ĐỀ ÁN
PHÁT TRIỂN CHẾ BIẾN VÀ XUẤT KHẨU THỦY SẢN NGHỆ AN
GIAI ĐOẠN 2006 - 2010
( Ban hành kèm theo Quyết định số: 82 /2006/ QĐ - UBND
ngày 22 tháng 8 năm 2006 của UBND tỉnh Nghệ An )
MỞ ĐẦU
Nền kinh tế của Việt Nam nói chung, kinh tế thủy sản nói riêng đang trong
quá trình hội nhập vào nền kinh tế khu vực và thế giới. Đây cũng là cơ hội rất lớn
cho hàng thủy sản Việt Nam xuất khẩu ra thị trường thế giới. Thị trường xuất khẩu
ngày càng được mở rộng, hàng thủy sản Việt nam tham gia vào một sân chơi bình
đẳng hơn. Tuy nhiên, quá trình này cũng đặt Ngành thuỷ sản trước những thách thức
không nhỏ phải cạnh tranh gay gắt, các hàng rào thương mại như các quy định về an
toàn vệ sinh thực phẩm ngày càng khắt khe, các vụ kiện chống bán phá giá dễ xẩy ra
hơn do chính sách bảo hộ của các nước lớn.
Trước bối cảnh đó, Ban Thường vụ Tỉnh ủy Nghệ An có Nghị quyết 01/ NQ -
TU ngày 26/12/2005 về Chương trình hành động triển khai thực hiện Nghị quyết Đại
hội Đảng bộ tỉnh lần thứ XVI, trong đó có Đề án Phát triển Chế biến và xuất khẩu
thủy sản thuộc chương trình phát triển kinh tế biển và ven biển.
Để thực hiện thắng lợi những mục tiêu về phát triển kinh tế thủy sản mà Nghị
quyết đề ra cần có chương trình phát triển chế biến và xuất khẩu thủy sản tới năm
2010 phù hợp với thực tiễn phát triển của Ngành trong thời kỳ mới nhằm đảm bảo sự
phát triển chế biến và xuất khẩu thủy sản gắn với khả năng và nguồn cung cấp
nguyên liệu, thực hiện công nghiệp hóa, hiện đại hóa, đáp ứng yêu cầu về an toàn vệ
sinh thực phẩm và thị hiếu của các thị trường, đưa sản xuất kinh doanh phát triển
một cách có hiệu quả và bền vững.
Những căn cứ để xây dựng đề án:
- Nghị quyết Đại hội Đảng bộ tỉnh Nghệ An lần thứ XVI, nhiệm kỳ
2006-2010;
- Nghị quyết số 01/NQ-TU ngày 26/ 12/ 2005 của Ban Thường vụ Tỉnh ủy
Nghệ An khóa XVI, về chương trình hành động triển khai thực hiện Nghị quyết
Đại hội Đảng bộ tỉnh lần thứ XVI;
những năm gần đây khá cao (bình quân hàng năm giai đoạn 2000 - 2005 đạt 17,3 %/
năm), trong đó nổi bật là sự phát triển vượt bậc của nghề nuôi tôm Sú. (Xem phụ lục
1: Kết quả đạt được của nghề nuôi thủy sản giai đoạn 2001-2005).
Năm 2005, sản lượng thủy sản nuôi đạt 18.000 tấn. Trong đó tập trung vào phát
triển nuôi các đối tượng có giá trị xuất khẩu và có khả năng về thị trường như: tôm
sú, cá rô phi đơn tính, cá giò.....Cụ thể:
1.1. Nhóm sản phẩm tôm:
Tôm sú là đối tượng nuôi chủ lực phục vụ xuất khẩu và nghề nuôi tôm sú phát
triển rất nhanh. Tính đến năm 2005 diện tích nuôi tôm thâm canh và bán thâm canh (
TC&BTC) là 800 ha, sản lượng đạt 1.500 tấn. Năng suất nuôi tôm bình quân toàn
tỉnh đạt gần 1tấn/ha; năng suất tôm thâm canh đạt 1,9 tấn/ha.
2
Tôm thẻ chân trắng đã du nhập vào nuôi trong tỉnh nhưng mới ở mức khảo
nghiệm, do vậy loài tôm này chưa có sản luợng cung cấp cho chế biến xuất khẩu
(CBXK).
