nghiªn cøu - trao ®æi
T¹p chÝ luËt häc sè 2/2011 9
TS. TRƯƠNG THỊ HỒNG HÀ*
hi nghiên cứu về tư tưởng lập hiến
hiện đại, các nhà khoa học thường đi
đến nhận định: “Các tư tưởng lập hiến hiện
đại đều coi hiến pháp như một văn bản có
sứ mệnh xác lập chế độ mới thay thế chế độ
cũ và coi nó như là một bản khế ước xã hội
của nhân dân”.
(1)
Ở Việt Nam, tư tưởng lập
hiến Việt Nam ra đời muộn hơn các tư
tưởng lập hiến trên thế giới nên có ưu thế là
vừa kế thừa tư tưởng lập hiến hiện đại lại
vừa thể hiện một cách sâu sắc xã hội Việt
Nam qua các thời kì lịch sử. Do đó, sự hình
thành, phát triển tư tưởng lập hiến Việt
Nam cũng có nhiều thăng trầm, gắn liền với
các cuộc cải cách chính trị, các cuộc cách
mạng đấu tranh giành độc lập dân tộc trong
nước và các phong trào giải phóng dân tộc
trên thế giới. Tư tưởng lập hiến của Việt
tưởng học hỏi, cầu thị rất tiến bộ:
“Gương Nhật Bản, đất Á Đông
Gương ta ta phải soi chung khỏi lầm”
“Lập hiến pháp từ đầu Minh Trị
Bốn mươi năm dân trí mở mang”.
(3)
“Tôi thiết tưởng nước ta từ xưa vẫn chưa
có Hiến pháp, nay lập bản Hiến pháp không
những là một sự hay, lại còn là một điều
cần. Thế nào cũng phải có Hiến pháp, lẽ ấy
tất nhiên”.
(4)
Theo Phan Bội Châu thì mô
K
* Giảng viên
Học viện chính trị-hành chính quốc gia Hồ Chí Minh
nghiªn cøu - trao ®æi
10 T¹p chÝ luËt häc sè 2/2011
hình Hiến pháp Việt Nam sẽ “châm chước
theo hiến pháp của các nước quân chủ như
Anh, nước Nhật; theo hiến pháp của các
nước Mỹ, nước Đức, nước Nga lại phải tùy
theo trình độ dân ta mà lựa chọn lấy những
điều thích hợp thì mới có thể gọi là hoàn
thiện được”.
đình mà trị một nước, thì cái nước ấy không
khác gì một đoàn chiên, được ấm no vui vẻ
hay là phải đói lạnh khổ sở, là tuỳ theo lòng
rộng hay hẹp của người chăn chiên. Còn
như theo cái chủ nghĩa dân trị, thì tự quốc
dân lập ra hiến pháp, luật lệ, đặt ra các cơ
quan để lo chung cho mọi người ".
(7)
Cùng
là xác định tầm quan trọng của hiến pháp
song tư tưởng lập hiến của Phan Châu Trinh
không giống với tư tưởng lập hiến của Phan
Bội Châu. Bởi lẽ, nếu như Phan Bội Châu
khẳng định đường lối đấu tranh giành độc
lập để ban hành bản hiến pháp thì Phan Châu
Trinh lại thể hiện tư tưởng dựa vào Pháp để
cầu tiến và tự trị. Do đó, trong tư tưởng của
mình, Phan Châu Trinh luôn khẳng định lấy
mẫu mực là nền dân chủ ở nước Pháp lúc
bấy giờ bởi ông cho rằng “nước pháp là một
nước đẻ ra dân quyền cho thế giới”, “nước
Pháp là một nước làm tiền đạo văn minh của
toàn cầu, nay hiện bảo hộ nước ta, mình
nhân đó mà học theo, chuyên tâm về mặt
khai trí trị sinh, các việc thực dụng, dân trí
đã mở rộng, trình độ ngày sẽ một cao, tức là
cái nền độc lập ngay sau ở đây”.
