày 12/12/2003
Sinh viên thực hiện
Mai Quỳnh Phương
CHƯƠNG I
GIẤY CHỨNG NHẬN XUẤT XỨ HÀNG HOÁ VÀ NHỮNG
ĐIỀU ƯỚC QUỐC TẾ XÁC ĐỊNH XUẤT XỨ HÀNG HOÁ.

nước A được hưởng chế độ ưu đãi thuế quan từ nước nhập khẩu đối với các
mặt hàng xuất khẩu theo những hiệp định ưu đãi thì nước nhập khẩu phải đảm
bảo áp dụng thuế suất thấp hơn hoặc ưu đãi đối với sản phẩm có xuất xứ từ
nước xuất khẩu A.
Thứ ba, xác định xuất xứ hàng hoá còn có tác dụng trong việc thực hiện
chính sách thương mại của một nước hay một khối nước dành cho nước hay
khối nước cụ thể nào khác. Chẳng hạn, trên cơ sở kết quả thống kê về hàng
hoá có chứng nhận xuất xứ được hưởng ưu đãi, liên minh Châu Âu (EU) có
thể xác định được mức độ phát triển kinh tế chung và kinh tế từng ngành
hàng của các nước ưu đãi. Từ đó EU sẽ áp dụng chính sách nước trưởng
thành và hàng trưởng thành đối với một số nước có tốc độ phát triển khá cao
theo quyết định đề nghị của Uỷ ban Châu Âu về việc sửa đổi chế độ ưu đãi
thuế quan mới đối với một số nước đang phát triển và có hiệu lực thi hành từ
01/01/1995 đến 31/12/1997. Theo quyết định đề nghị này, các mức ưu đãi sẽ
được chuyển dần từ các nước đang phát triển giàu có sang các nước kém
phát triển hơn. Thực tế là các nước Bruney, Hồng Kông, Hàn Quốc,
Singapore…từ 01/01/1997 không còn trong danh sách các nước được hưởng
ưu đãi GSP của EU do mức độ phát triển kinh tế của các nước này được EU
xếp vào loại tương đối cao.
Thứ tư, xác định xuất xứ hàng hoá là yếu tố cần thiết cho việc thu thập
số liệu thống kê thương mại. Xác định xuất xứ khiến cho việc biên soạn các số
liệu thống kê thương mại hàng năm được tiến hành dễ dàng hơn.
Như vậy, việc xác định xuất xứ hàng hoá là chỉ tiêu quan trọng cho việc
đánh giá chất lượng, là công cụ để thực hiện chính sách thương mại trong
quan hệ song phương và đa phương của các quốc gia. Trong điều kiện hiện
nay, khi việc gia nhập các liên kết kinh tế - thương mại khu vực và thế giới
trở thành một xu thế, một nhu cầu bức thiết nhằm duy trì và đẩy mạnh quan
hệ thương mại, thì việc xác định xuất xứ hàng hoá càng có ý nghĩa quan
trọng.
2. Giấy chứng nhận xuất xứ hàng hoá (Certificate of origin - C/O)

quan có thẩm quyền cấp để xác nhận nơi sản xuất hoặc nơi khai thác ra hàng
hoá. Nội dung của C/O bao gồm tên và địa chỉ của người mua, tên và địa chỉ
của người bán, tên hàng, số lượng, ký mã hiệu, lời khai của chủ hàng về nơi sản
xuất hoặc khai thác hàng, xác nhận của cơ quan có thẩm quyền.
Một bộ C/O thường bao gồm một bản gốc và các bản sao. Bản gốc được
phân loại theo mầu, theo mẫu, được đóng dấu hay in chữ “Original”. Các bản
sao cũng được phân loại theo cách tương tự, thường có mầu trắng và được phân
biệt với bản gốc bằng cách đóng dấu “copy”. Trong một số trường hợp các bản
sao được phân biệt bằng cách đóng dấu số thứ tự như duplicate,
triplicate…hoặc cũng có thể có mầu khác nhau đã quy định từ trước.
Cơ quan có thẩm quyền cấp C/O của nước người xuất khẩu phải là cơ
quan được nhà nước uỷ quyền cấp. Tuỳ thuộc pháp luật từng nước, từng chế độ
khác nhau mà cơ quan có thẩm quyền cấp C/O được quy định khác nhau.
Chẳng hạn cơ quan cấp C/O mẫu D của các nước ASEAN là không giống nhau.
- Bruney: Bộ Công nghiệp và Tài nguyên cấp C/O mẫu D
- Indonesia: Bộ Thương mại cấp C/O mẫu D
- Malaysia: Bộ Ngoại thương và Công nghiệp cấp C/O mẫu D
- Lào: Vụ Ngoại thương, Bộ Thương mại cấp C/O mẫu D
- Mianma: Vụ Thương mại, Bộ Thương mại cấp C/O mẫu D
- Philippine: Cục phối hợp xuất khẩu - Cục Hải Quan cấp C/O mẫu D
- Singapore: Hội đồng phát triển thương mại cấp C/O mẫu D
- Thái Lan: Vụ ưu đãi thương mại, Bộ Thương mại cấp C/O mẫu D
ở Việt Nam, C/O mẫu D sang các nước ASEAN và C/O mẫu A cấp cho
hàng giầy dép đi EU do Bộ Thương mại cấp. Các mẫu khác do Phòng Thương
mại và Công nghiệp Việt Nam cấp (theo điểm 8, điều 6, Điều lệ (sửa đổi)
Phòng Thương mại và Công nghiệp Việt Nam đã được thủ tướng Chính phủ
phê chuẩn tại QĐ 315/TTg ngày 12/05/1997).
Luật điều chỉnh về C/O thường là luật quốc gia của nước nhập khẩu.
Trong trường hợp quốc gia đó không có quy định riêng về C/O, nhưng có tham
gia vào các tổ chức quốc tế có Hiệp định quốc tế quy định về C/O thì luật điều