1.2. Nhóm cá nước mặn:
Đã bước đầu quan tâm nhưng sản lượng chưa nhiều, chủ yếu tiêu thụ nội địa.
Đối tượng nuôi chủ yếu là cá giò, cá mú, cá vược..vv. Năm 2005 có 30 lồng nuôi
biển nhưng do ảnh hưởng của thiên tai (Bão lụt) nên phong trào nuôi biển phát triển
chưa mạnh, chưa tương xứng với tiềm năng. Theo số liệu điều tra, diện tích có khả
năng nuôi biển 1.300ha vì vậy nó có thể được xem là nguồn cung cấp nguyên liệu
cho chế biến và xuất khẩu. Hiện nay tỉnh ta đang có chủ trương quan tâm khôi phục
và phát triển nghề nuôi này.
1.3. Nhóm nhuyễn thể:
Đối tượng nuôi hiện nay trong tỉnh ta chủ yếu là ngao. Năm 2005, diện tích
nuôi ngao gần 100 ha, năng suất bình quân đạt 14 tấn/ha.
Tuy nhiên nghề nuôi ngao vẫn trong tình trạng nuôi quảng canh, nhỏ lẻ, dựa
vào nguồn giống tự nhiên là chính. Sản phẩm chủ yếu tiêu thụ nội địa.
1.4. Cá rô phi đơn tính:
Cá rô phi đơn tính là đối tượng nuôi nước ngọt có tiềm năng phục vụ xuất
năm), chủ yếu bán tươi, chế biến nội địa; cung cấp cho chế biến hàng xuất khẩu còn
ít.
Hiện nay, bằng việc hướng dẫn và phối hợp giữa chế biến, xuất khẩu với khai
thác hải sản, ngư dân đã chuyển dần từ việc khai thác theo số lượng sang những đối
tượng có giá trị xuất khẩu. Trong đó phải kể đến việc chuyển hướng sang nghề chụp
mực, rê mực, nghề câu cá hố... Trước tác động của giá nhiên liệu liên tục tăng trong
thời gian qua, nhiều tàu thuyền đã chuyển nghề khai thác tốn ít nhiên liệu và lựa
chọn đối tượng khai thác chất lượng cao và có giá trị xuất khẩu.
Nhiều loại cá trước đây không xuất khẩu được nay nhờ có thị trường và đổi
mới công nghệ chế biến, đổi mới quản lý an toàn vệ sinh mà trở thành đối tượng
khai thác có hiệu quả như: Cá hố, cá Bánh đường, cá Lưỡng còm và các loại cá tạp
thịt trắng khác ...
3. Bảo quản sau thu hoạch
- Vấn đề bảo quản sau thu hoạch đã ngày càng được quan tâm, nhất là đối với
các loại hải sản có giá trị xuất khẩu. Nhiều nơi ngư dân đã đầu tư trang bị dụng cụ
bảo quản lạnh trên tàu khai thác hải sản xa bờ nhằm mục đích giữ tươi nguyên liệu
khai thác được trong từng chuyến biển. Dịch vụ hậu cần nghề cá cũng phát triển,
nhiều cơ sở sản xuất đá lạnh được xây dựng cung cấp hảng nghìn tấn đá lạnh hàng
năm, cơ bản đáp ứng nhu cầu về bảo quản nguyên liệu của tàu khai thác. Tỷ trọng
sản phẩm xuất khẩu trong sản lượng khai thác đã tăng từ 6% năm 2001 lên 10% năm
2005. Tuy nhiên, ngoài các chủng loại nguyên liệu dùng để chế biến nước mắm và
các loại mắm khác được bảo quản bằng muối thì hầu hết các tàu thuyền đánh cá đều
dùng nước đá xay nhỏ để bảo quản sản phẩm, chưa có hệ thống thiết bị bảo quản
lạnh hiện đại trên tàu nên thời gian bảo quản ngắn, chất lượng nguyên liệu còn hạn
chế. Điều kiện về vệ sinh an toàn thực phẩm chưa được chú trọng nên tác động
không nhỏ đến chất lượng nguyên liệu.