(8)
Theo
Phan Châu Trinh thì chế độ quân chủ lập
Kháng có sức sống mãnh liệt bởi nó được
khẳng định một cách rõ ràng nhất trong thực
tiễn nhu cầu về hiến pháp. Tuy nhiên, con
đường hình thành hiến pháp của Huỳnh
Thúc Kháng lại hết sức đặc biệt. Ông khẳng
định: “Chúng tôi sở dĩ nói đến vấn đề hiến
pháp là vì thấy rõ trong xứ Trung Kỳ này
phụ thuộc dưới quyền bảo hộ gần nửa thế kỉ
nay, mà chính thể trong xứ quyền hạn không
được rõ ràng, trách nhiệm không được đảm
thụ, trăm điều rắc rối bởi đó mà ra. Quốc thị
đã mơ màng thì nhân dân không biết đường
nào xu hướng, đó là cái lẽ tự nhiên. Bởi vậy,
để cho cuộc trị an trong xứ được lâu dài
cùng các dây liên lạc giữa người Pháp cùng
người Nam bền chặt thì cần thiết phải có
một cơ thể chính trị, chia bộ phận mà có
trách nhiệm, định quyền hạn mà có quy thức,
để chỉnh đốn việc lợi ích chung trong xứ. Đó
là một điều cốt yếu tức là Hiến pháp
vậy”.
(11)
Với tư tưởng đó, Huỳnh Thúc
Kháng đã khẳng định vai trò của hiến pháp
trong bài diễn văn đọc tại Viện dân biểu
Trung Kỳ: “Nhà nước mà cho hiến pháp là
một cái nền nếp chính trị bền vững lâu dài
trong xứ này, hợp với toàn thể ý nguyện
trong nhân dân”. Mặc dù Huỳnh Thúc
Kháng có nhiều quan điểm tiến bộ và có vị
cạnh tranh kịch liệt, ta phải nghĩ đến liên
hiệp các đoàn thể, cùng nhau định ra hiến
pháp mà vui vẻ làm tròn nghĩa vụ của quốc
dân để bảo vệ non sông tổ quốc”
(13)
và
“Hiến pháp quy định chế độ chính quyền:
chính thể lập hiến và chính thể cộng hoà.
Vua tôi nắm chính quyền nhưng cũng ở nghiªn cøu - trao ®æi
12 T¹p chÝ luËt häc sè 2/2011
trong phạm vi của hiến pháp. Nước ta thì
không có mục nào như thế”.
(14)
* Tư tưởng lập hiến của các tầng lớp trí
thức tân học
- Tư tưởng lập hiến của Nguyễn An Ninh
và Phan Văn Trường
Hai ông đều là trí thức từng học ở Pháp
và chịu ảnh hưởng của tư tưởng dân quyền
của Pháp, Nguyễn An Ninh và Phan Văn
Trường được nhắc đến là hình ảnh của
những nhà dân chủ. Trong tư tưởng lập hiến
của mình, các ông luôn thể hiện vị trí, vai trò
của hiến pháp trong việc đảm bảo các quyền
cơ bản của con người. Cả hai ông đều muốn
tranh thủ quyền tự do ngôn luận và nghề
được hình thành và thể hiện một cách rõ nét
từ Bản yêu sách của nhân dân An Nam gửi
đến Hội nghị Véc-xây vào đầu năm 1919 sau
này được phổ thơ với tựa đề Việt Nam yêu
cầu ca (1922):
“Bảy xin Hiến pháp ban hành
Trăm điều phải có thần linh pháp
quyền”.
(18)
Tiếp theo đó, trong Bản yêu sách gửi cho
Hội vạn quốc
(19)
vào ngày 30/8/1926 Người
đã khảng khái đề nghị: “Sắp xếp một nền
Hiến pháp về phương diện chính trị và xã
hội theo như những lí tưởng dân quyền; luật
kính trọng những cái thiểu số của chủng loại
(nghĩa là không xâm phạm đến những dân
tộc nhỏ như Lào, Cao Miên), biết tôn trọng
sự làm ăn, cốt để lập một nền Đông Dương
liên bang dân chủ”.