- Số lượng, trọng lượng hoặc trọng lượng cả bì của hàng hoá.
- Lời khai của chủ hàng về tính xuất xứ của hàng hoá (nguồn gốc hoặc
nơi khai thác hàng).
- Tiêu chuẩn xuất xứ của hàng hoá.
- Thời hạn giao hàng.
- Các thông tin khác.
- Chữ ký và dấu của nhà xuất khẩu.
- Xác nhận của Cơ quan Hải quan tại nơi xuất hàng.
- Xác nhận của Cơ quan Hải quan có thẩm quyền cấp C/O ở nước xuất
khẩu.
Các nội dung trên sẽ được hướng dẫn cách ghi theo thứ tự vào các ô của
mỗi loại C/O tuỳ theo mẫu được cấp phép.
2.3. Phân loại Giấy chứng nhận xuất xứ hàng hoá.
Do sự đa dạng phong phú của các quan hệ kinh tế, các hệ thống chế độ,
chính sách mà ngày nay có nhiều loại C/O khác nhau. Có thể phân loại giấy
C/O theo các mẫu in sẵn như sau:
- Mẫu A cấp cho hàng hoá xuất khẩu từ các nước được hưởng ưu đãi
trong Hệ thống ưu đãi phổ cập (General System of Preferences - GSP) nhằm
đáp ứng các yêu cầu về xuất xứ của các nước hưởng GSP (trừ Mỹ không yêu
cầu phải có).
- Mẫu B cấp cho mọi hàng hoá có xuất xứ từ nước mình, không nhằm
mục đích ưu đãi gì ngoài việc xác định nơi sản xuất, chế biến hàng hoá.
- Mẫu C cấp cho hàng hoá của một nước thành viên ASEAN xuất khẩu
sang một nước thành viên khác của ASEAN theo thoả thuận thương mại ưu đãi
(Preferential Trading Arrangement - PTA).
- Mẫu D cấp cho hàng hoá có xuất xứ ASEAN để hưởng các ưu đãi theo
Hiệp định thuế quan ưu đãi có hiệu lực chung (Commonly Effective
Preferential Tariff -CEPT) nhằm tiến tới thành lập khu vực mậu dịch tự do
ASEAN (AFTA).
- Mẫu T cấp cho sản phẩm dệt, may mặc được sản xuất tại nước mình,