- Nguyên liệu thủy sản đến nhà máy chế biến qua hệ thống các đại lý thu gom
trung gian nhiều nấc, nên ảnh hưởng không tốt đến chất lượng và yêu cầu về an toàn
vệ sinh thực phẩm. Mặc dù đã được các cơ quan chức năng tuyên truyền, kiểm tra
giám sát nhưng hiện tượng ngâm nước, dùng các hóa chất và phụ gia bảo quản
- Kim ngạch xuất khẩu năm 2005 đạt 16 triệu USD; Trong đó xuất chính ngạch
chiếm 5%; xuất tiểu ngạch đạt chiếm 95%.( Xem phụ lục 3: Kết quả đạt được của
nghành chế biến và xuất khẩu thủy sản giai đoạn 2001-2005).
Các cơ sở chế biến đã từng bước được nâng cấp, mở rộng và đầu tư theo chiều
sâu, làm đa dạng hóa sản phẩm, gia tăng tỷ trọng sản phẩm có giá trị cao, đảm bảo
chất lượng và cải tiến mẫu mã sản phẩm.
Nhà máy chế biến 38A đã được nâng cấp hoàn thiện, trang thiết bị tương đối
hiện đại cho phép sản xuất các sản phẩm đông lạnh chất lượng cao.Trước đây chủ
yếu sử dụng công nghệ đông tiếp xúc, tạo sản phẩm block với thời gian cấp đông
kéo dài từ 4-6h/mẻ, nay cơ sở đã nâng cấp và đầu tư mới dây chuyền IQF làm đông
nhanh với thời gian chỉ còn dưới 2h/mẻ. Đã áp dụng chương trình quản lý chất lượng
theo HACCP, đủ tiêu chuẩn xuất khẩu hàng vào thị trường EU, Mỹ và các thị trường
khó tính khác.
Nhà máy 38B thuộc Công ty xuất nhập khẩu thuỷ sản Nghệ An II bước đầu đã
được đầu tư để từng bước cải tiến, nâng cấp đồng bộ nhằm đảm bảo sản xuất ra sản
phẩm có chất lượng tốt. Nhà máy đang áp dụng chương trình quản lý chất lượng
5
theo HACCP, cố gắng phấn đấu đủ điều kiện được cấp Code xuất khẩu vào thị
trường EU.
Tốc độ tăng trưởng kim ngạch xuất khẩu chính ngạch trong thời gian gần đây
chững lại, nguyên nhân chủ yếu là máy móc thiết bị, nhà xưởng của các công ty chế
biến xuất nhập khẩu chưa được cải tiến, nâng cấp đồng bộ, nguồn tài chính eo hẹp,
năng lực cán bộ còn hạn chế; khả năng tiếp cận thị trường, trình độ công nhân còn
thấp. Bên cạnh do đặc thù về điều kiện tự nhiên và tính mùa vụ rõ rệt trong khai
thác, nuôi thủy sản nên tình trạng thiếu hụt nguyên liệu thường xuyên xảy ra. Do đó
vài năm gần đây các doanh nghiệp này làm ăn sa sút, làm mất đi vị thế đầu đàn của
mình.
Nhiều cơ sở chế biến tư nhân mới ra đời như Công ty Phương Mai và nhiều
hộ dân khác đã tham gia thu mua, chế biến nội địa và xuất khẩu tiểu nghạch. Cơ cấu
sản phẩm chế biến ngày một đa dạng và phong phú hơn. Nhiều mặt hàng mới đã
đề thị trường nước ngoài không được quan tâm đúng mức.
Riêng hàng thủy sản tươi sống; hàng thủy sản khô ở thị trường Trung quốc
vẫn được duy trì và phát triển.
4. Về thu hút lao động:
Trong những năm qua ngành chế biến đã thu hút được khá đông số lượng lao
động ở các địa phương, đặc biệt là ở các địa phương vùng biển. Tuy nhiên chất
lượng lao động nhìn chung còn quá thấp. Lao động phổ thông chiếm tỷ lệ trên 95%
tổng lao động thuỷ sản của toàn tỉnh; Lao động có trình độ từ trung cấp, cao đẳng,
đại học chiếm tỷ lệ thấp (dưới 5%), đội ngũ công nhân có trình độ tay nghề cao
chiếm tỷ lệ không nhiều trong tổng số lao động làm việc trong ngành chế biến thuỷ
sản, do đó hạn chế đến khả năng tiếp thu các tiến bộ khoa học công nghệ chế biến,
ảnh hưởng trực tiếp đến kết quả, hiệu quả sản xuất kinh doanh của các đơn vị.