(20)
Tư tưởng lập hiến của Hồ Chí Minh rất
tiến bộ. Bởi lẽ, Người khẳng định mối tương
quan giữa hiến pháp và pháp quyền. Trong
đó hiến pháp bao giờ cũng là tiền đề cho sự
tồn tại của pháp quyền, còn pháp quyền là
nhu cầu để hiến pháp được tồn tại và có hiệu
Điều quan trọng trong tư tưởng lập hiến
của Hồ Chí Minh đó là Người khẳng định
trong nhà nước thuộc chế độ quân chủ chuyên
chế hay chế độ thực dân phong kiến thì hiến
pháp không thể có điều kiện để tồn tại. Chỉ
trong nhà nước dân chủ, các quyền công dân
được đảm bảo thì mới nảy sinh nhu cầu cần
có hiến pháp để thể hiện tinh thần dân chủ
đó. Do vậy, Nhà nước Việt Nam dân chủ cộng
hoà - một chính quyền non trẻ thì cho dù có
nhiều việc cấp bách cần phải làm thì lập hiến
phải được xem là nhiệm vụ hàng đầu.
Trong thực tiễn soạn thảo bản hiến pháp
đầu tiên của nước ta, Hồ Chí Minh đã nhấn
mạnh vai trò của nhân dân trong việc ra đời
hiến pháp. Đó là việc thu thập ý kiến của
nhân dân về dự thảo Hiến pháp được Hội
đồng Chính phủ thảo luận. Ngày 10/11/1945,
báo Cứu quốc đã đăng tải toàn văn dự thảo
Hiến pháp kèm theo thông cáo: “Muốn cho
tất cả nhân dân Việt Nam dự vào việc lập
hiến của nước nhà nên Chính phủ công bố
Bản dự án Hiến pháp này để mọi người đọc
kĩ càng và được tự do bàn bạc, phê bình…
Ủy ban dự thảo Hiến pháp sẽ tập trung các
đề nghị sửa đổi và ý kiến của nhân dân rồi
trình toàn quốc dân đại hội thảo luận”.
(22)
Sau Tổng tuyển cử gần 2 tháng, Quốc hội đã
đang có giá trị và ý nghĩa cho thời đại mới. nghiên cứu - trao đổi
14 Tạp chí luật học số 2/2011
b. T tng lp hin ca nhng nh lp
hin theo khuynh hng tho hip vi thc
dõn Phỏp
* T tng lp hin ca Nguyn Vn
Vnh (1882 - 1936)
Theo Nguyn Vn Vnh thỡ thc dõn tuy
cú hi nhng khụng hi bng phong kin
Bo h dự cha lm cho ta n cc im,
song t vi thi xa cng cũn hn gp trm
phn m li thờm c chỳt t do, hi nm
mựi dõn ch. K bo ngc cú n hip thỡ n
hip c a di m thụi, ngi no khụn
ngoan, cú hc thỡ k cng c hng t do
chng kộm chi ngi Lang-sa l my.
(24)
ng thi, t ụng Dng tp chớ cng rao
ging: Ngh trong by nhiờu l thỡ dõn ta
thi nay ch nờn gi ly mt ch ngha Phỏp
- Vit. May m ta c thy i phỏp thỡ c
m gi rit ly thy i Phỏp. Chuyờn m
lm n, dc chớ hc hnh. My th bn
nhón, xu cn, bt c, ta nờn b r ln
sụng.