chế của hải quan nếu có quy định về xuất trình C/O cho lô hàng xuất khẩu, thì
nó là một chứng từ không thể thiếu trong bộ chứng từ để hải quan thông quan
hàng hoá.
- C/O là một chứng từ thiết yếu trong bộ chứng từ thanh toán để được
thanh toán tiền hàng khi sử dụng phương thức tín dụng chứng từ. Khi hợp đồng
mua bán ngoại thương quy định phương thức thanh toán bằng L/C thì người
xuất khẩu chỉ được nhận tiền thanh toán khi C/O được xuất trình cùng với các
chứng từ khác. Nếu thiếu C/O thì bộ chứng từ coi như chưa đủ theo quy định
của L/C và ngân hàng sẽ không chấp nhận thanh toán.
- C/O trong chế độ ưu đãi phổ cập GSP là cơ sở để tăng khả năng cạnh
tranh của hàng hoá và đàm phán tăng giá hàng hoá hoặc giá gia công của nhà
xuất khẩu. Các doanh nghiệp xuất khẩu ở những nước được hưởng ưu đãi
thường sử dụng C/O làm phương tiện cạnh tranh với các nước khác không được
hưởng ưu đãi cho cùng một loại mặt hàng có phẩm chất và giá cả tương đương.
Tác dụng của C/O càng lớn hơn khi mặt hàng xuất khẩu thuộc danh mục hàng
hoá được miễn thuế hoàn toàn, bởi khi đó nhà xuất khẩu có điều kiện để đàm
phán nâng giá lên cao hơn.
b. Tác dụng của C/O đối với người nhập khẩu.
- C/O là căn cứ để làm thủ tục nhập khẩu. Nếu thiếu C/O, Cơ quan Hải
quan nước nhập khẩu sẽ không làm thủ tục nhập khẩu cho lô hàng hoặc sẽ tính
thuế nhập khẩu ở mức cao nhất đối với hàng hoá mà trên thực tế hàng hoá đó có
thể được giảm thuế, thậm chí là miễn thuế.
- C/O là cơ sở xác định xuất xứ phù hợp của sản phẩm cần nhập khẩu, là
cơ sở để nhà nhập khẩu chắc chắn rằng sản phẩm mà họ mua có xuất xứ từ
nước mà họ muốn. Nước xuất xứ của sản phẩm có ý nghĩa quan trọng đối với
nhà nhập khẩu bởi nó liên quan trực tiếp đến mục đích mua hàng của nhà nhập
khẩu.
- C/O là căn cứ để nhà nhập khẩu chứng minh không vi phạm những quy
định về xuất xứ hàng hoá nhập khẩu. Có quốc gia khi thực hiện chính sách
thương mại với quốc gia khác như cấm vận, cấm nhập khẩu các hàng hoá thuộc

xác định nguồn nhập chủ yếu của từng mặt hàng để từ đó có chế độ tính thuế
nhằm bảo vệ sản xuất trong nước.
3.3. Tác dụng của Giấy chứng nhận xuất xứ hàng hoá trong việc phát triển
kinh tế và quản lý chính sách ngoại thuơng đối với nước xuất khẩu và nước
nhập khẩu.
a. Tác dụng của C/O đối với nước xuất khẩu.
C/O là bằng chứng để hưởng ưu đãi thuế quan nếu nước xuất khẩu được
hưởng ưu đãi. C/O giúp các nước xuất khẩu tăng cường khả năng thâm nhập
hàng hoá vào thị trường nước nhập khẩu, từ đó hàng hoá của nước xuất khẩu
trở nên có sức cạnh tranh hơn so với hàng hoá cùng loại của nước không được
hưởng ưu đãi (các điều kiện khác là như nhau), tăng lợi nhuận xuất khẩu, tăng
nhanh tốc độ phát triển kinh tế.
b. Tác dụng của C/O đối với nước nhập khẩu.
C/O là cơ sở quan trọng để cơ quan chức năng có liên quan thực hiện
công tác thống kê ngoại thương, nắm tình hình nhập khẩu hàng hoá, thực hiện
hạn ngạch nhập khẩu sản phẩm có xuất xứ từ các nước được phân bổ, đánh giá
tình hình chất lượng hàng hoá nhập khẩu từ các nước, thị trường khác nhau,
xem xét sự tác động về mặt xã hội và vệ sinh môi trường của hàng hoá nhập
khẩu. Từ đó, nước nhập khẩu có biện pháp quản lý và xây dựng chính sách
nhập khẩu, biểu thuế thích hợp, chính sách xử lý môi trường để bảo vệ sức
khoẻ, an ninh…và xác định tiêu chuẩn chất lượng cho hàng hoá nhập khẩu từ
các nước khác nhau. C/O cấp cho hàng hoá được hưởng ưu đãi thuế quan là căn
cứ để Chính phủ nước cho hưởng nắm được tình hình thực hiện ưu đãi, xây
dựng và bổ sung kịp thời, có thể giữ nguyên chế độ ưu đãi hoặc cắt giảm bằng
những yêu cầu cao hơn về tiêu chuẩn để được cấp C/O phù hợp hoặc tuyên bố
cắt thẳng.
II. Các quy tắc xác định xuất xứ hàng hoá theo hiệp định quốc tế.
Quan hệ thương mại giữa các quốc gia trên thế giới càng phát triển thì
các quốc gia càng quan tâm đến xuất xứ hàng hoá để áp dụng các chế độ ưu đãi
theo các thoả thuận thương mại đặc biệt. Trên thế giới hiện nay có rất nhiều