III. VỀ ĐÀO TẠO.
Thời gian qua NAFIQAVED, VASEP đã thường xuyên tổ chức các khóa đào
tạo về GMP, SSOP, HACCP... cho đội ngũ cán bộ làm công tác quản lý chất lượng
sản phẩm cho hai công ty XNK thủy sản.
Các công ty CBXK đã tự tổ chức đào tạo về kiến thức an toàn vệ sinh thực
phẩm, quy trình công nghệ mới nhằm nâng cao tay nghề cho đội ngũ công nhân.
Trung tâm Khuyến ngư hàng năm đã tổ chức các lớp tập huấn về kỹ thuật chế
biến thủy sản, về kiến thức ATVSTPcho các cơ sở thu mua, chế biến thủy sản tư
nhân và hộ dân.
Tuy nhiên, nhìn chung công tác đào tạo còn chưa đáp ứng được yêu cầu đòi
hỏi ngày càng cao phục vụ cho nâng cao năng lực hội nhập đẩy nhanh tốc độ phát
triển chế biến và xuất khẩu thủy sản. Việc đào tạo cán bộ quản lý chất lượng
ATVSTP một cách bài bản cũng mới chỉ dừng ở các công ty XNK thủy sản; các
công ty CBTS nội địa chưa được quan tâm nhiều.
IV. VỀ KHOA HỌC CÔNG NGHỆ
Ngoài các hoạt động khoa học từ nguồn kinh phí nhà nước, các doanh nghiệp đã
đầu tư đổi mới công nghệ áp dụng kỹ thuật mới trong sản xuất từ sản xuất nguyên
liệu đến chế biến, bao gói, bảo quản sản phẩm để nâng cao chất lượng và độ an toàn
chiều rộng lẫn chiều sâu của các đơn vị này đang còn thấp.
b. Các loại hình tổ chức sản xuất khác:
Bên cạnh các công ty cổ phần hoạt động trong lĩnh vực chế biến thuỷ sản nội
địa thì chế biến thuỷ sản trong nhân dân chủ yếu là kinh tế hộ gia đình chiếm tỷ
trọng rất lớn trong tổng sản phẩm. Ngày càng nhiều doanh nghiệp tư nhân làm ăn có
hiệu quả và đầu tư lớn trong lĩnh vực chế biến thuỷ sản như doanh nghiệp tư nhân
Phương Mai; doanh nghiệp của anh Thâm (Quỳnh Lưu); doanh nghiệp của anh Sơn
ở Nghi Tân - Cửa Lò, một số cơ sở ở Diễn Bích (Diễn Châu). Các doanh nghiệp này
cùng với các loại hình tổ chức sản xuất phạm vi hộ gia đình đã đóng góp rất lớn vào
sự phát triển của ngành chế biến thuỷ sản tỉnh nhà trong những năm vừa qua.
Tuy nhiên, những năm gần đây các loại hình này còn manh mún, rời rạc,
thiếu tính chất cộng đồng nên tình trạng ô nhiễm môi trường dễ xảy ra, vấn đề quản
lý chất lượng sản phẩm gặp nhiều khó khăn.
VI. VỀ ĐẦU TƯ
Đã có đầu tư cho nuôi trồng, khai thác... góp phần tạo nguyên liệu cho chế
biến và xuất khẩu thủy sản. Hệ thống chợ cá được hình thành cùng với hệ thống
8
cảng cá, nhằm tạo điều kiện thuận lợi cho quá trình mua, bán nguyên liệu, hạn chế
khâu trung gian, nâng cao lợi ích của người sản xuất, đảm bảo chất lượng nguyên
liệu trước khi đưa vào chế biến nhưng chưa được khai thác tốt.
Cơ sở hạ tầng vùng NTTS được đầu tư khá, đã hoàn chỉnh khu nuôi tôm công
nghiệp Quỳnh Bảng với quy mô 90 ha và giá trị đầu tư gần 8 tỷ đồng; cơ sở hạ tầng
vùng NTTS thuộc các huyện (Quỳnh lưu, Diễn Châu, Nghi Lộc, Hưng Hoà, Hưng
Nguyên, Yên Thành....) tiếp tục được đầu tư đồng bộ và đã hình thành được một số
vùng nuôi tập trung đảm bảo đủ tiêu chuẩn ngành.