(25)
ễng ó dựng nhiu li l phõn tớch, lun
gii v so sỏnh chớnh th cng ho vi hỡnh
thc quõn ch lp hin ang tn ti Anh
v Nht. Trong chớnh th quõn ch lp hin
m ụng bo v, ụng ó ch ra rng: Vua ch
l ngi ng lờn tha hnh bn hin phỏp
m chớnh nhõn dõn ton quc c triu
tp d tho v quyt nh. Nh th, chỳng
ta cú mt ch trng cu do ý dõn t to
cho mỡnh. Ch nh ch cng ho hay
dõn ch thỡ s mi ln sau bn nm cú thay
i tng thng thỡ phi thay i tt c lm
cho gung mỏy hnh chớnh trong nc phi
b xỏo trn trm trng.
(27)
Vi lp lun
nh vy, Phm Qunh cũn ch ra cỏch lp
hin cho nc Nam v nhu cu lp hin
ng trờn bỏo Nam Phong (6/1930) nh
sau: Cn phi lp ra cỏi hin phỏp khin
cho cú th t c mt Chớnh ph Vit
Nam chõn chớnh, hnh ng di quyn
kim soỏt ca bo h. Nh th thỡ quyn
quõn ch nc Nam sau ny khụng th l nghiên cứu - trao đổi
Tạp chí luật học số 2/2011 15
quõn ch chuyờn ch c na; phi l
quõn ch lp hin vy.
Chiờu v ng lp hin
Bựi Quang Chiờu v ng lp hin xỏc
nh ch ngha ca ng lp hin l Phỏp
- Vit u hu.
(30)
Do ú, t tng lp hin
ca Bựi Quang Chiờu l mt ngy xa xụi
no ú, ụng Dng s c nc Phỏp
ban cho mt quy ch ta nh quy ch t tr
c, Canada i vi nc Anh.
(31)
Vi t
tng ú, theo trng phỏi ci lng, ụn
ho, Bựi Quang Chiờu xỏc nh tm quan
trng ca hin phỏp liờn quan n vn
dõn ch song t tng lp hin ca ụng li
khụng thoỏt khi s bo h ca thc dõn. Do
ú, cho dự cú t tng tin b khi tip cn
n vn lp hin song thc cht, lp
trng chớnh tr ca h l ch ngha ci
lng nờn t tng lp hin ca Bựi Quang
Chiờu khụng c nhỡn nhn khớa cnh
thc t t c phớa ngi An Nam v c phớa
Phỏp. ỏnh giỏ v t tng lp hin ca
Phm Qunh v Bựi Quang Chiờu ó cú
nhn xột sau: Thc cht t tng ca Phm
Qunh v Bựi Quang Chiờu dự trỡnh by
cỏch ny hay cỏch khỏc, ngi ch trng
xoỏ b ch vua quan, ngi ch trng
thay th ch quõn ch chuyờn ch bng
Thứ ba, hiến pháp là cơ sở, nền tảng
pháp lí cơ bản để các cơ quan nhà nước thực
thi các nhiệm vụ, quyền hạn và công dân thụ
hưởng các quyền năng. Hiến pháp là sự bảo
hộ cho chế độ.
Thứ tư, tư tưởng lập hiến Việt Nam đều
khẳng định tính hiện đại, văn minh và tiên
tiến của hiến pháp tư sản, cho rằng đó là hiến
pháp có nhiều ưu điểm song khi vận dụng
vào điều kiện Việt Nam thì phải thể hiện bằng
được các đặc điểm của dân tộc Việt Nam.
Thứ năm, tư tưởng lập hiến Việt Nam
mặc dù có nhiều khuynh hướng khác nhau
song đều khẳng định một chân lí: Quyền con
người sẽ được đảm bảo nếu trong xã hội có
sự hiện diện của một bản hiến pháp dân chủ.
Thứ sáu, tư tưởng lập hiến Việt Nam thể
hiện sinh động, cụ thể và trực tiếp nhất
nguyên tắc hiến pháp trong Tuyên ngôn độc
lập “Tất cả các dân tộc trên thế giới đều sinh
ra bình đẳng, dân tộc nào cũng có quyền
sống, quyền sung sướng và quyền tự do”.