lĩnh vực hải quan cũng đóng vai trò quan trọng và không thể tách rời khi xây
dựng một khu vực mậu dịch tự do.
Hiệp định CEPT được áp dụng với tất cả các sản phẩm chế tạo, kể cả sản
phẩm cơ bản và sản phẩm nông sản, ngoại trừ các sản phẩm được các nước đưa
vào Danh mục loại trừ hoàn toàn theo Điều 9 của Hiệp định (Theo Hiệp định
CRPT ban đầu, sản phẩm nông sản chưa chế biến sẽ được loại trừ ra khỏi
Chương trình CEPT. Tuy nhiên hiệp định CEPT sửa đổi năm 1994 đã quyết
định đưa tất cả các sản phẩm nông sản chưa chế biến vào Chương trình CEPT).
Để triển khai xây dựng nhanh chóng khu vực mậu dịch tự do ASEAN,
các nước thành viên bắt tay vào thực hiện chương trình CEPT. Các nước này đã
đệ trình danh mục các sản phẩm CEPT trong cuộc họp Hội đồng AFTA 4 tổ
chức tại Singapore ngày 06.10.1993. Danh mục các sản phẩm CEPT được đệ
trình bao gồm:
- Mô tả sản phẩm trên cơ sở mã Hệ thống Điều hoà HS.
- Danh mục các sản phẩm cắt giảm thuế, Danh mục loại trừ hoàn toàn và
Danh mục các sản phẩm nông sản chưa chế biến.
- Lịch trình giảm thuế theo chương trình giảm nhanh và giảm bình
thường tới năm 2008.
Theo danh mục đệ trình tại Hội nghị AFTA 4 có 41.147 mặt hàng chịu
thuế (Tariff line) trong Danh mục cắt giẳm thuế, chiếm 88,37% tổng số mặt
hàng chịu thuế của các nước thành viên; 3.321 mặt hàng chịu thuế trong Danh
mục loại trừ tạm thời, chiếm 6,85%; 476 mặt hàng chịu thuế trong Danh mục
loại trừ hoàn toàn và 1.675 mặt hàng chịu thuế trong danh mục hàng nông sản
của các nước và tỷ trọng của lượng các mặt hàng chịu thuế trong từng danh mục
của các nước và tỷ trọng từng danh mục với tổng số các mặt hàng chịu thuế
được đề cập tại bảng sau.

Bảng 1: Danh mục giảm thuế của các nước ASEAN.

Giảm nhanh Giảm thường Tổng số

- Thái Lan: 1.327 nhóm mặt hàng (HS - 6 chữ số)
Chương trình cắt giảm thuế nhanh được thiết lập nhằm cắt giảm thuế
nhanh chóng cho 15 mặt hàng thuộc 34 chương trong bảng HS đã được thông
qua tại hội nghị thượng đỉnh ASEAN lần thứ 4 bao gồm: xi măng, điện tử,
phân bón, sản phẩm da, bột giấy, dệt may, đá quý và kim hoàn, đồ đạc bằng
mây và gỗ, dầu thực vật, hoá chất, dược phẩm, đồ plastic, sản phẩm cao su, đồ
gốm và thuỷ tinh, catốt bằng đồng. Chương trình giảm thuế nhanh được áp
dụng cho những sản phẩm có thuế suất trên 20% (>20%) sẽ được giảm xuống
0 - 5% (01/01/2000). Những sản phẩm có thuế suất bằng hoặc dưới 20% sẽ
được giảm thuế xuống 0 - 5% trong vòng 5 năm (01/01/1998).
Chương trình giảm thuế bình thường được thiết lập cho việc giảm thuế
đối với các sản phẩm thuộc chương trình CEPT nhưng không thuộc 15 nhóm
sản phẩm nói trên.
Chương trình giảm thuế bình thường được áp dụng cho những sản phẩm
có thuế suất lớn hơn 20% (> 20%) sẽ được giảm qua hai giai đoạn: giai đoạn
đầu giảm xuống còn 20% trong 5 năm (01/01/1998) và tiếp tục giảm từ 20%
xuống còn 0 - 5% trong 5 năm tiếp theo (01/01/2003). Những sản phẩm có
thuế suất bằng hoặc dưới 20% (= < 20%) sẽ còn được giảm thuế xuống còn 0 -
5% trong 7 năm (01/01/2000). Chương trình giảm thuế bình thường của các
nước là khác nhau tuỳ thuộc vào tình hình của nước đó. Tuy nhiên những mặt
hàng chủ yếu trong danh mục này là hàng máy móc, thiết bị, thiết bị điện, sản
phẩm sắt và thép. Máy móc và dụng cụ cơ khí là nhóm hàng chiếm tỷ trọng lớn
trong danh mục hàng cắt giảm bình thường của tất cả các nước thành viên.
Tuy nhiên để được hưởng ưu đãi, sản phẩm của các nước thành viên
ASEAN nhập khẩu phải đảm bảo các điều kiện sau:
- Sản phẩm phải nằm trong danh mục cắt giảm thuế của cả nước nhập
khẩu và xuất khẩu (nguyên tắc có đi có lại) và phải có thuế suất bằng hoặc thấp
hơn 20%.


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status