Các cơ sở chế biến nội địa không ngừng được đầu tư phát triển. Đầu tư mới
và đưa vào hoạt động 4 cơ sở chế biến bột cá với công suất 4000tấn sản
phẩm/năm(tương đương 16.000 tấn nguyên liệu); xây dựng mới 01 cơ sở chế biến
hàng thủy sản xuất khẩu và tiêu thụ nội địa sản phẩm khô với công suất
1.000tấn/năm.
và các tỉnh khác.
+ Trong giai đoạn xuất khẩu thủy sản gặp khó khăn, việc hình thành một thị
trường tiêu thụ nội địa đã mở ra một hướng mới, đóng góp một phần vào sự phát
triển kinh tế tinh nhà.
II. CÁC TỒN TẠI VÀ NGUYÊN NHÂN
- Tồn tai:
+ Việc đầu tư chiều sâu cho các cơ sở chế biến xuất khẩu còn chậm. Chẳng
hạn như Công ty XNKTS Nghệ An II với tổng vốn đầu tư 13 tỷ đồng theo kế hoạch
sẽ hoàn thành năm 2002 nhưng đến nay mới chỉ giải ngân 4tỷ.
Bên cạnh đó, việc xây dựng Nhà máy chế biến đông lạnh tại Diễn Châu không
được thực hiện như kế hoạch đã đề ra. Các cơ sở chế biến thủy sản tư nhân, chủ yếu
dựa vào nguồn vốn tự có, sản xuất mang tính thủ công, trang thiết bị cơ giới hóa
không có hoặc còn thiếu. Trong những năm qua việc đầu tư hỗ trợ cho các doanh
nghiệp nhỏ và vừa của tỉnh ta còn quá khiêm tốn. Thành phần chế biến ngoài quốc
doanh còn tủn mủn, nhỏ lẻ.
+ Các cơ sở chế biến thủy sản áp dụng hệ thống quản lý chất lượng tiên tiến,
đảm bảo an toàn vệ sinh thực phẩm và chất lượng sản phẩm xuất khẩu chưa phát huy
được khả năng hiện có của mình. Giá trị kim nghạch XKTS còn thấp, đặc biệt trong
xuất khẩu chính ngạch.
+ Các doanh nghiệp chế biến thủy sản trong tỉnh ta đang ở mức doanh nghiệp
nhỏ; Sản phẩm còn đơn điệu, bao bì mẫu mã kém hấp dẫn, chưa theo kịp với thị hiếu
của khách hàng. Tỷ trọng hàng chế biến GTGT chiếm rất ít trong tổng số sản phẩm.
Các doanh nghiệp chưa chủ động sản xuất các sản phẩm có tính tiện dụng cao đáp
ứng thị hiếu của người tiêu dùng, chưa có sản phẩm chủ lực. Do đó, sản phẩm thiếu
tính cạnh tranh.
+ Công tác quản lý an toàn vệ sinh mới chỉ tập trung thực hiện ở khu vực chế
biến chưa được thực hiện tốt ở khu vực sản xuất nguyên liệu và bảo quản sau thu
hoạch nên vẫn còn tình trạng ngâm nước nguyên liệu diễn ra nhiều nơi; Việc sử
dụng kháng sinh trong nuôi trồng, bảo quản nguyên liệu còn chưa được kiểm soát
tốt.
- Cạnh tranh về thủy sản trên thị trường ngày càng gay gắt, trong khi khả năng
cạnh tranh của hàng thủy sản của ta còn thấp, khả năng tự động hóa trong sản xuất
chưa cao, dẫn đến giá thành một số loại sản phẩm cao hơn so với mặt hàng cùng loại
của các doanh nghiệp trong nước.
- Tiềm năng về diện tích nuôi trồng thuỷ sản tỉnh nhà không lớn, công tác
chuyển đổi diện tích đất trồng lúa, làm màu, làm muối kém hiệu quả sang nuôi trồng
thuỷ sản gặp nhiều khó khăn. Qui mô các cơ sở nuôi thủy sản nhỏ, việc áp dụng các
công nghệ mới trong nuôi thủy sản còn nhiều bất cập, là những thách thức trước yêu
cầu đòi hỏi càng cao về chất lượng, ATVS thủy sản.