Thứ bảy, tư tưởng lập hiến Việt Nam
không tập trung theo một khuynh hướng
mà chia làm hai khuynh hướng chính song
đều tập trung và thống nhất trong nhận
thức là cần thiết phải có bản hiến pháp
mang tính dân chủ và để thể hiện là nhà
nước dân chủ.
b. Vấn đề sửa đổi Hiến pháp hiện hành
nghiên cứu - trao đổi
Tạp chí luật học số 2/2011 17
hin v sa i hin phỏp nht thit phi i
t phớa nhõn dõn mt cỏch trc tip. c
bit, khi chỳng ta ó cú cỏc cụng c h tr
(ch kớ in t) thỡ vic cỏc nhúm cụng dõn
kin ngh sa i hin phỏp l kh thi. Hn
th na, cn phi u t cho hot ng dõn
ch trc tip thụng qua hỡnh thc trng cu ý
dõn v sa i hin phỏp. Bờn cnh ú, cn
huy ng s tham gia nghiờn cu, so sỏnh v
rỳt ra bi hc kinh nghim ca cỏc nc
trong vic sa i hin phỏp song trỏnh
khuynh hng l thuc quỏ hoc ỏp dng rp
khuụn, c hc. Bi l, hin phỏp khụng n
thun l vn phỏp lớ m nú th hin kh
c xó hi ca cụng dõn, ũi hi Nh nc
phi ht sc chỳ ý khi t chc thc hin hin
phỏp vo i sng./.
(1).Xem: GS.TSKH. o Trớ c, Hin phỏp trong
i sng xó hi v quc gia, Tp chớ nghiờn cu lp
phỏp, s 8/2010.
(2). Nu xột v lch s, Phan Bi Chõu l ngi u
tiờn nờu vn lp hin thnh yờu cu bc xỳc
nc ta vo nm 1907 (theo Phan ng Thanh, T
tng lp hin Vit Nam u th k XX, Nxb. T
phỏp, H Ni, 2006, tr. 110).
Chớnh tr quc gia, H Ni, 2000, tr. 438.
(19). Cú kớ tờn ca Phan Bi Chõu, Phan Chõu Trinh
v Nguyn i Quc.
(20).Xem: Hi lut gia, Phỏp lớ phc v cỏch mng,
H Ni, 1975, tr. 278.
(21).Xem: H Chớ Minh, Ton tp, tp 4, Nxb. Chớnh
tr quc gia, H Ni, 2000, tr. 8.
(22). Vn phũng Quc hi, Lch s Quc hi Vit
Nam 1946 - 1960, Bỏo Cu quc, s ngy 10/11/1945.
(23).Xem: H Chớ Minh, Ton tp, tp 4, Nxb. Chớnh
tr quc gia, H Ni, 2000.
(24).Xem: Phm Th Ng, Vit Nam vn hc s gin
c tõn biờn, Tp 3, Quc hc tựng th xut bn, Si
Gũn, 1965, tr. 112.
(25).Xem: Phm Th Ng, Sd, tr. 499.
(26).Xem: Phm Qunh, c Bo i v nc,
Bỏo Nam Phong, 2 - 8, 1932, tr. 5.
(27).Xem: Lờ Thanh Cnh, Hi ký (bn ỏnh mỏy), trớch
theo Phan ng Thanh, T tng lp hin Vit Nam
u th k XX, Nxb. T phỏp, H Ni, 2006, tr. 183.
(28).Xem: Phm Qunh, Vn lp hin cho nc
An Nam, Bỏo Nam Phong, 151, 1930, tr. 532.
(29).Xem: Phm Qunh, Cõu chuyn lp hin, Bỏo
Nam Phong, 173, 559 - 569, 1932, tr. 567.
(30).Xem: Trn Vn Giu, Lc s thnh ph H
Chớ Minh, a chớ vn hoỏ thnh ph H Chớ Minh,
tp 1, Nxb. TP H Chớ Minh, 1987, tr. 288.
(31).Xem: Trn Vn Giu, Tld, tr. 288.