- Cơ sở vật chất phục vụ cho chế biến thuỷ sản quá cũ kỹ, công nghệ sản xuất
lạc hậu. Thiếu vốn phục vụ cho việc đổi mới trang thiết bị sản xuất kinh doanh. Chất
lượng lao động trong ngành chế biến thuỷ sản còn thấp hạn chế đến việc tiếp cận
các tiến bộ khoa học kỹ thuật tiên tiến vào sản xuất. Sản phẩm chủ yếu ở dạng sơ
chế, đông block không đáp ứng kịp so với xu hướng tiêu dùng hiện nay là sử dụng
các sản phẩm ăn liền, có giá trị gia tăng.
- Tình hình thiếu nguyên liện vẫn xảy ra. Nguyên nhân chủ yếu do nguồn
nguyên liệu từ khai thác càng ngày càng suy giảm, nguồn nguyên liệu tư nuôi trồng
mang tính thời vụ và dịch bệnh. Việc cạnh tranh thu mua nguyên liệu của các tỉnh
bạn cũng gây không ít khó khăn cho các doanh nghiệp của tỉnh ta.
11
- Các cơ chế chính sách khuyến khích phát triển chế biến thuỷ sản chưa đồng
bộ và kịp thời.
- Thị trường thế giới biến động bất thường, cạnh tranh lớn; các nước nhập
khẩu hàng thuỷ sản ngày đưa ra những rào cản về thuế quan, kỹ thuật ngày càng khắt
khe.
- Với yêu cầu hạ thấp mức thuế nhập khẩu thủy sản của WTO, cũng như của
các nước trong tiến trình hội nhập kinh tế, thủy sản Việt Nam sẽ phải cạnh tranh gay
gắt với sản phẩm thủy sản đến từ các nước, nhất là thủy sản của các nước trong khu
vực như Thái Lan, Trung Quốc...
- Các doanh nghiệp CBXK còn đang khó khăn về vốn, công nghệ và kinh
12
- Khả năng sản xuất nguyên liệu cho chế biến và xuất khẩu tiếp tục tăng do diện
tích và sản lượng nguyên liệu từ nuôi trồng, từ khai thác tăng lên trong thời gian tới.
- Kinh tế thủy sản là lĩnh vực kinh tế đang được Tỉnh quan tâm đầu tư phát triển
trong những năm tới thể hiện ở Nghị quyết Đại hội Đảng bộ tỉnh Nghệ An lần thứ
XVI.
- Sự hội nhập thương mại khu vực cũng như thế giới là điều kiện để chúng ta
tiếp cận với những thành tựu khoa học, công nghệ mới của thế giới về lĩnh vực thủy
sản, được hưởng sự ưu đãi hơn về thuế quan, phi thuế quan và những lợi ích về đối
xử công bằng, bình đảng hơn khi xảy ra tranh chấp thương mại.
II. MỤC TIÊU
1. Định hướng phát triển
- Tiếp tục đẩy mạnh phát triển công nghệ chế biến theo hướng công nghiệp
hoá, hiện đại hoá, nâng cao chất lượng, đa dạng hoá sản phẩm, giảm giá thành để
tăng khả năng cạnh tranh trên thị trường trong nước cũng như thị trường quốc tế,
phát triển ổn định và có hiệu quả.
- Hình thành các làng nghề, khu chế biến thuỷ sản tập trung, nâng cấp và hoàn
thiện các nhà máy chế biến; Phát triển các loại hình doanh nghiệp chế biến tương
xứng với tiềm năng thuỷ sản của từng vùng, từng địa phương.
- Phát triển chế biến thuỷ sản nằm trong tổng thể của kế hoạch phát triển kinh
tế xã hội nói chung, đảm bảo đáp ứng nhu cầu thực phẩm cho nhân dân.
2. Mục tiêu đến năm 2010
Trên tinh thần Nghị quyết 01/NQ-TU ngày 26 tháng 12 năm 2005 của Ban
Thường vụ Tỉnh uỷ trong đó có chương trình phát triển kinh tế biển và ven biển
Nghệ An giai đoạn 2006 – 2010, phấn đấu đến năm 2010:
- Giá trị chế biến hàng xuất khẩu thuỷ sản đạt 33 triệu USD.
- Sản xuất 18 triệu lít nước mắm trong đó có 10 triệu lít đạt chất lượng cao.
- Mắm các loại đạt 6.500 tấn.
- Sản xuất bột cá: 3.000 tấn thành phẩm.
. ( Xem phụ lục 4: Kế hoạch chế biến thủy sản đến năm 2010 ).